//
you're reading...
Bút ký, Chiến Tranh, Dịch Thuật, thời đã qua, Triệu Phong, về Lịch Sử, về Quê Hương

Ký giả mất tích Mike Langford và Sài Gòn thập niên ’60 (3) * Triệu Phong

GHI NHẬN CỦA HARVEY DRUMMOND

Lạc hậu chưa đúng chính xác để diễn tả cái ấn tượng của tôi lần đầu khi mới gặp Langford : nhưng ấy là cái gì đó gần như vậy. Theo tôi nó liên quan đến thái độ của anh đối với cô bar girl.

Nói về cái có tên gọi là Saigon Tea, thứ nước có màu, đựng trong cái cốc nhỏ xíu mà bạn phải bỏ tiền mua cho bar girl, mỗi lần như vậy với giá một đô rưỡi. Tuy nhiên mấy bar girls ấy không đáp lại cho bạn cái gì cả ngoại trừ được họ ngồi xuống chung bàn. Jim Feng và tôi thấy chuyện đó phi lý và không tán đồng. Jim thì ưa săn đuổi những phụ nữ Việt nào có triển vọng hơn, phải là người độc thân, còn tôi, kẻ lỗi thời diệu kỳ trong số các đặc phái viên, một người hạnh phúc đã có vợ – và mặc dù vợ tôi đang ở bên Singapore, tôi không tìm tiêu khiển nơi những nồi xác thịt ở đường Tự Do như thật nhiều đồng nghiệp của tôi đang sa vào. Đối với tôi bar girls là trụ ngạch ở hậu cảnh, và những sắc màu của nó sẽ hoán đổi từ cảm thuơng sang bi thương một khi cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn. Một vài cô tự xem mình là gái điếm trong khi một số khác thực sự không phải, mặc dù nhiều cô bạn có thể mướn ngoài giờ làm của họ ở quán, nếu bạn chịu chi cho họ một số tiền không phải nhỏ. Họ hãnh diện với tính cách không chuyên ấy của mình, điều đó khiến họ cảm thấy họ thuộc thành phần có đẳng cấp hơn, trong cái thành phố nay đang sống nương vào người Mỹ. Đa số các cô xuất thân từ vùng nông thôn, làng mạc họ có lẽ bị bom tàn phá hoặc bị đốt, và gia đình họ hoặc bị chết hoặc đang sống trong những khu ổ chuột ở ven đô thành Sài Gòn. Tuy nhiên có một số lại xuất thân từ những gia đình một thời giàu có nhưng bị cuộc chiến quét đi hết sản nghiệp.

Một cô tuột xuống khỏi chiếc ghế cao rồi đi vòng về phía Langford, chắc cô chú ý anh là ma mới ở đây. Cô nàng thuộc típ bar girl đài các, cô mặc chiếc áo khoác màu xanh lục bảo, phủ lên trên chiếc mini jupe bằng da giả.

“Nếu anh mua cho em Saigon Tea, em sẽ ngồi xuống nói chuyện cho vui, chịu không.” vừa nói cô vừa ban cho anh một nụ cười quyến rũ.

“Đêm nay thì không được đâu, cám ơn em,” Langford đáp. “Để lần khác đi nhé.” Anh vui vẻ cáo lỗi một cách lịch thiệp, giọng anh dịu dàng.

Nụ cười của cô gái liền chợt tắt và thay bằng một cái bĩu môi. “Đ.M. Mầy là đồ rẻ tiền,” vừa nói cô nàng vừa tà tà đi trở lại phía đám bạn, tay đong đưa cái ví nhỏ.

Jim và tôi cười thành tiếng; thắc mắc làm gì, đó là một trong những cách ứng đối tiêu biểu của họ. Về phần Langford, anh đứng nhìn trân theo cô gái, không hề nhếch miệng cười. Khuôn mặt anh luôn luôn điềm đạm, và bây giờ vẫn trong trạng thái ấy, nhưng tôi bắt được một thoáng biểu hiện của sự thu hút đồng thời với sự bối rối. Thật sự tôi không đọc được ý nghĩ ấy nhưng từ khi biết anh ta hơn, tôi hiểu được sau khi hồi tưởng lại. Tôi cam đoan anh nhìn cô nàng như một thiếu nữ bị sa cơ lỡ vận, kẻ mà anh nghĩ phải làm cái gì đó – cũng như anh đã quyết định phải làm cái gì đó đối với tụi trẻ đứng đường hay quanh quẩn trước khách sạn Continental Palace, kể cả con bé bán hoa chân bị tật. Chuyện khởi sự vào ngay đêm đầu tiên ấy.

Nhưng rồi tôi quên phức đi chuyện nầy, khi Jim và tôi bắt đầu lo điền cho anh ta vào công việc ở đây.

Dmitri Volkov đang sắp đến, và gã cần chuẩn bị một tí cho – nói một cách đặc biệt là vì hãng gã phục vụ thuộc phía đối nghịch. Gã làm việc cho đài truyền hình CBS của Mỹ. Gã và Jim Feng luôn tranh giành nhau bản tin đặc biệt bất kỳ khi nào có thể, mà tình cảm giữa họ không hề sứt mẻ; ngoài giờ làm việc họ vẫn là bạn chơi thân với nhau. Chuyện ấy xảy ra với mọi cameraman.

Đối với Jim mà với tôi cũng thế, khi tôi thực hiện kịch bản phim chúng tôi cùng làm cho ABS, đó quả là một sự cạnh tranh bất tương xứng mà đối thủ là người Mỹ. Hệ thống truyền thông Mỹ cấp cho cameramen của họ ở Sài Gòn được đủ các thuận lợi mà Telenews lẫn ABS phía chúng tôi không thể nào bì kịp. CBS và NBC có tổng hành dinh đặt trong thành phố với mọi tiện nghi xa hoa, khiến Telenews trông quá nghèo nàn. CBS choán hết phân nửa một tầng lầu của Caravelle, cái khách sạn cao tầng và tân thời đối diện với Continental cũ xưa – và được biết họ bao thuê mọi máy bay ở Sài Gòn để đánh gục đối phương hầu tranh thực hiện những cuộc ghi hình. Họ lại còn được sự cộng tác của quân đội Mỹ, giúp họ chuyển phim qua Tokyo và Bangkok, quá giang theo với thương binh trên các chuyến bay tải thương. Giờ thì chúng tôi xuôi tay rồi, đó là thực tế của cuộc đời cũng như thời tiết nắng mưa hoặc sống là phải trả thuế, và chúng tôi giải thích điều ấy với Mike.

“Bởi thế tụi Mỹ có thể giành mất tin nóng của chúng tớ bất cứ khi nào,” gã nói, vẻ tư lự.

“Chớ có lo,” Jim nói với gã. “Tin vui là chúng ta xuất hiện ở tột đỉnh khi nào bắt được những mẩu tin mà tụi Mỹ bỏ sót.”

Tới thời điểm này thì Volkov bước vào.

Gã vẫn trong bộ đồ trận dơ dáy và trông thờ thẫn : rõ ràng gã vừa từ Tân Sơn Nhứt thẳng xuống, dừng đây chỉ để giao phim và dụng cụ cho văn phòng CBS. Gã chọn chiếc ghế cao giữa Mike và Jim Feng, và gã phải hơi ngước nhìn lên phía Langford khi họ bắt tay nhau, vì gã nhỏ con hơn. Điều ấy và sự kiện rằng biết Mike là người cạnh tranh nghề nghiệp khiến Dmitry có vẻ không mấy hào hứng, hơn nữa mặt gã đang gần như chết trân.

Sau khi được biết Mike từ đâu đến, gã nói : “Từ Tasmania à? Chúa ơi, ở đó mà cũng có người sinh sống sao?”

Langford chẳng nói chẳng rằng. Anh chỉ mỉm cười thật dễ thương, nhìn Volkov bằng cái nhìn ngái ngủ vốn có của mình, như thể đang trông chờ điều gì; và Volkov nhìn trả lại. Họ đang đánh hơi nhau như loài chó.

“Nào, Bá Tước,” Jim nói. “Nạp một chút rượu rồi tỏ ra thân thiện với đối thủ cạnh tranh của mình đi nào.” Vừa nói gã vừa ra hiệu cho barman.

Volkov không khoái nghe gọi mình bằng “Bá Tước.” Nhưng vì gã có lần lỡ xì ra rằng ông nội gã, người mang cả gia đình ra khỏi nước Nga, sang Paris, sau cuộc cách mạng của Bolshevik, đã một thời là ngài Bá Tước Volkov, và chúng tôi coi như cha gã cũng thừa hưởng tước vị đó nếu không bị lịch sử chen vào. Vì thế chúng tôi quyết định rằng rồi ra thì Dmitri cũng được kế tục nốt. Dmitri khớp với ý tưởng của chúng tôi về một nhà quí tộc Nga: gầy, tóc vàng, nhỏ con, với đôi mắt màu xanh nhạt của giống dân Thổ Tartar sống ở Nga và với một hàm ria mép nhỏ kiểu nhà binh. Dẫu trông mảnh khảnh nhưng gã cũng cứng cát như mọi phóng viên chiến tranh cần phải có vào thời đó, khi đồ nghề họ phải khiêng vác, nặng đến ná thở.

Uýt ki của Dmitri được mang đến, gã ngồi chống tay lên quầy, rồi bắt đầu đặt Langford một tràng những câu hỏi như qua một kỳ thi trắc nghiệm. Nào là kinh nghiệm nào anh có được về nghề phóng viên ảnh? Anh làm cho tờ báo nào? Anh nghĩ gì về tường thuật cuộc chiến hiện nay trên hệ thống truyền hình? Vốn liếng Anh ngữ Dmitri có được từ hồi còn tuổi thiếu niên vào thời hậu chiến ở Paris – kể cũng khá nhưng nhiều lỗi. Ví dụ cách xử dụng mạo tự hữu định có khuynh hướng cho nó xuất hiện ở nơi không đúng chỗ, nhưng lại vắng bóng ở nơi nên có mặt. Gã xài giấy thông hành của Pháp nhưng đôi khi gã bị người ta nhầm lẫn là người Mỹ vì cách phát âm của mình. Gã thường thêm âm Mỹ vào khi làm việc cho một tờ báo ở New York.

Langford trả lời hết các câu hỏi của gã một cách vui vẻ. Nhưng cái lối nhìn chằm chằm của sắc dân Tartar nơi Dmitri vẫn không tỏ một chút rung động nào.

“Được rồi, tốt lắm anh bạn.” gã nói. “Anh sắp cần đến nó, chuyện đương nhiên, làm việc cho người Anh ngân sách thật phủ phê.”

Langford khẽ nghiêng đầu. Giờ đến lượt anh quan sát gã Bá Tước từ đầu đến chân. “Chúa ơi, tôi có thể thấy được là tôi nên bắt đầu lo là vừa,” Langford nói. “Làm sao tôi có thể tranh giành tin với một gã trông giống như (tài tử người Úc) Errol Flynn?”

Anh liếc sang phía Jim và tôi và nháy mắt. Đó là cách mà người Úc vùng thôn quê kết thúc câu chuyện mà không để lại chút ác ý nào; nhưng tôi thấy ngay rằng Volkov không hiểu ý nên tôi quyết định lái sự chú ý của gã sang hướng khác. Tâm trạng của Dmitri luôn luôn lên xuống nhiều lần, tính chất nổi tiếng của người Nga nó như vậy, nhưng tinh thần hưng phấn thường trổi hơn cả, và tôi bắt đầu nhận thấy đêm nay gã có điều gì bất an. Vì được biết gã vừa mới lên Cao Nguyên Trung Phần trong mấy ngày vừa qua nên tôi hỏi thăm gã sự việc trên đó như thế nào.

Gã lắc đầu, đốt một điếu thuốc rồi nhăn mặt nhả khói ra qua kẽ răng. “Chẳng có gì vui lắm, Harvey à,” gã đáp.

Tôi hỏi thêm rằng gã đã đi những đâu.

“Quốc Lộ 19,” Volkov nói. “Nơi đó có xảy ra một cuộc phục kích tại đèo Mang Yang, giữa Qui Nhơn với Pleiku. VC tính tiêu diệt hết cả đoàn công voa chở lính Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB).”

“Anh có mặt ở đấy hả Bá Tước?” Jim Feng xoay người qua, đột nhiên có vẻ rất quan tâm; ngay trong ánh sáng lờ mờ tôi có thể thấy cách nhìn có vẻ háu đói của gã.

“Tớ không có mặt khi sự kiện xảy ra cưng à, nếu có chăng thì giờ này tớ đâu còn sống mà ngồi đây,” Volkov nói. “Tớ đang ở dưới vùng duyên hải Qui Nhơn, từ đó quá giang máy bay trực thăng lên một tiền đồn mới của toán A-Team của LLĐB ở An Khê, gần đèo Mang Yang. Đến nơi thì vừa nhận được tin về vụ phục kích. Vì thế tôi thẳng ngay đến hiện trường bằng xe Jeep.” Gã kéo một hơi thuốc, mắt nhìn lơ đãng về phía mấy bar girls. “Đúng là một lò sát sinh James à. Hai Mỹ chết cùng với nhiều lính người Thượng. Lúc từ đó trở về, VC còn đùa với chúng tôi bằng những phát súng bắn sẻ.”

Thêm uýt-ki được mang đến. Volkov đẩy một ly sang phía Langford mà không nhìn đến anh, cử chỉ chẳng có vẻ gì thân thiện mà cũng chẳng có gì là không thân thiết.

“Hên. Bạn luôn luôn gặp hên Bá Tước,” Jim Feng nói. “Vậy có gì không ổn sao? Có thu hình được gì không?”

“Tôi thu được hình hoàn hảo, James ạ. Nhưng tôi mất hứng thú khi ngắm nhìn tử thi mấy chàng biệt kích Mũ Xanh với ngọc hoàn của họ bị nhét vào trong mồm.”

Một giây phút im lặng ngắn ngủi trôi qua, bấy giờ tôi để ý thấy câu chuyện của Volkov bị một gã phái viên Anh nghe lóm được và đang bắt đầu nhích lại phía chúng tôi. Thì ra đây là người của tờ Manchester Guardian mà tôi đã từng chạm mặt vài lần, nhưng mấy người khác thì chưa từng biết đến gã. Tên gã là Trevor Griffiths, người xứ Welsh nước Anh. Gã có vóc dáng của dân từng chơi môn bóng bầu dục, da dẻ trắng bệch trông không lành mạnh cho lắm. Trevor coi bộ mắc một chứng bệnh bí ẩn nào đó khiến gã cũng để râu lún phún như lão Richard Nixon (… and it also caused him to have a five o’clock shadow like Richard Nixon’s), một tương đồng mà tôi ưa quan sát, bởi gã là kẻ say mê với khuynh hướng tả phái.

“Nghe qua có vẻ như một tình huống kinh tởm ban cho mấy anh bạn chúng ta bên LLĐB,” gã đắn đo nhận xét, giọng chắc nịch, phảng phất giống giọng của các xướng ngôn viên đài BBC, cộng thêm một tí âm vực của người xứ Welsh.

Volkov nhìn gã. “Kinh tởm chỉ là một cách để nói thôi, anh bạn.”

“Nhưng theo tôi cũng phần nào thích đáng,” Griffiths nói.

“Cái gì?” Volkov hỏi.

“Thích đáng,” Griffiths lập lại. Gã xoay người, có vẻ hơi say, giọng nói vang vang hơn. “Chỉ là cái thứ định mệnh khiến cho mấy gã cao bồi ấy hiểu biết hơn về chuyện mà họ đang xía vào.”

“Nói chính xác như vậy nghĩa là làm sao?” Volkov lại hỏi.

“Một cuộc chiến tranh giải phóng có mắc mớ gì đến họ đâu,” Griffiths đáp. “Một cuộc chiến mà John Wayne cũng không thắng nổi.”

Volkov cười. Đôi khi gã có một nụ cười khá kỳ bí. “Bạn có biết bạn nói quấy điều gì không, Limey?” (Limey là tiếng lóng người Mỹ muốn nói về người Anh. tp)

“Không anh bạn Mỹ (từ lóng : Yank). Tôi có gì quấy?”

“Anh đã để vuột mất cả một Đế Quốc đẫm máu. Đó là lý do vì sao anh ghét người Mỹ, kẻ điền vào chỗ ấy của anh. Nhưng chuyện ấy chẳng liên quan gì đến tôi; cái thứ chính trị cặn bã của anh tôi chẳng màng đến. Điều tôi quan tâm là anh chẳng hề tỏ chút thương cảm cho những chàng trai mà thân thể họ bị băm vằm như thế. Có lẽ trứng dái của anh cũng nên được tống vào mồm của chính anh luôn.”

Volkov tuột xuống khỏi ghế, tay giang xòe ra.

Griffiths bước lùi một bước, nhíu mày nhìn Volkov vẻ kinh ngạc. Một số lính Mỹ ngồi gần đó bắt đầu quay lại như bắt mùi sắp có một cuộc tỉ thí. Nhưng Jim Feng đã vội đặt tay lên vai Volkov.

“Nào, Bá Tước, bạn không thể so tài với hắn ở đây được. Trong này chật chội quá mà.” Jim chồm sang phía Griffiths, nói nhỏ. “Nếu tôi là bạn tôi sẽ rút đi chỗ khác. Anh ta đang qua cơn quá xúc động. Bỏ qua đi tám.”

Griffiths đặt ly rượu xuống quầy, môi mím lại, mặt trông càng trắng hơn. “Tôi hiểu rồi,” gã nói. “Tôi trả gã lại cho bạn đấy. Tôi chẳng uống với chung với kẻ loạn thần kinh đâu.”

Nhìn theo Griffiths đang bỏ đi, Volkov bắt đầu cười thành tiếng. Gã leo trở lại ghế, dùng lưng bàn tay quẹt lên mắt. “Mua cho tớ một chầu uýt-ki đi,” gã nói với Jim. “Bạn vừa phỉnh gạt để ngăn không cho tớ xử hắn đấy nhé, James.”

(Đón xem tiếp kỳ sau)

(Trở lại kỳ trước)

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: