//
you're reading...
chuyện kinh dị, Triệu Phong, Truyện Dịch, Vũ Hán 400

Vũ Hán-400 (kỳ 33) * Dean Koontz * Triệu Phong chuyển ngữ

 

 

 

 

dean koontz' book

 

CHƯƠNG HAI MƯƠI LĂM

Ở Reno, nơi tự quảng cáo là “Thành Phố Nhỏ Vào Hạng Lớn Nhất Thế Giới,” (The Biggest Little City in the World) lúc về đêm nhiệt độ rớt xuống còn 21 độ F, tức -9 độ C. Trên vùng ánh sáng tỏa xuống bãi đậu xe phủ băng giá của phi trường, bầu trời không trăng không sao hoàn toàn tối đen. Tuyết nhảy múa trước những đợt gió luôn thay đổi.

Elliot mừng vì họ đã mua được một cặp áo choàng dày trước khi bay khỏi Las Vegas. Chàng ước chi hồi ấy nhớ mua thêm mấy cặp găng để bây giờ đôi tay khỏi bị tê cóng. Chàng ném cái va-li độc nhất vào thùng sau chiếc Chevrolet mới thuê. Trong không khí lạnh lẽo, những cụm khói trắng do khí thải từ động cơ xe thoát ra bay quyện quanh hai chân. Chàng đóng nắp thùng xe và quan sát những chiếc xe phủ đầy tuyết đậu trong bãi xe. Chàng không thấy ai ngồi trong những chiếc xe ấy cả và yên chí là không bị ai theo dõi.

Lúc mới đáp xuống, họ cảnh giác đối với mọi hoạt động bất thường trên phi đạo, trong bãi đậu riêng dành cho máy bay nhỏ, ở những chiếc xe khả nghi, con số bất thường các nhân viên làm việc trên mặt đất, nhưng rồi ra họ không thấy gì ngoài sự bình thường. Rồi khi chàng ký nhận chiếc xe mới thuê và chìa khóa xe từ nhân viên phục vụ, chàng không quên giữ một tay trong túi áo choàng, nắm chặt khẩu súng mà chàng tước được từ gã Vince ở Las Vegas, nhưng rồi cũng không có rắc rối nào xảy ra. Có lẽ phi trình giả chàng nộp đã khiến cho bầy chó săn lạc mất lối. Chàng bước qua phía cửa tài xế rồi ngồi vào trong chiếc Chevy, trong khi Tina loay hoay điều chỉnh hệ thống máy sưởi.

“Máu em đang đông thành đá,” nàng nói.

Elliot đưa tay trước chỗ khí thoát. “Chúng ta có chút hơi ấm rồi.”

Chàng lấy súng ra khỏi áo choàng rồi đặt lên chỗ giữa chàng và Tina, mũi súng có gắn ống hãm thanh hướng về phía trước.

“Anh nghĩ là mình nên gặp Bellicosti vào giờ này sao ?” Nàng hỏi.

“Ừ, Dù sao cũng chưa đến nổi khuya lắm.”

Nhìn vào cuốn điện thoại niên giám, Tina tìm thấy địa chỉ của nhà quàn Luciano Bellicosti Funeral Home. Nhân viên trực đêm của công ty cho mướn xe biết rõ địa điểm của Bellicosti, gã vạch lên tấm bản đồ vùng địa phương, vốn tặng không cho khách thuê xe, con đường ngắn nhất để đến đó.

Elliot bật đèn trần xe để nghiên cứu bản đồ, xong trao lại cho Tina và nói, “Anh nghĩ là có thể tìm đến đó không chút vấn đề. Nhưng lỡ anh có chạy lạc thì em là người chỉ đường nghe.”

“Tuân lệnh thuyền trưởng.”

Chàng tắt đèn trên đầu rồi cho xe vào số. Với một tiếng tách xa xăm, ánh đèn chàng mới vừa tắt bây giờ sáng trở lại. Chàng nhìn Tina, hai mắt gặp nhau. Chàng bật tắt một lần nữa nhưng nó lại lập tức bật sáng lên. Radio trong xe cũng tự động bật mở, các con số digital nhảy liên tục khi máy thu thanh quét nhanh qua các đài. Tiếng nhạc, tiếng quảng cáo, tiếng người nói vang vang inh tai.

“Chính Danny đó,” Tina nói.

Cái gạt nước quẹt mạnh hết tốc độ hòa nhịp với cái hổn loạn trong chiếc Chevy.

Đèn trước cũng chớp tắt nhanh đến nỗi chúng tạo một hiệu ứng chớp lóe khiến những bông tuyết đang rơi nhìn như đang trong một chuyển động chậm. Không khí trong xe trở nên lạnh hết sức nhanh. Elliot đưa bàn tay phải tới trước chỗ khí thoát từ máy sưởi, hơi ấm vẫn còn tỏa ra nhưng khí lạnh trong xe cứ tiếp tục hạ dần. Tina cười một cách khoái chí. Tiếng cười của nàng làm Elliot ngạc nhiên nhưng rồi chàng phải chấp nhận rằng trò quái dị ấy xem ra chẳng có gì đáng sợ. Ngược lại nữa là khác. Chàng cảm thấy mình đang chứng kiến một sự biểu lộ niềm vui, một sự chào mừng nồng nhiệt, sự chào đón sôi nổi của một con ma trẻ con.

Tina nói, “Tụi mẹ đang đến đây, Danny. Con yêu quí có nghe được tiếng mẹ nói không. Tụi mẹ đang đến tìm gặp con đây. Tụi mẹ đang đến đây.”

Đến đó thì tiếng radio vụt tắt, đèn trên trần xe cũng vậy. Cái gạt nước không còn quay. Đèn trước cũng tắt ngúm luôn. Rồi sự tĩnh lặng trở về. Im lặng. Những bông tuyết va nhẹ vào kiếng trước. Bên trong xe, không khí ấm trở lại.

Elliot hỏi, “Tại sao không khí trở nên lạnh mỗi khi nó vận dụng … phép ngoại cảm ?”

“Làm sao mà biết được. Có thể nó vận dụng phép thuật nhờ hấp thụ nhiệt năng trong không khí. Có thể ngay chính nó cũng không hiểu được tại sao. Nói chung thì điều đó chẳng có chi quan trọng. Điều quan trọng là Danny vẫn còn sống. Không có gì phải nghi ngờ nữa. Anh bây giờ cũng tin luôn phải không.”

“Phải,” Elliot nói, mặc dù hơi chút ngạc nhiên vì sự thay đổi suy nghĩ của mình. “Anh tin là em nói đúng.”

“Em biết mà.”

“Có điều lạ thường xảy ra đối với đoàn hướng đạo sinh, đặc biệt là đối với con trai em.”

“Nhưng ít nhất là nó chưa chết,” Tina nói.

Elliot nhìn những giọt nước mắt sung sướng sáng ngời nơi đôi mắt nàng.

“Ê,” chàng ái ngại nói, “tốt nhất là hãy bám chắc hy vọng của em. Đường còn dài đó. Hiện chúng ta chưa biết Danny đang ở đâu cũng như tình trạng nó ra thế nào. Chúng ta phải vượt qua một cuộc thách thức cam go trước khi tìm được Danny và đưa nó về an toàn. Cũng có thể chúng ta sẽ bị giết trước khi tiếp cận được với nó.”

Elliot lái xe ra khỏi phi trường. Tới giờ phút đó, chàng không thấy ai theo dõi mình.

 

CHƯƠNG HAI MƯƠI SÁU

Chịu đựng với nỗi sợ do cảm thấy như đang sống trong tình trạng bị giam cầm, Bs Carlton Dombey có cảm tưởng như bị nuốt sống và giờ đây mắc kẹt trong nội tạng của con quỉ.

Sâu hút bên trong khu phức hợp Sierra, ở tầng thứ ba ngầm dưới mặt đất, căn phòng này có kích thước bề mười ba mét, bề bảy mét. Trần nhà thấp lót bằng chất liệu xốp, cách âm, màu vàng nhạt. Các ngọn đèn nê-ông tỏa thứ ánh sáng lạnh lên dãy computer và trên những bàn làm việc chất đầy những tập san, biểu đồ, tập hồ sơ, dụng cụ khoa học, và hai tách cà phê. Ở giữa bức tường bên phía Tây, một trong hai bức tường ngắn hơn trong bốn bức tường, đối diện với lối vào của căn phòng, là một khung cửa sổ bề hai mét bề một mét. Khung cửa nầy nhìn qua một không gian khác, nơi chỉ lớn bằng nửa căn phòng ngoài này. Khung cửa sổ được cấu trúc như một miếng săn-uých, với hai tấm kiếng không vỡ dày 2.5 cm, ngăn giữa một khoảng trống cùng bề dày, được bơm đầy một loại khí trơ. Khung cửa sổ được thiết kế có thể chịu đựng được mọi thứ từ súng đạn cho đến động đất. Nói chung là không thể xâm nhập được. Đối với những người đàn ông làm việc ở căn phòng lớn, điều quan trọng là phải bảo đảm rằng họ phải luôn luôn có thể nhìn thấy rõ được bên trong căn phòng nhỏ. Do vậy người ta thiết kế bốn chỗ thoát hơi từ trên trần của cả hai phòng, liên tục thổi ra một luồng khí khô và ấm để mặt kiếng trên ô cửa sổ không bị che mờ vì hơi ẩm. Tuy nhiên vào giờ này, hệ thống thổi lại không hoạt động, hết ba phần tư bề mặt của tấm kiếng cửa sổ đang bị phủ bằng lớp băng mỏng.

Bs Carlton Dombey, một người có mái tóc quăn và bộ râu mép rậm, đứng cạnh khung cửa sổ, chà bàn tay âm ẩm của mình lên bộ áo choàng trắng, lo ngại nhìn xuyên qua một trong vài chỗ chưa bị đông giá trên mặt kiếng. Mặc dù cố xua đuổi nỗi sợ do cảm thấy như đang sống trong tình trạng bị giam cầm, ông cố giả vờ tin rằng cái trần nhà thấp này sẽ không đè xuống đầu, rằng bên trên chỗ ông đang đứng là bầu trời cao và xanh, thay vì hằng ngàn tấn khối đá, bê tông và thép. Nhưng nỗi sợ ấy hôm nay không khiến ông quan ngại bằng chuyện gì đang xảy ra bên kia khung cửa sổ.

Bs Aaron Zachariah, trẻ tuổi hơn Dombey, mày râu nhẵn nhụi với mái tóc nâu thẳng, ngồi chồm tới trước một trong mấy cái máy computer, đọc các dữ kiện đang chạy qua màn hình.

“Nhiệt độ hạ xuống ba mươi lăm độ F (*tức khoảng 2 độ C) chỉ trong một phút rưỡi vừa rồi.” Zachariah nói, giọng vẻ lo lắng.

“Như vậy không tốt đối với thằng bé.”

“Sau mỗi lần xảy ra như vậy, thằng bé đều bình thường,” Dombey nói.

“Tôi biết, nhưng … “

“Kiểm tra dấu hiệu sự sống của nó thử xem.”

Zachariah dời qua dãy computer khác, nơi nhịp tim, số huyết áp, hoạt động não đồ của Danny Evans biểu thị thường trực trên màn hình. Gã nói, “nhịp tim bình thường, có thể hơi chậm hơn trước. Huyết áp ô kê. Thân nhiệt không đổi. Nhưng có sự bất thường nơi điện não đồ.”

“Vậy là giống như mọi lần mỗi khi xảy ra sự kiện nầy.” Dombey nói.

“Sóng thần kinh não hoạt động kỳ cục. Nhưng không dấu hiệu nào cho thấy nó đang bị khó chịu.”

“Nếu cái lạnh cứ kéo dài trong đó, có lẽ chúng ta nên mặc đồ đặc biệt để đi vào đưa nó dời qua phòng khác,” Zachariah nói.

“Còn phòng nào trống đâu,” Dombey đáp. “Các phòng kia toàn là thú vật đang giữa chừng với thí nghiệm này thí nghiệm nọ.”

“Vậy thì chúng ta dời bầy thú vật đi. Thằng bé quan trọng hơn chúng nhiều. Còn nhiều dữ kiện chúng ta cần biết nơi thằng bé không thể bỏ quên được.”

Thằng bé quan trọng hơn vì nó là một con người, không phải vì nó là nguồn của các dữ kiện, Dombey giận dữ suy nghĩ, nhưng ông không nói ra điều mình nghĩ vì nếu phát biểu ông có thể bị xem như là kẻ bất đồng, có thể gây hại đến an ninh của Tổ Chức. Thay vì như suy nghĩ, ông lại nói, “Chúng ta không dời nó đi đâu cả, đợt lạnh sẽ không kéo dài lâu.” Ông liếc nhìn vào căn phòng nhỏ, nơi thằng bé nằm bất động trên một chiếc giường bệnh viện, dưới một tấm ra trắng và cái chăn vàng, lòng thòng với dây dợ nối với các màn hình. Dombey quan tâm cho thằng bé hơn nỗi sợ bị giam hãm dưới mặt đất và bị chôn sống, và sau cùng, nỗi sợ bị giam hãm hoàn toàn biến mất.

“Ít nhất là sự kiện lạnh giá chưa bao giờ kéo dài. Nhiệt độ hạ đột ngột, giữ thấp chừng hai, ba phút, không bao giờ lâu hơn năm, rồi sau đó lên bình thường trở lại.”

“Đám kỹ sư có vấn đề quái gì đây ? Tại sao chúng không sửa được gì ráo ?” Dombey nói, “Chúng cứ khăng khăng rằng hệ thống toàn hão sau khi đã kiểm tra lại.”

“Đồ cứt bò.”

“Chúng nói là không tìm thấy trục trặc nào cả.”

“Tìm không thấy, quái thật !”

Zachariah rời khỏi màn hình, bước lại phía cửa số, và tìm cho mình một chỗ trống chưa bị đông giá. “Khi sự kiện này bắt đầu xảy ra cách đây một tháng, chưa có gì đến nổi tệ. Nhiệt độ chỉ thay đổi tí chút. Mỗi đêm một lần. Không bao giờ xảy ra vào ban ngày. Sự thay đổi chưa đủ đe dọa đến sức khỏe của thằng bé. Nhưng vài ngày vừa rồi, mọi sự vượt khỏi tầm kiểm soát. Lập đi lập lại, chúng ta thấy nhiệt độ trong đó rơi xuống còn từ ba mươi đến bốn mươi độ F. Vậy mà bảo là không có trục trặc nào cả !”

“Tôi nghe nói họ đang triệu hồi nhóm thiết kế chính gốc tới,” Dombey nói. “Mấy gã sẽ tìm thấy lỗi nội trong một phút thôi.”

“Mấy thằng khốn.”

“Tôi thấy không có gì mà cậu phải phát cáu lên như vậy. Đằng nào chúng ta cũng đem thằng bé ra để thí nghiệm cho đến khi nó tiêu tùng, phải không nào ? Vậy thì sao chúng ta phải băn khoăn đến sức khỏe của nó ?”

“Dĩ nhiên ý anh không muốn nói như vậy,” Zachariah nói. “Cuối cùng khi nó chết, chúng ta muốn biết chắc có phải là nó chết do bị tiêm thuốc. Nếu thằng bé cứ trong tình trạng của nhiệt độ thay đổi đột ngột trong nhiều lần như thế này, chúng ta chưa thể biết chắc có phải đó cũng là nguyên nhân khiến nó tử vong hay không. Đó không còn là một nghiên cứu sạch.”

Một nụ cười không mang chút khôi hài nào thoáng qua trên khuôn mặt Carlton Dombey, ông quay mặt khỏi cửa sổ. Bày tỏ hoài nghi với bất kỳ cộng sự viên nào của dự án đều là điều rủi ro, nhưng Dombey không tự chế được, ông nói, “Sạch ? Tất cả chưa hề sạch tí nào. Đây là công việc nhơ bẩn ngay từ đầu.”

Zachariah đối mặt với ông. “Anh biết là tôi không nói đến chuyện đạo đức của vấn đề.”

“Nhưng tôi muốn.”

“Tôi chỉ muốn nói đến những tiêu chuẩn lâm sàng.”

“Tôi thật sự không muốn nghe ý kiến của cậu đối với cả hai vấn đề,” Dombey nói. “Tôi nhức muốn vỡ đầu đây.”

“Tôi chỉ muốn chu đáo với công việc,” Zachariah nói, hơi chút bĩu môi. “Anh không thể đổ cho tôi vì công việc bẩn thỉu. Tôi không phải nói nhiều về luật lệ làm việc nghiên cứu ở đây.”

“Cậu không có gì cần phải nói về chuyện đó,” Dombey thẳng thừng nói. “Tôi cũng thế. We’re low men on the totem pole, chúng ta là những kẻ ở dưới đáy của bậc thang đẳng cấp. Đó là lý do tại sao chúng ta bị dính với việc của ca đêm, phải làm cái công việc giữ trẻ như thế này.”

“Cho dù tôi là người làm chính sách,” Zachariah nói, “Tôi cũng sẽ đi theo con đường của Bs Tamaguchi. Khốn nổi, lão ta buộc phải theo đuổi cuộc nghiên cứu này. Lão không có chọn lựa nào khác ngoài việc phải đặt mình vào với nó một khi chúng ta tìm được cái mà bọn khốn người Hoa đang đào sâu vào. Còn tụi Nga thì giúp chúng một tay để kiếm chát ngoại tệ. Những người bạn Nga mới của chúng ta đấy. Chuyện nực cười. Chào mừng đến với cuộc Chiến Tranh Lạnh mới. Hãy nhớ đó là dự án nhỏ đầy nhơ bẩn của China. Những gì chúng ta làm chỉ là để theo cho kịp họ mà thôi. Nếu anh muốn đổ cho ai vì đã làm cho anh cảm thấy tội lỗi về việc chúng ta đang làm đây, thì hãy đổ cho người Hoa, không phải tôi.”

“Tôi biết, tôi biết,” Dombey nói yếu ớt, tay luồn vào mái tóc quăn rậm rì.

Zachariah sẽ báo cáo chi tiết về cuộc nói chuyện giữa họ, và Dombey thấy cần phải giả bộ đứng ở vị thế trung lập hơn, ông nói, “Chúng làm tôi thấy sợ. Nếu có một chính quyền nào trên trái đất có thể sử dụng một thứ vũ khí như vậy, thì đó chính là chúng, hay tụi Bắc Hàn hoặc Iraq. Những chế độ điên khùng không bao giờ thiếu. Chúng ta không có chọn lựa nào khác ngoài việc phải duy trì một quốc phòng vững mạnh. Tôi thật sự tin như vậy. Nhưng đôi khi … tôi tự hỏi. Trong khi chúng ta làm việc cật lực để vượt trội kẻ thù, chúng ta có trở nên như họ không ?”

“Có thể lắm.”

“Có thể,” Dombey nói, mặc dù không chắc ông nghĩ như vậy.

“Tôi biết chọn lựa nào đây ?”

“Tôi đoán là không.”

“Nhìn kìa,” Zachariah nói.

“Chuyện gì ?”

“Cửa sổ trong suốt. Ở bên trong chắc là ấm lên rồi.”

Hai nhà khoa học đi trở lại chỗ tấm kiếng cửa sổ và nhìn vào trong căn phòng biệt lập. Thằng bé ốm o cựa quậy. Nó quay đầu về phía họ và nhìn trừng xuyên qua lớp rào chắn giường.

Zachariah nói, “Những con mắt khốn nạn ấy.”

“Nhìn xuyên suốt đúng không ?”

“Cách nó nhìn chằm chằm … đôi khi khiến tôi thấy nổi gai ốc. Có cái gì cứ ám ảnh tôi mãi về đôi mắt của nó.”

“Đó chẳng qua do cậu cảm thấy mặc cảm tội lỗi mà thôi,” Dombey nói.

“Không, hơn thế nữa. Đôi mắt nó lạ lắm. Chúng khác so với hồi nó mới được đưa về cách đây một năm.”

“Giờ đây trong cái nhìn có ẩn chứa nỗi đau đớn,” Dombey buồn bã nói. “Thật nhiều đau đớn và cô độc.”

“Hơn thế nữa,” Zachariah nói. “Có cái gì đó trong đôi mắt ấy … cái gì đó mà không có lời nói để diễn tả.”

Zachariah bước khỏi khung cửa sổ, trở lại với mấy cái computer, ở đó y cảm thấy dễ chịu và an toàn.

 

Hết chương hai mươi lăm và hai mươi sáu

(Xem tiếp kỳ 34)

Trở về kỳ trước

 

 

 

 

 

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: