Vụ tấn công gây sửng sốt Moscow hôm 18.06.2026, theo đó Ukraine tập kích nhiều mục tiêu khác nhau trên khắp vùng Moscow. Cuộc tập kích được xem là lớn nhất kể từ khi Nga bắt đầu cuộc xâm lăng vào lãnh thổ của Ukraine trên diện rộng.
Một nhà máy lọc dầu quan trọng có năng suất cung cấp 40% nhu cầu xăng dầu cho toàn thủ đô Moscow bốc cháy dữ dội, khiến ngưng trệ việc sản xuất. Bốn phi trường chính trong vùng Moscow phải đóng cửa trong nhiều giờ. Mười sáu người bị thương. Nga loan báo bắn hạ được 194 drone lúc chúng vừa bay tiếp cận thủ đô vào buổi sáng nhưng những chiếc bay lọt vào được đã gây nên ít nhiều thiệt hại.
Sự kiện đó nói lên điều quan trọng hơn là chỉ riêng cuộc tấn công.
Đã từ lâu, hệ thống phòng không của Nga được xem như thuộc loại đáng gờm. Một thứ hệ thống nhiều lớp với radar, trạm chỉ huy, cùng các pháo đội hỏa tiễn, phủ trùm phạm vi hằng ngàn cây số. Được xem như là một thứ bức tường phòng không “air wall” không thể xuyên thủng.
Nhưng ngày nay bức tường đó đã để lộ ra nhiều lỗ hở mà Ukraine đã phát triển kỹ thuật và chiến thuật để phát hiện và khai thác chúng. Chiến lược gì đằng sau những cuộc tấn công ấy. Những chiếc drone “tàng hình” mới sáng chế của Ukraine đã xâm nhập không phận của Nga như thế nào. Cái gì khiến chúng không thể bị radar dò tìm thấy, và tại sao điều này làm thay đổi tất cả? Kỹ thuật thuật nào đang định hình lại cuộc chiến này, một cuộc chiến khác hẳn với mọi cuộc chiến của thời quá khứ.
Kỹ thuật drone “tàng hình”
Cái đáng nói đến trước tiên chính là những chiếc máy bay drone không người điều khiển (UAV). Ukraine đã phát triển một số cải tiến khiến giúp drone của họ ngày càng khó bị phát hiện hơn. Họ vừa trình làng một biến thể mới của loại drone trinh sát Raybird; loại này vận hành bằng hydrogen, và do công ty Skyeton của Ukraine phát triển. Đây không đơn thuần chỉ là một nâng cấp nhỏ, mà hệ thống đẩy bằng hydro thay đổi về cơ bản cách thức máy bay không người lái hiển thị trên các cảm biến của Nga.
Các loại máy bay không người lái truyền thống sử dụng động cơ đốt trong, sản sinh lượng nhiệt đáng kể khiến dễ bị nhận diện bởi ra-đa cảm biến hồng ngoại. Chúng cũng tạo ra tiếng ồn, đó là thứ âm thanh vo ve đặc trưng, đủ báo động cho lính canh chú ý mà chuẩn bị đối phó.
Trong khi đó chiếc drone Raybird vận hành bằng hydrogen loại bỏ cả hai điểm yếu này. Nó phát sinh tín hiệu nhiệt ít hơn nhiều, khiến nó gần như tàng hình đối với hệ thống ảnh nhiệt. Và nhờ không có động cơ nổ trong mà nó bay gần như hoàn toàn im lặng.
Các thông số kỹ thuật chính của Raybird gồm một sải cánh dài 4.7 m, một trọng lượng cất cánh tối đa 23 kg, một khả năng chở tải đến 10 kg các cảm biến, một vận tốc đường trường 110 km/giờ, một thời gian hoạt đông hiện tại lâu được 12 tiếng.
Nhật báo Tây Ban Nha, La Razón nhấn mạnh ưu điểm cạnh tranh vượt trội của thiết bị bay này nằm ở khả năng vận hành cực kỳ kín đáo về mặt âm thanh và nhiệt học. Nhờ loại bỏ động cơ đốt trong truyền thống, thiết bị này gần như không thể bị radar và các cảm biến hồng ngoại thế hệ mới phát hiện.
Hệ thống phòng không Nga gồm Pantsir-S1, vốn được thiết kế để đối đầu với những cuộc tấn công đại qui mô bằng hỏa tiễn. Chúng được hiệu chỉnh để dò tìm các mục tiêu bằng kim loại, chất liệu phản chiếu mạnh đối với radar; trong khi drone hiện đại của Ukraine làm từ vật liệu tổng hợp như nhựa và gỗ ép, vốn phản xạ năng lượng radar ít hơn nhiều, khiến drone trở nên “tàng hình” đối với những hệ thống được thiết kế để dò tìm vật thể bay bằng kim loại.
Chuyên gia hàng không nổi tiếng và cũng là cựu sĩ quan không quân Ukraine, Anatoliy Khrapchynskyi, là người thường xuyên cung cấp những phân tích về quân sự, kỹ thuật, và chiến lược về cuộc chiến đang diễn ra ở Ukraine. Ông giải thích với tờ Deutsche Welle rằng những hệ thống này chủ yếu là bị “mù”, không dò thấy được những chiếc drone nhỏ làm từ chất liệu hiện đại. Tín hiệu phản hồi từ radar quá yếu để kích hoạt phản ứng.
Lực lượng Nga vốn lệ thuộc nặng nề vào tác chiến điện tử để chống lại drone của Ukraine. Bằng cách gây nhiễu tín hiệu GPS và làm rối loạn các dữ kiện nối kết giữa người điều khiển với drone, chúng có thể làm vô hiệu hóa những cuộc tấn công một cách có hiệu quả.
Nhưng Ukraine lại vừa phát triển một dòng drone mới có thể tự hành ở những cây số cuối cùng gần đến mục tiêu cho dù dữ kiện kết nối có bị gián đoạn. Theo giải thích của Gs Michael Horowitz môn bang giao quốc tế, Ukraine nay cập nhật với TFL-1, dòng drone có thể vận hành độc lập dù dữ kiện nối kết có bị gây nhiễu, cắt đứt ở những cây số cuối cùng trước khi tiếp cận mục tiêu. Điều có nghĩa là tác chiến điện tử của Nga đang trở nên ngày càng kém hiệu quả. Drone không cần chờ nhận hiệu lệnh để nhào vào mục tiêu, vì đích nhắm đã được khóa sẵn trước rồi.
Chiến thuật tác chiến với drone mồi nhữ
Chỉ kỹ thuật thôi cũng chưa đủ, Ukraine đã phát triển thêm các chiến thuật tác chiến tinh vi vốn nhân rộng hiệu năng của các drone “tàng hình” của họ. Đây chính là điểm xuất sắc của chiến lược này.
Trong suốt chiến dịch tấn công tầm xa, Ukraine thường xuyên tung ra hằng trăm drone mồi nhữ bay song hành với drone tấn công có võ trang. Các máy bay không người lái mồi nhữ được thiết kế để mô phỏng tín hiệu radar của các mối đe dọa chiến đấu đang xảy ra thực sự. Một số chiếc bay trống không, một số khác có mang theo ít tải trọng nhưng tất cả đều được thiết kế với mục đích buộc lực lượng phòng không Nga phải phản ứng.
Một cấp chỉ huy có biệt danh “Vector” từ đơn vị tấn công sâu của quân báo Ukraine, giải thích về chiến thuật.
“Đây là các drone mồi nhữ. Chúng tôi tung ra hàng trăm chiếc, trong đó một số trống không, số khác mang theo trang bị chiến đấu, tuy nhỏ nhưng đủ để hủy diệt các hệ thống phòng không. Khi các kíp chiến đấu giao chiến với mục tiêu mà màn hình radar hiển thị là mối đe dọa có mức độ ưu tiên cao, họ lại tiêu tốn những quả tên lửa đánh chặn đắt tiền vào các mục tiêu mồi bẫy trống rỗng. Điều tệ hại là họ đã vô tình để lộ chính xác tọa độ radar và các pháo đội hỏa tiễn của mình. Bấy giờ drone có trang bị đầu đạn nổ mới bắt đầu ra tay tấn công, làm vô hiệu hóa các vị trí mới bị lộ diện.
Công ty quốc phòng OM Defense Systems của Ukraine gần đây mới trình làng SPECTR, một drone mồi nhữ thế hệ kế tiếp, được thiết kế để mang chiến lược nầy vào thời kỳ tới. SPECTR đươc miêu tả như là một loại drone “push-and-fly,” hoàn toàn tự hành, được thiết kế đặc biệt để đánh lừa, chuyển hướng sự chú ý, và làm cho hệ thống radar phòng không địch bị quá tải. Tính năng chính của nó là bộ phản xạ radar có thể điều chỉnh được, có khả năng mô phỏng các loại mục tiêu trên không khác nhau trên nhiều dải tần số. Những khả năng chính của nó gồm sức bay đường trường xa đến 500 cây số, bay lâu được 4 tiếng, vận tốc trên 120 km/g, bay cao từ 500 đến 5.000 mét, diện tích phản xạ radar có thể điều chỉnh trong khoảng từ 1 đến trên 10 mét vuông. Bằng cách phát ra một tín hiệu radar mạnh, hiệu chỉnh được, SPECTR làm bão hòa các hệ thống phòng không Nga và khơi dậy phản ứng như thể đó là mối đe dọa đánh nhau đang xảy ra thật. Hệ thống này cũng có khả năng chống nhiễu điện tử và hiệu quả về mặt chi phí, những yếu tố then chốt trong một cuộc chiến tiêu hao.
Ngoài SPECTR, lực lượng Ukraine còn giới thiệu thêm loại drone mồi nhữ phản lực mới, được đặc biệt thiết kế phản chiếu tín hiệu radar của hỏa tiễn hành trình hoặc đạn đạo thông thường. Loại drone này được gọi tên tiếng Ukraine là “Peklo” có nghĩa là “Địa ngục”, chúng bay nhanh hơn các drone thông thường và có thể mô phỏng những mối đe dọa ưu tiên cao mà các binh sĩ điều khiển hệ thống phòng không Nga vốn đã được huấn luyện phải ngăn chặn ngay lập tức trước tình huống như thế. Bằng cách buộc phòng không Nga phải tiêu phí những hỏa tiễn đối không quí giá nhất vào những mục tiêu ảo này, Ukraine đã tạo được những lỗ trống cho drone xung kích thật lao vào.
Hệ thống chỉ huy phi tập trung
Mảnh ghép cuối cùng của bài toán là cơ sở hạ tầng điều khiển và chỉ huy vốn vận hành những cuộc hành quân phức tạp này. Thay vì được vận hành từ các hầm chỉ huy trung ương, hoạt động đánh sâu của Ukraine được phân bố trên khắp đất nước và điều hành qua laptop thông thường.
Cấp chỉ huy biệt danh “Vector” giải thích rằng laptop là một tiện lợi lớn lao nhất đối với họ và đó cũng là lý do tại sao Nga khó lòng phá được chương trình này, vì chúng phân tán mọi nơi. Họ không có các trung tâm chỉ huy tập trung mà rãi ra đều ở hằng chục địa điểm khác nhau. Hơn thế nữa, nhu liệu mang lại cho họ cơ hội làm việc với hằng ngàn UAV. Việc phi tập trung chỉ huy này khiến hệ thống được lâu bền. Khi một bệ phóng bị tiêu diệt, vẫn còn hằng chục bệ phóng khác, quân địch không thể loại bỏ hoàn toàn mạng lưới chỉ với một cuộc tập kích.
Cốt lõi của hoạt động này là một nền tảng phần mềm vận hành dựa trên trí tuệ nhân tạo, tên gọi là Prisma. Hệ thống này tích hợp dữ liệu chiến đấu được cập nhật liên tục hình ảnh hoạt động. Nền tảng xử lý theo thời gian thực về điều kiện thời tiết, vị trí quân Nga, địa điểm phòng không, và thiết bị chiến đấu điện tử, Bấy giờ nó mới đưa ra đề nghị đường bay tối ưu cho các sứ mệnh của drone. Vector giải thích cái giá trị quí giá của dữ kiện này. Mỗi ngày, mỗi giờ, họ biết Nga di chuyển hệ thống phòng không và thiết bị chiến đấu điện tử như thế nào. Mỗi đêm họ thay đổi lộ trình bay khác nhau, không bao giờ lập lại. Với kinh nghiệm tích cóp được và với dữ kiện thu gom từ vô số sứ mệnh, thảy đều trở thành một trong những tài sản quí giá nhất của Ukraine.
Những cuộc tập kích sâu vào lãnh thổ Nga được thực hiện qua sử dụng hệ thống như Liutyi, dòng drone tự sát mang theo đầu đạn nổ, có chiều dài 4,5 m, nặng tối đa 65 kg và có khả năng bay xa gần 480 km. Vector miêu tả chúng hiện giờ hết sức quan trọng như lá chủ bài của mình trong cuộc chiến này. Mỗi chiếc Liutyi tốn phí xấp xỉ US $230.000 để sản xuất. Tuy không rẻ nhưng tốn phí rất ít so với thiệt hại của mục tiêu đắc địa mà chúng gây nên. Ukraine đang phóng hướng về lãnh thổ Nga từ 200 đến 300 drone này mỗi đêm, một qui mô đủ để làm quá tải hệ thống phòng không Nga.
Sự kết hợp giữa kỹ thuật, chiến thuật, và hoạt động phi tập trung đang chứng tỏ là hết sức khó cho Nga đối phó lại. Trong khi các cuộc tập kích ngày mỗi gia tăng, Nga phải đối mặt một thách thức về cấu trúc. Những cuộc tấn công drone hàng loạt khiến đòi hỏi phải có nhiều thêm hỏa tiễn đánh chận mà không kỹ nghệ nào có thể cung cấp kịp nổi.
Nhà phân tích quân sự Ruslan Leviev ghi nhận rằng, trong khi Nga bắn hạ được hơn 90 phần trăm số drone trên bầu trời Moscow hôm 18 tháng Sáu, những số ít bay qua lọt được đã gây nên thiệt hại không tương xứng. Đây không phải là sự thất bại của các hệ thống riêng lẻ, mà là sự thất bại về năng lực. Quy mô khổng lồ của nước Nga cũng là một điểm yếu. Thiết lập một bức tường hay một “vòm” phòng không để che chắn cho toàn diện tích nước Nga là điều bất khả, đơn giản là vì nó quá mênh mông. Ngay Moscow đã là một mục tiêu dễ bị tấn công do mật độ đô thị cao. Sự phát triển càng dày đặc, nhất là những tòa nhà cao tầng, càng dễ giúp cho drone né tránh radar khi bay thấp phía sau.
Ben Hodges, cựu chỉ huy lực lượng Mỹ ở Âu Châu, nói một cách ngắn gọn rằng tầm vóc vĩ đại nhất của Nga từ nhiều thế kỷ qua, nay trở nên điểm yếu nhất của họ: đó chính là cái lãnh thổ bao la. Họ không thể bảo vệ tất cả ở khắp nơi. Mỗi nhà máy lọc dầu, mỗi xưởng đóng tàu, mỗi công xưởng sản xuất nay đều dễ bị tấn công. Nga phải điều động lại hệ thống phòng không để bảo vệ các thành phố quan trọng như Moscow và Saint Petersburg khỏi các cuộc tấn công tầm xa, điều có nghĩa cứ mỗi hệ thống lấy đi khỏi mặt trận là mỗi hệ thống ít bớt đi cho chiến trường. Các chuyên gia cho rằng hệ thống phòng không tốt nhất gồm nhiều lớp, với các hỏa tiễn đánh chận khác nhau có thể hoạt động ở nhiều cao độ và mục tiêu khác nhau, đối với các đối thủ tấn công khác nhau. Việc Nga tái điều động làm phân rã cái từng là lớp lá chắn phòng không, nay là một sự chắp vá không hơn không kém.
Cuối cùng, Nga đang đối mặt với sự khủng hoảng sản xuất. Những biện pháp cấm vận đã làm giới hạn nghiêm trọng nguồn cung chip điện tử cần thiết để sản xuất những hệ thống phòng không mới. Như vậy cứ mỗi hệ thống phòng không bị hạ làm mỗi cái mất đi mà không thể nhanh chóng được thay thế.
Điều chúng ta đang được chứng kiến là ngày tàn của sự làm chủ bầu trời của Nga, ít nhất với cảm giác rằng lực lượng Nga không còn được xem còn khả năng bảo vệ không phận an toàn bất kỳ nơi đâu trên toàn lãnh thổ của mình.
Các drone “tàng hình” mới của Ukraine không chỉ là vũ khí duy nhất, chúng là một hệ thống toàn diện: được thiết kế trên nền tảng tàng hình do vận hành bằng hydro, hệ thống nhắm mục tiêu tích hợp AI, các bầy mồi bẫy tinh vi và cấu trúc chỉ huy phi tập trung. Mỗi nguyên tố đều khá ấn tượng, cùng nhau chúng chuyển đổi. Cuộc tấn công vào Moscow hôm 18 tháng Sáu không phải là biến cố xảy ra chỉ một lần, mà đó là đỉnh điểm của một chiến dịch đã ngày càng trở nên quyết liệt trong suốt nhiều tháng qua. Trong khi Ukraine tiếp tục thích ứng và cập nhật, sự xâm nhập trở nên thường xuyên hơn và gây nhiều tổn thất hơn.
Tổng Thống Zelensky đã thẳng thắn về thông điệp mà những cuộc tập kích này mang lại. Trong một bức thư ngỏ gửi cho Putin, ông viết rằng “như ông đã biết rất rõ, khoảng cách không còn là giới hạn trong khả năng của chúng tôi nữa. Đối với người dân Ukraine, những vụ tập kích này nhằm hai mục đích: đó là là rối loạn guồng máy chiến tranh của Nga, và mang chiến tranh về tận nhà của kẻ đã gây nên nó trước tiên.”
(Thuật theo bài phân tích “The Drones That Don’t Show Up on Radar – How Ukraine Just Breached Moscow’s Air Wall” của Dr Sophia Reports, được phát trên YouTube ở địa chỉ:
(118) The Drones That Don’t Show Up on Radar – How Ukraine Just Breached Moscow’s Air Wall – YouTube)






Thảo luận
Không có bình luận