//
you're reading...
Ký giả Mike Langford, Triệu Phong

Ký giả mất tích Mike Langford và Sài Gòn thập niên ’60 (12) * Triệu Phong

PHẦN BỐN

Ở tận dưới miệt Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), cái xứ của nước, Michael Langford được hạ sinh lần thứ hai.

Dường như sự khải ngộ không đến với Langford chỉ trong một khoảnh khắc, mà qua một quá trình của từng bước. Langford lội và vấp ngã, giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày nọ, khi thường xuyên băng qua những đầm lầy và những thửa ruộng ngập nước, người ướt đẫm bởi những cơn mưa gió mùa và bởi mồ hôi của chính mình, hiếm khi được khô ráo, và cũng ít khi được dừng chân, ngoại trừ vài giờ ngắn ngủi để ngủ. Tất cả những gì cuối cùng anh trở thành đều bắt nguồn từ những cuộc tuần tiễu ban đầu đó với Đại Úy Lê Tấn Trung, mà đơn vị của ông luôn được thần chết bám theo bén gót. Thần chết có mặt ở đó tuần này qua tuần nọ, tháng này qua tháng khác, chờ đợi với khẩu Kalashnikov (gọi tắt là súng AK) phục sẵn bên bờ kè các ruộng lúa. Ở vùng có tên gọi là Cái Nôi, thần chết luôn rình rập cận kề họ, ở trước mặt hoặc phía sau lưng, và chính Trung và thuộc cấp của ông là mục tiêu mà thần chết thường xuyên rình rập.

Ở tận dưới miệt Cái Nôi đó, một cuộc sống bắt đầu mà Langford thấy đó mới là cuộc sống thực của mình. Đó là một cuộc sống sẽ kéo dài suốt thập niên và rồi cuối cùng chết theo với cuộc chiến.

NHẬT KÝ THU ÂM CỦA LANGFORD

TAPE SỐ 6: 28 THÁNG NĂM 1965

Lúc sáu giờ sáng, tôi lấy một chuyến bay của hãng hàng không Air Vietnam từ Tân Sơn Nhứt xuống Mỹ Tho, thành phố tỉnh lỵ chính thuộc phía bắc ĐBSCL. Đó là nơi Sư Đoàn 7 quân đội Miền Nam đặt bộ chỉ huy trong một doanh trại cũ có từ thời Pháp. Tôi hẹn gặp Đ/úy Trung, em họ của Madame Phan, tại đó vào lúc tám giờ.

Văn phòng to rộng và ấm áp; bên trong có một số bàn sắt màu lính và mấy tấm bản đồ treo trên tường. Các sĩ quan trẻ mặc quân phục đo cắt vừa vặn vào ra với hồ sơ cầm trên tay. Langford ngồi trước bàn làm việc của Đ/úy Trung và ông này ngồi dựa vào lưng chiếc ghế xoay, quan sát anh mà không hề cười. Ông ta cũng không nở nụ cười cả khi họ bắt tay.

“Nửa tiếng nữa chúng ta lên đường,” ông nói. “Tôi sắp dẫn một đại đội bay xuống tỉnh Kiến Hòa. Trực thăng Mỹ sẽ thả chúng ta tại căn cứ tiền trạm, rồi thay cho những người khác bay trở về.”

Tiếng Anh của ông ta vững và ăn nói có học thức, giọng thấp và lịch sự nhưng thiếu sự nồng ấm. Ông mặc đồ trận, mang giày bốt, tóc hớt kiểu đầu đinh như lính Mỹ, vóc dáng cao ráo hơn so với người Việt trung bình. Ông tương đối trẻ, cỡ tuổi với Langford, nhưng trông già hơn do từng sống qua với nhiều thử thách, có lẽ đời sống khắc khổ khiến khuôn mặt của ông choắt lại, nhấn mạnh bằng lỗ lõm dưới xương gò má. Trên tường, ngay sau bàn làm việc, có treo tấm bản đồ được đóng khung của vùng ĐBSCL, với nhiều lá cờ nhỏ ghim vào đó. Bây giờ thì ông xoay người lại rồi đứng dậy và chỉ tay lên bản đồ.

“Khu vực này mà chúng ta sẽ bay đến có tên gọi là Cái Nôi,” ông giải thích và ngoái nhìn Langford qua vai mình. “Đây được gọi là Cái Nôi vì nó là nơi sinh quán của Việt Cộng. Hầu hết các khu vực nằm trong tay họ. Không có lính Mỹ nào đánh đấm dưới đó cả. Chỉ có chúng tôi. Từ tiền đồn, đại đội chúng tôi làm mấy cuộc càn quét và nằm lại trên thực địa bốn hoặc năm ngày. Anh sẽ đi theo chúng tôi suốt thời gian ấy, chứ không phải một ngày như mấy người các anh khi họ đi theo lính Mỹ.”

Ông Trung quay lại, tay đặt lên bàn và chồm về phía Langford.

“Mìn bẫy, hầm chông đầy khắp miền quê, anh hiểu chứ Langford? Chỉ việc đi băng qua đó thôi là đủ nguy hiểm rồi. Tình huống này làm tôi tổn thất con cái hoài. Không có chuyện được nhận tiếp liệu hoặc bổ sung tại thực địa như người Mỹ họ làm. Thường là không có pháo binh hoặc không quân yểm trợ, ngay cả khi đơn vị chúng ta bị địch tràn ngập. Chúng ta có thể gọi điện kêu cứu nhưng điều đó không có nghĩa là sẽ có cứu viện, vì chúng ta thường ở quá xa, ngoài tầm tất cả. Chưa có phóng viên ngoại quốc nào từng đi theo với chúng tôi,” ông dừng lại như thể chờ nghe Langford nói điều gì; nhưng khi thấy điều ấy không xảy ra, ông tiếp. “Madame Phan có yêu cầu tôi giúp anh, và tôi rất vui vẻ làm chuyện đó. Nhưng tôi sẽ không chịu trách nhiệm nếu anh bị giết.”

Langford nói anh hiểu điều ấy. Rằng anh chịu trách nhiệm cho chính bản thân. Bất kỳ rủi ro nào mà Đ/úy Trung và người của ông gặp phải, anh cũng vui vẻ đón nhận theo.

Viên đại úy mím môi lại và nhíu mày; rồi ông có vẻ cam chịu mà gật đầu. “Okay,” ông nói, vừa lấy đầu ra hiệu cho Langford đi theo, và dẫn đường ra khỏi văn phòng.

*

Langford ngồi bệt trên sàn nhôm của chiếc trực thăng, túi camera và ba-lô anh đặt giữa hai chân. Lính người Việt ngồi ở hai bên, trong quân phục thùng thình quá khổ, tò mò nhìn anh. Họ trông như mấy cậu bé chơi trò chơi lính tráng. Tiếng gầm của động cơ và tiếng đập của cánh quạt thật kinh khủng, khiến hàm răng anh rung lên. Có một mùi kim loại nóng và mùi nhiên liệu tên gọi JP-4, một thứ mùi mà rồi đây anh sẽ biết như là thứ mùi rất phổ thông trong cuộc chiến.

Anh bay trên một chiếc Bell UH-1, loại trực thăng đa năng vừa để chuyển vận vừa dùng để tấn công, mà Dmitri Volkov đã đánh bóng chúng một cách thi vị. Mười chiếc trực thăng loại nhỏ này do người Mỹ lái, mỗi chiếc chở tám lính người Việt, cùng cất cánh một lượt từ phi trường ở Mỹ Tho, đầy đủ cả đại đội mới bổ sung của Đ/úy Trung. Vài người lính ngồi trên nón sắt, còn Langford thì ngồi trên cuốn sách bìa mỏng mà anh mang theo. Đ/úy Trung cho Langford hay rằng mấy tay bắn sẻ VC thường từ dưới đất bắn lên các trực thăng bay ngang qua, điều nghe thấy khiến anh thấy thôn thốn dưới trực tràng. Langford kể lại, lúc ấy anh tưởng tượng một viên đạn đi xuyên qua sàn nhôm và vào đúng cái mục tiêu nó muốn tìm một cách gọn gàng. Nghĩ thôi cũng đủ ớn, nhưng vài phút sau thì anh quên tất cả.

Cánh cửa trực thăng luôn mở toang và gió tha hồ tuôn vào lồng lộng. Ngồi ở phía rìa gần anh nhất là một xạ thủ người Mỹ, nai nịt đầy đủ, ngồi túc trực bên khẩu súng máy M-60. Nhìn qua vai người lính, Langford thấy bốn chiếc Hueys khác đang vượt qua bầu trời mờ sương và rạng rỡ ánh nắng, bay gióng hàng thành một đường thẳng toàn hảo. Chúng trông như loài sinh vật lạ.

Tôi cảm được niềm tự do theo một cách mới. Tôi rất sung sướng, tôi thấy mình ngây ngất.

Langford đem hoàn cảnh mình trở lại như một ký ức cao đẹp của thời thơ ấu. Một ngày rực rỡ, mặc dù mùa mưa vừa mới bắt đầu, và bên dưới anh là Việt Nam, cái xứ sở đầy xung đột triền miên, mà bề ngang hiếm có nơi rộng hơn một trăm dặm, nhưng bây giờ có vẻ như trãi rộng ra đến vô hạn như ảo ảnh, với màu xanh lục đậm và màu xanh khói thuốc, những đầm đước ngập mặn hình bàn cờ, những lùm dừa và những cánh đồng lúa, đang được kiểm soát một cách vô hình bởi Black Ghosts, đạo quân ma mặc đồ bà ba đen. Những đồng ruộng ngập nước và lấp lánh biến vùng đất thành như một chuỗi đảo, những con kênh giống như sợi chỉ chạy giữa những lùm dừa, và khúc uốn mênh mông màu bạc của con sông Mekong chiếu sáng dưới ánh mặt trời, lác đác với những thuyền tam bản cùng những chiếc giang đỉnh hình dáng thô tháp.

Đây là Cái Nôi: xứ sở của sự sinh ra trong bạo lực và chết trong bạo lực. Nhưng dù thế mối đe dọa tiềm ẩn dưới đó lại là một phần vẻ đẹp của nó đối với Langford.

– Gã xạ thủ bự con người Mỹ gây sự chú ý của tôi. Gã vỗ vào cây đại liên M-60 đang chúc đầu xuống và cười, làm như gã đọc thấu được tôi đang nghĩ gì. Tôi thích khuôn mặt gã; nó gợi tôi nhớ đến Ken. Tôi thắc mắc không biết Ken có sống sót được qua thời gian quân dịch không?

(Xem tiếp kỳ sau)

(Trở lại kỳ trước)

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: