//
you're reading...
chuyện kinh dị, Triệu Phong, Truyện Dịch, Vũ Hán 400

Vũ Hán-400 (kỳ 31) * Dean Koontz * Triệu Phong chuyển ngữ

 

 

 

dean koontz' book

 

CHƯƠNG HAI MƯƠI BỐN, Phần 1

Thẩm phán Harold Kennebeck thích ráp thuyền trong chai thủy tinh. Trên các bức tường của căn phòng nhỏ làm việc là nơi trưng bày những vật thuộc đam mê ấy của lão. Ở đây một mô hình tí hon của thuyền chèo kiểu Hà Lan thế kỷ mười bảy nằm trong một chai nhỏ màu xanh nhạt. Kia, một thuyền hai buồm choán hết mặt trong của một bình năm ga-lông. Nọ là một thuyền ba cột với những cánh buồm căng gió; và nơi khác là chiếc thuyền nhỏ Tây Ban Nha thời giữa thế kỷ mười lăm … Mỗi chiếc thuyền được tạo hết sức tỉ mỉ, tinh xảo và khéo léo.

Lão Kennebeck đứng trước một trong những kệ chưng, quan sát từng chi tiết nhỏ nhặt nhất của chiếc tàu khu trục nhỏ của Pháp thời cuối thế kỷ mười tám. Trong khi nhìn chằm vào vật ấy, lão không thả mình trôi về những cuộc hải hành thuở xa xưa đó mà đầu óc lại nghĩ về tiến triển vụ gia đình họ Evans. Những con thuyền trong những chai thủy tinh làm cho lão cảm thấy thư thái; lão muốn bỏ thì giờ với chúng mỗi khi lão có vấn đề phải suy nghĩ, vì chúng làm cho lão cảm thấy thanh thản, và sự an toàn ấy cho phép trí óc lão có thể hoạt động đến hết công năng.

Càng nghĩ đến vấn đề lão Kennebeck càng ít tin rằng Christina Evans biết sự thật về chuyện của đứa con trai. Nếu ai đó làm việc với Projecty Pandora kể cho nàng nghe chuyện xảy ra đối với chuyến xe buýt chở hướng đạo sinh, ắt hẳn nàng đã không phản ứng trước tin ấy một cách bình thản như vậy được. Hẳn nàng phải kinh hoảng lên … và điên cuồng nữa là khác. Chắc chắn nàng sẽ tìm đến cảnh sát, báo chí, hoặc cả hai. Thay vì vậy nàng chỉ tìm gặp Elliot Stryker. Một mặt, nàng hành động như chưa hề biết đến sự thật. Nhưng một mặt nàng lại nhờ Elliot giúp nàng lo vụ xin phép khai quật mộ của đứa con trai, sự kiện cho thấy hình như nàng biết được điều gì đó. Nếu điều Elliot nói với ông có thể tin được thì duyên do khiến Tina đòi xin đào mộ chỉ hoàn toàn có tính cách vô tư. Theo như Elliot, Tina cảm thấy có tội khi không đủ can đảm nhìn thi thể đứa con trai, vốn bị tan nát, trước khi đem chôn. Mặc cảm có tội lớn dần đưa đến vấn đề tâm lý nghiêm trọng. Tina bị suy sụp nặng, ngoài ra còn phải đối mặt với những cơn ác mộng xảy đến hằng đêm. Đó là câu chuyện mà Elliot trình bày với lão trước đây. Lão quan tòa có khuynh hướng tin lời của luật sư Elliot. Ở đây có một yếu tố trùng hợp nhưng không phải mọi trùng hợp đều có ý nghĩa. Đó là điều mà người ta có khuynh hướng quên đi rằng hắn đã từng sống một cuộc đời với nghề tình báo. Có lẽ Christina Evans không hề nghi ngờ đối với lời giải thích chính thức về vụ tai nạn trên núi Sierras khi xin phép khai quật mộ, và có lẽ nàng cũng chẳng hề nghe nói đến dự án Project Pandora, nhưng đằng nào thì nàng đã hành động không đúng thời đúng lúc.

Nếu người đàn bà này quả không biết gì hết về âm mưu che đậy vụ tai nạn, thì Tổ Chức chắc sẽ dùng chồng nàng và hệ thống pháp lý để trì hoãn cuộc khai quật. Đồng thời, người của Tổ Chức vào đêm khuya sẽ bí mật đào mồ lên, tráo hết đống đá, thứ mà nay đang được bỏ trong hòm, bằng thi hài của một Danny giả. Rồi sau đó người mẹ mang mặc cảm có tội nầy nhận được phép khai quật mộ đứa con trai, và nhìn tận mắt cái thi thể ấy. Đó hẳn là một việc làm phức tạp, đầy rủi ro bị khám phá. Tuy nhiên rủi ro có thể chấp nhận được nhưng không đến nổi phải giết một ai.

Bất hạnh thay, George Alexander, trưởng phòng tiểu bang Nevada của Tổ Chức, không có được kiên nhẫn hoặc đủ kỹ năng để xác định mục đích đích thực của người phụ nữ ấy là gì. Y đoán chừng theo tình huống tệ hại nhất rồi hành động theo sự phỏng đoán ấy. Khi Kennebeck thông tin với Alexander về chuyện Elliot muốn được phép khai quật, tay trưởng phòng nầy đã lập tức phản ứng một cách cực đoan. Y lên kế hoạch cho Elliot phải chết theo kiểu tự sát, còn Tina thì chết giống như do tai nạn, và qua đời vì trụy tim thì dàn cảnh cho chồng cũ của nàng. Hai mưu toan sát nhân được vội vã tổ chức đều đã thất bại. Elliot và Tina cùng biến mất. Bây giờ toàn Tổ Chức như đang ngồi trên lửa.

Khi Kennebeck vừa quay khỏi chiếc tàu khu trục kiểu Pháp, và bắt đầu tự nhủ liệu có nên rời khỏi Tổ Chức trước khi nó đổ sụp và đè lên mình hay không, thì George Alexander ở ngoài đi vào bằng cửa ăn thông với cầu thang ngoài hành lang. Tay trưởng phòng nầy người mảnh khảnh, thanh nhã, với dáng vẻ khác biệt. Y đi giày xỏ hiệu Gucci, mặc bộ vest mắc tiền, áo sơ mi lụa may bằng tay, và mang đồng hồ Rolex bằng vàng. Tóc cắt tỉa đúng mốt. Đôi mắt xanh lục, sáng linh lợi, và nếu ai có thời gian quan sát kỹ sẽ nhận thấy trong đó ẩn chứa sự hung ác. Y có một khuôn mặt đầy đặn với xương cằm cao, mũi hẹp và thẳng, và một đôi môi mỏng. Khi cười, miệng y hơi nhếch lên ở hai bên khóe.

Kennebeck biết đến Alexander được năm năm và lão khinh miệt y ngay từ ngày đầu mới gặp. Lão tin là hai bên cùng có cảm tưởng tương tự nhau. Sự tương phản giữa họ ngày mỗi lớn thêm vì họ xuất thân từ hai thế giới cực kỳ khác biệt, và ai cũng tự hào bằng nhau về gốc gác của mình, cũng như khinh thị tất cả kẻ khác.

Harry Kennebeck xuất thân từ một gia đình nghèo mạt và từ đó mà vươn lên; trong khi Alexander thì ngược lại, y là con dòng cháu giống của một gia đình ở Pennsylvania, vốn giàu có và quyền uy từ suốt một trăm năm mươi năm, có thể lâu hơn. Kennebeck thoát khỏi cảnh nghèo khó bằng sự làm việc cần cù và lòng kiên trì. Alexander chẳng biết gì về sự làm việc cần cù; y leo lên địa vị cao vót như thể y vốn đã là một hoàng tử với sẵn quyền cai trị người khác.

Kennebeck chúa ghét thái độ đạo đức giả của Alexander. Cả gia đình y đều là một lũ đạo đức giả, họ tự hào có một lịch sử phục vụ người dân. Phần nhiều trong số họ chiếm những chức vụ cao trong chính quyền liên bang do tổng thống chỉ định; một số phục vụ cho nội các của tổng thống qua nửa tá triều đại tổng thống, mặc dù không ai từng hạ cố ra tranh cử một ghế do dân bầu.

Dòng họ nổi tiếng Alexanders luôn luôn ồn ào với các hoạt động đấu tranh cho dân quyền của người thiểu số, cho Tu Chính Án về Quyền Bình Đẳng, vận động chống án tử hình, và lý tưởng hóa xã hội về mọi phương diện. Vậy mà nhiều thành viên trong gia đình lại bí mật góp tay, một số bằng việc làm bẩn thỉu, với FBI, CIA, và những cơ quan tình báo khác cũng như cơ quan cảnh sát, thường là cùng những tổ chức mà họ luôn luôn công khai mạt sát và chống lại.

Giờ đây George Alexander là trưởng văn phòng tiểu bang Nevada của lực lượng cảnh sát mật vụ đầu tiên của đất nước, sự kiện rõ ràng y không hề nghiêng nặng về cái lương tâm cấp tiến của y.

Lập trường chính trị của Kennebeck nghiêng về phía cực hữu. Hồi còn trai tráng, lão lần đầu tiên lao vào nghề làm tình báo, và lão từng kinh ngạc khi khám phá ra rằng không ai trong thế giới gián điệp này chia sẻ với lão cái quan điểm chính trị cực hữu. Lão kỳ vọng bạn đồng sự đều là những người cực kỳ yêu nước thuộc cánh hữu. Nhưng đám người làm nghề rình mò nầy cũng được điều hành bởi những kẻ thuộc cánh tả. Đồng thời Kennebeck nhận thấy cả phe cực tả lẫn cực hữu đều san sẻ chung hai mục tiêu căn bản : Họ muốn làm cho xã hội trật tự hơn mặc dù xã hội đã trật tự một cách tự nhiên rồi, và họ muốn tập trung quyền kiểm soát lên dân số với một chính quyền mạnh. Dĩ nhiên cánh tả và cánh hữu có khác biệt nhau về một vài chi tiết, nhưng điểm bất hòa chính yếu duy nhất tập trung vào đặc tính của những ai được chấp nhận là thành phần của giai cấp thống trị có đặc quyền, một khi đã tập trung đủ quyền lực.

Kennebeck nhìn Alexander rảo bước ngang qua căn phòng. Lão nghĩ ít nhất động cơ hành động của mình phát xuất từ sự chân thật. Ý kiến công khai của mình cũng giống của những người khác khi mình bày tỏ riêng với họ, và rằng đức tính ấy Alexander không có. Mình không phải là kẻ đạo đức giả, mình hoàn toàn khác với Alexander. Chúa ơi, y là một tên thiển cận mà tự mãn, một tên khốn nạn!

“Tôi vừa nói chuyện với mấy gã canh chừng nhà thằng Elliot,” Alexander nói. “Chưa thấy hắn ló mặt.”

“Tôi đã bảo với anh là hắn sẽ không trở lại nhà đâu.”

“Sớm muộn rồi hắn cũng sẽ trở về.”

“Không. Không cho đến khi hắn biết chắc đã êm hẳn. Ngược lại hắn sẽ lặn sâu.”

“Hắn sẽ mò đến cảnh sát ở đâu đó và chúng ta sẽ tóm được hắn.”

“Nếu hắn tin cảnh sát có thể giúp được thì hẳn nhiên hắn đã tìm đến từ khuya rồi,” Kennebeck đáp. “Nhưng hắn đã không chường mặt đến và hắn sẽ không bao giờ làm vậy.”

Alexander liếc nhìn đồng hồ. “Vậy thì có thể hắn sẽ đến đây. Tôi tin chắc hắn có nhiều câu hỏi đang muốn hỏi anh.”

“Ồ cái đó thì tôi cũng tin chắc như vậy. Hắn rất muốn lột da tôi,” Kennebeck nói. “Nhưng hắn sẽ không đến đêm nay. Có lẽ còn lâu nữa hắn mới đến vì hắn dư biết chúng ta đang chờ hắn. Hắn biết rõ trò chơi nầy mà. Anh nên nhớ hắn thường chơi trò nầy trong quá khứ.”

“Đó là chuyện đời xưa,” Alexander nóng nảy nói. “Hắn trở lại đời sống dân sự từ mười lăm năm qua, không còn hoạt động tình báo nữa. Cho dù hắn có năng khiếu tình báo bẩm sinh hắn cũng không thể còn nhạy bén như xưa được nữa.”

“Đó là điều tôi từng cố trình bày với anh,” Kennebeck nói, tay lùa mớ tóc bạc trước trán ra đằng sau. “Elliot đâu phải đứa ngu. Hắn là người sĩ quan trẻ tuổi, giỏi và thông minh nhất từng phục vụ dưới quyền tôi. Hắn có năng khiếu tình báo bẩm sinh. Đó là khi hắn còn trẻ và tương đối chưa có kinh nghiệm. Nếu năng khiếu của hắn già theo với tuổi tác thì ngày nay hẳn nhiên hắn sẽ nhạy bén hơn nữa.”

Alexander không muốn nghe điều ấy. Mặc dù hai sứ mệnh y ra lệnh thi hành đã hoàn toàn thất bại nhưng y vẫn tự tin; y tin tưởng rồi ra cuối cùng y sẽ thắng cuộc. Y vẫn luôn luôn tự tin như thế. Kennebeck nghĩ, nếu y ý thức được sở đoản của mình, tên chó đẻ này sẽ bị đè chết khi cái ngã to tướng của y bị đổ sụp.

Alexander đi đến bên cái bàn làm việc to lớn bằng gỗ thích và ngồi xuống chiếc ghế có tay dựa của Kennebeck. Ông tòa trố mắt nhìn trong khi Alexander giả bộ không để ý đến vẻ không bằng lòng của Kennebeck. Y nói:

“Chúng ta sẽ tìm thấy thằng Elliot và con mụ Tina trước sáng mai. Tôi tin chắc như thế. Chúng ta đã rải người khắp mọi nơi. Chúng ta có người kiểm soát mọi hotel và motel … “

“Đó là việc làm phí thì giờ,” Kennebeck nói. “Elliot thừa thông minh để không chui đầu vào mấy nơi đó rồi để lại tên tuổi khi đặt phòng. Hơn nữa, hotel và motel ở Las Vegas nhiều hơn bất kỳ thành phố nào trên thế giới.”

“Tôi biết tầm mức phức tạp của việc đang làm,” Alexander nói. “Nhưng biết đâu chúng ta gặp hên. Đồng thời chúng ta kiểm tra các cộng sự ở tổ hợp luật sư của hắn, các bạn bè hắn, bạn bè của con mụ đàn bà đó, và bất kỳ ai mà xét thấy hắn có thể tới tạm lánh.”

“Anh làm gì có đủ nhân lực để bao trùm tất cả như vậy,” ông tòa nói. “Anh có công nhận như vậy không ? Anh nên dùng người một cách khôn khéo hơn. Anh rải người ra mỏng quá. Điều anh nên làm là … “

“Tôi là người quyết định,” Alexander lạnh lùng cắt ngang.

“Các phi trường thì sao ?”

“Có người lo rồi luôn,” Alexander trấn an. “Người chúng ta kiểm tra danh sách hành khách tất cả các chuyến bay bay đi.” Vừa nói y vừa cầm cái rọc thư có cán làm bằng ngà và lật qua lật về từ tay này qua tay kia. “Đằng nào thì dù người chúng ta rải ra quá mỏng nhưng cũng không thành vấn đề cho lắm. Tôi biết ở đâu chúng ta sẽ tóm được thằng Elliot. Nơi đây. Ngay tại nhà nầy. Đó là lý do tại sao tôi vẫn lui tới đây. Ồ, tôi biết, tôi biết, anh không nghĩ hắn sẽ dẫn xác đến. Nhưng ngày xưa anh đã từng là thầy của hắn, người mà hắn kính nể, người mà hắn học hỏi, và bây giờ anh phản lại hắn. Hắn sẽ đến đây để đối mặt với anh dù hắn biết điều ấy là nguy hiểm. Tôi chắc là hắn sẽ đến.”

“Vô lý,” Kennebeck chua chát nói. “Quan hệ giữa chúng tôi chưa hề được như vậy. Còn hắn … “

“Tôi biết bản chất của con người,” Alexander nói, mặc dù y là kẻ có óc quan sát và phân tích kém nhất mà Kennebeck từng biết. Thời buổi hiện nay ít người giỏi có thể tiến thân trong cộng đồng tình báo trong khi bọn bất tài thì cứ nổi lên đều đều. Vừa giận vừa phẫn nộ, Kennebeck quay nhìn lại cái chai bên trong có chiếc tàu khu trục nhỏ kiểu Pháp. Kennebeck chợt nhớ đến điều quan trọng liên quan đến Elliot. “À.”

Alexander bỏ xuống cái hộp đựng thuốc lá làm bằng men sứ mà y đang ngắm nghía, y hỏi, “Chuyện gì ?”

“Elliot là một phi công. Hắn có máy bay riêng.”

Alexander nhíu mày.

“Anh có kiểm soát các máy bay nhỏ không ?” Kennebeck hỏi.

“Không, chỉ kiểm soát các chuyến hàng không có lịch trình.” Alexander nói. “Nhưng hắn phải cất cánh vào ban đêm, anh nghĩ hắn có giấy phép bay đêm không ? Hầu hết phi công thương gia và phi công tiêu khiển đều chỉ được bay ban ngày thôi.”

“Tốt nhất là anh nên đặt người ngoài phi đạo,” Kennebeck nói. “Tôi cá mười xu ăn một trăm đô rằng Elliot sẽ lọt ra khỏi thành phố trước mũi anh cho mà coi.”

Hết phần 1, chương hai mươi bốn

(Xem tiếp kỳ 32)

Trở về kỳ trước

 

 

 

 

 

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: