//
you're reading...
Cao Nguyên Lộc, Dịch Thuật, về Lịch Sử

Chuyện kể về con tàu định mệnh USS Indianapolis – Cao Nguyên Lộc

 

(Viết theo bài báo đăng trên tờ The Washington Post ngày 20.08.2017)

angelique_2

Tuần dương hạm USS Indianapolis.

 

Đó là một đêm tháng Bảy nóng bức, nhiệt độ khoảng 110 độ F, tức hơn 43 độ C, ngay giữa biển Thái Bình Dương.

Chiếc tuần dương hạm USS Indianapolis vừa mới hoàn tất một công tác bí mật, đó là chuyển giao bộ phận cho việc ráp quả bom nguyên tử đến đảo Tinian, nằm trên quần đảo Mariana Islands. Quả bom này được đặt tên là “Little Boy” (thằng bé con), mà sau đó sẽ được thả xuống thành phố Hiroshima ở Nhật.

Vào đêm đó, con tàu đang đi về hướng Tây, phía Vịnh Leyte thuộc Phi Luật Tân, nơi nó sẽ phối hợp với chiến hạm USS Idaho để chuẩn bị tấn công vào nước Nhật. Chiếc tuần dương hạm đang chạy ở vận tốc 32 knot và giảm xuống còn 17 knot (knot là đơn vị đo tốc độ trên biển, tương đương 1 hải lý, tức 1 km 852), điều Hạ Sĩ Edgar Harrell nghe được tiếng thuyền trưởng nói qua hệ thống loa của tàu. Lúc ấy vào khoảng nửa đêm, Harrell vừa xong phiên gát. Người chiến binh Thủy Quân Lục Chiến 20 tuổi, cư dân của tiểu bang Kentucky, đi xuống tầng dưới, chộp lấy chiếc chăn và đi vào giấc ngủ.

Điều mà anh và các thủy thủ khác không hề hay biết là họ đang bị quan sát. Từ độ sâu bên dưới đại dương, chiếc tàu ngầm I-58 của Nhật đang chuẩn bị bắn sáu quả ngư lôi.

Hai quả trúng vào chiếc tàu. Quả đầu tiên chỉ vài phút sau khi Harrell đã đi vào giấc điệp. Quả thứ hai trúng ngay giữa tàu, gần nơi chứa nhiên liệu và thuốc súng.

Harrell có thể nghe rõ và cảm nhận được nước đang dâng lên ở tầng dưới. Chung quanh hầu như tối đen. Sức nổ làm tắt hết nguồn điện trên tàu, và ánh sáng duy nhất anh thấy được là ánh bập bùng của lửa khói. Harrell không biết chuyện gì vừa xảy ra, anh chỉ biết chạy đến phòng chỉ huy chờ lệnh.

Anh nhớ lại: “Cả khúc tàu dài 100 m chìm hẳn xuống làn nước. Chúng tôi biết con tàu đã tới số rồi, nó sắp rời bỏ chúng tôi và sẽ mang chúng tôi theo, ngoại trừ chúng tôi thoát kịp ra ngoài.”

Kế đó anh nghe tiếng thuyền trưởng vẳng lại từ xa: “Bỏ tàu! Bỏ tàu! Bỏ tàu! Bỏ tàu!”

Anh leo sang phía hông tàu, đeo theo sợi dây cáp để tuột xuống, mắt “nhìn về hướng vô cực.”

Chiếc tuần dương hạm thời Thế Chiến II dài 610 ft bị đứt làm đôi, rồi chìm hẳn chỉ trong vòng 15 phút, để lại trên mặt biển một lớp dầu đen điu.

Khoảng 800 trong số gần 1.200 thủy thủ thoát được ra ngoài trước khi con tàu chìm hẳn vào ngày 30 tháng Bảy, 1945. Hải Quân Mỹ không hay biết gì cả nên không gửi ai đến cứu. Trong bốn ngày, những người đàn ông khốn khổ này, vài người có được áo phao, trôi bập bềnh vô phương hướng và tuyệt vọng giữa vùng biển mênh mông đầy cá mập. Nhiều người chết vì thiếu nước, vì đói và vì bị cá mập tấn công. Chỉ 317 người còn sống vào lúc một phi công tình cờ trông thấy họ trong lúc đang bay tuần tra ngang qua.

Ông Harrell đến tháng Mười năm nay là được 93 tuổi. Ông là một trong vài người còn sống để nghe được tin toán khảo sát do ông Paul G Allen, nhà đồng sáng lập công ty Microsoft, loan báo vừa xác định được địa điểm nơi chiếc USS Indianapolis bị đắm, ở độ sâu cách mặt biển chừng 3 dặm rưỡi, tức khoảng 5 cây số rưỡi. Khám phá này được công bố hôm Thứ Bảy, 72 năm sau khi con tàu bị đánh chìm.

 

ChiêuỨng_2

Ông Edgar Harrell năm 1945 lúc mới 20 tuổi, và hiện nay. (Hình: CBS)

 

“Sự kiện này đóng lại hồi kết của câu chuyện,” ông Harrell nói. “Nhưng kinh nghiệm mà chúng tôi trải qua, sự nhọc nhằn mà chúng tôi cảm nhận, vẫn còn hiện hữu mãi.”

Ông Harrell, người viết một cuốn sách kể về kinh nghiệm sống sót đau thương của mình, từng đi khắp nước Mỹ để kể lại, thường là với những chi tiết rõ mồn một.

“Tôi vẫn còn thấy và cảm được … nỗi đau đớn của bốn ngày rưỡi bơi lội đó. Tôi vẫn còn nhớ như mới xảy ra ngày hôm qua,” ông nói.

Ông Harrell kể lại rằng, ông cùng khoảng 80 thủy thủ khác tụ gần lại với nhau sau khi tàu chìm, trong khi những người khác tản mác dần đi nơi khác. Ông nhớ trông thấy nhiều vi cá mập lượn vòng chung quanh họ. Ông không quên được cảm giác một đồng ngũ ông thấy hôm nay, để rồi ngày hôm sau, cùng thân thể đó, nổi bập bềnh trên nước trong tình trạng khó có thể nhận ra được.

Khát, thân thể khô nước và tuyệt vọng, khiến một số trong nhóm ông bắt đầu uống nước biển. Nhiều người bị ảo giác và ngất đi. Đôi khi từ đâu đó ông nghe vẳng tiếng người la thét qua tiếng ọc của máu. “Quí vị trố mắt nhìn. Và kìa chiếc áo phao chìm xuống, rồi một phần thân thể trồi lên trên mặt nước,” ông kể tiếp.

Điều đó cứ xảy đến, lập đi lập lại mãi.

Ngoài ra, chiếc áo phao không đủ sức nâng sức nặng của một con người nên ai cũng phải bơi không ngừng, nếu muốn tiếp tục nổi.

Đến ngày thứ ba, khi chỉ còn 17 người trong nhóm ông còn sót lại, họ trông thấy một mảnh bè nhỏ. Họ quyết định dùng nó để bơi về hướng Phi Luật Tân, nơi hy vọng sẽ được có người trông thấy để cứu. Xế chiều cùng ngày, Harrell trông thấy một thùng gỗ, ông liền vội bơi đến, hy vọng tìm được thức ăn và nước uống. Cơ thể ông quá thiếu nước đến nỗi lưỡi ông rộp phồng lên. Bên trong thùng là một mớ khoai tây đã hư thối. Ông lượm vài trái, dùng tay lẫn răng lột bỏ phần bị hư. Đó là thức ăn duy nhất mà ông và mấy người khác có được.

Đến khoảng 11 giờ sáng ngày thứ tư, Trung Úy Wilbur Gwinn đang lái chiếc phóng pháo cơ trên chuyến tuần tra thường lệ, khi nhìn xuống nước, ông thấy cái gì đó. Ông liền hạ thấp xuống để xem và trông thấy nhiều người đang trôi nổi trên mặt biển. Vì không thể hạ xuống nước được nên ông liền gọi về căn cứ: “Trông thấy nhiều người nổi trên nước, cần được cấp cứu.”

Một phi công khác, Trung Úy Adrian Marks, được phái đến cứu. Trên đường, ông gặp chiếc khu trục hạm USS Cecil Doyle và báo động với thuyền trưởng về sứ mạng cấp cứu. Thuyền trưởng chiếc Doyle liền cho chuyển hướng con tàu và đi về nơi có mấy thủy thủ trôi trên biển.

Trung Úy Marks đến trước chiếc Doyle vài giờ và cứu được 56 người. Ông Harrell nằm trong số này. Khi chiếc Cecil Doyle đến nơi thì trời đã tối hẳn.

 

bún hến

ChiêuỨng_3

Những người lính còn sống sót sau khi được đưa lên đất liền. (CBS video)

 

Ông Harrell kể lại: “Hầu hết ai tình trạng cũng giống như tôi. Đứng không nổi. Ngay cả ngồi thẳng dậy cũng đã khó rồi. Chúng tôi quá kiệt sức, sụt khoảng 20 đến 25 pound.”

Ông được đưa bằng máy bay đến một bệnh viện ở đảo Guam. Ông vẫn còn lưu lại đây khi trái bom “Little Boy” được thả xuống Hiroshima vào ngày 6 tháng Tám, 1945. Đến tháng Mười năm ấy, ông được trở về Hoa Kỳ nhưng chứng đau ruột dư khiến ông ở lại bệnh viện thêm nhiều tuần nữa ở San Diego. Ông nói, các bác sĩ chích cho ông 11,8 triệu đơn vị thuốc trụ sinh penicillin.

Ông được giải ngũ vào tháng Giêng năm 1946.

Nhưng câu chuyện vẫn chưa dừng ở đây.

Trong suốt nhiều năm, thủy thủ đoàn không biết ai là người chịu trách nhiệm cho vụ chiếc Indianapolis bị chìm và sự mất mát của quá nhiều nhân mạng. Nhưng muôn sự đều trút lên đầu cho vị thuyền trưởng thân yêu Charles Butler McVay III, người trong số những người còn sống sót. Sau chiến tranh, ông McVay bị đưa ra xử tại tòa án quân sự và bị kết tội không bảo vệ cho con tàu tránh khỏi trúng ngư lôi. Bộ Trưởng Hải Quân James Forrestal xóa án cho ông McVay vào năm 1946, ca ngợi ông là người can đảm, nhưng bản án vẫn còn ghi trong hồ sơ quân bạ của ông. Ba năm sau, ông McVay về hưu.

Ông Harrell nhận xét: “Thật không công bình khi đổ hết tội cho Đại Tá McVay.”

Ông Harrell cho biết ông có gặp lại ông McVay tại buổi họp hội ngộ lần đầu tiên của những người sống sót, tổ chức vào năm 1960 tại Indianapolis, thành phố mà chiếc tuần dương hạm xấu số mang tên. Trước đó ông có viết thư cho thuyền trưởng mời ông đến tham dự. Tờ báo địa phương chụp ông Harrell và ông McVay bắt tay nhau tại buổi hội ngộ. Ông Harrell hiện còn giữ tấm hình và lá thư hồi âm của ông McVay.

Nhưng tám năm sau, vào năm 1968, ông McVay tự sát bằng súng, ông không sống lâu thêm để được thấy chứng cớ của sự vô tội của ông được công bố trước công chúng.

 

bún hến_2

 

Vào đầu thập niên 1990, những tin mật hồi trước tiết lộ rằng tình báo Hoa Kỳ có biết đến hai chiếc tàu ngầm Nhật, trong đó có chiếc bắn ngư lôi, đang trên cùng lộ trình với chiếc USS Indianapolis. Ông McVay và thủy thủ đoàn được phái đi mà không hề được thông báo về hiểm nguy đang chờ họ ở đằng trước.

Nhiều năm sau, dưới áp lực của những người sống sót, ông McVay được giải tội, Quốc Hội Mỹ và Tổng Thống Bill Clinton phục hồi danh dự cho ông.

Mười chín người sống sót, trong đó có ông Harrell, vẫn còn sống cho đến hôm nay. Mỗi năm họ vẫn gặp lại nhau.

Đừng quên đọc thêm bản tin về việc tìm thấy xác chiếc USS Indianapolis, được loan báo hôm Thứ Bảy:

https://thantrinhomhue.com/2017/08/20/thien-ha-su-16-08-17-tim-thay-xac-chiec-uss-indianapolis/

 

 

Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: