//
you're reading...
Bút ký, Colnav Nguyen, Du Lịch, Photography

Sáu ngày, viếng sáu tiểu bang trung tây Hoa Kỳ * Colnav Nguyen

Trong chuyến du lịch theo tours kéo dài 6 ngày vào tháng Bảy năm nay, tôi có dịp đi qua 6 tiểu bang miền trung tây Hoa Kỳ, gồm Utah, Idaho, Montana, Wyoming, South Dakota, và Colorado. Tôi có dịp viếng các nơi như Yellowstone NP, Grand Teton NP, Great Salt Lake, Devils Tower, Crazy Horse, Mt Rushmore State Park; đặc biệt là chiến trường xưa Little Big Horn, nơi quân Mỹ đại bại trong cuộc giao tranh với quân da đỏ vào năm 1876. Bài bút ký chuyến đi sẽ được tường thuật chi tiết ở mỗi nơi kéo dài trong nhiều kỳ, cám ơn sự kiên nhẫn của bạn đọc, thỉnh thoảng nhớ mở lại blog thantri để xem tiếp bài mới. CN

DAY ONE _ 12.07.2026 _ UTAH

GREAT SALT LAKE

Magna, Great Salt Lake State Park, Utah.

Tháp tùng theo đoàn du lịch do công ty Travel Tours ATNT ở Nam California tổ chức, năm nay tôi có dịp được cỡi ngựa xem hoa khỏi phải cầm tay lái, hoặc tự tổ chức đi vất vả. Với xe buýt 52 chỗ ngồi có máy lạnh, rộng rãi mênh mông, đoàn tổng cộng 22 hoặc 23 người, chiếm chỉ phân nửa xe. Đa số đi cặp, ngoại trừ tôi và một cô khách nữa là đi độc hành, đó là lý do tại sao chuyến tôi có đến hai trưởng đoàn, một nam (tên T.), và một nữ (tên DB), đều là người của công ty, để “share” phòng khách sạn với khách đi một mình. Chẳng biết do cơ duyên nào mà đa số người trong đoàn đều cùng hạng “bốn cao một thấp,” đó là cao mỡ, cao máu, cao đường, cao… tuổi, và một thấp, theo tôi là thấp khớp chứ chẳng ai có vẻ thấp income cả. Nên nhớ ATNT là tours deluxe mà.

Sáng 12.07 chuyến bay Delta 3135 cất cánh từ phi trường Long Beach, California lúc 7:00 am và đến Salt Lake City, Utah, vào lúc 10:00 am. Một chiếc xe buýt màu đỏ hiệu Provo, tên của thành phố lớn thứ tư của tiểu bang và tiếp cận Salt Lake City, đón chúng tôi ở phi trường. Nó và anh tài Mỹ tên Scott rồi đây sẽ tiếp tục đưa chúng tôi đi ngoạn cảnh qua sáu tiểu bang trong thời gian sáu ngày, từ 12 đến 17.

Salt Lake City chào đón chúng tôi ở nhiệt độ 107 độ F, tương đương 41,6 độ C, kể ra cũng còn dễ chịu hơn so với ngày đầu tiên tôi đáp xuống New Delhi, Ấn Độ vào giữa tháng 5.2025. Nhiệt độ lúc bấy giờ ở 48 độ C, tức 118 độ F, vào lúc nửa đêm mới nói chứ. Lúc tôi còn ở bên trong phi trường, nhìn lên dãy số digital to đùng trên tường chỉ nhiệt độ ngoài trời mà không tin mắt mình. Bước ra ngoài, bạn sẽ có cảm giác như đang tắm sauna, liều nhẹ, toàn thân tự nhiên rướm ướt mồ hôi. Không lạ gì đi khắp xứ Ấn, đâu đâu cũng thấy người ta tay cầm một chai nước loại một lít. Cái gì chứ tập quán này tôi tự học theo họ rất nhanh, phải nói là ngay tức thì. Sauna đích thực đòi hỏi nhiệt độ đá tỏa phải trong khoảng 70-90 độ C. Nhiệt độ khiến con người cảm thấy khó chịu giao động trong khoảng giữa 90 và giữa 110 độ F, tức giữa 35 và 46 độ F.

Từ phi trường xe theo xa lộ 80, chạy về hướng đông, thẳng ra phía hồ Great Salt Lake để bà con có dịp xem cho biết cái hồ mà tên nó được đặt cho thủ phủ của tiểu bang Utah.

Great Salt Lake chúng ta thấy ngày nay là tàn tích lớn nhất còn lại của đại hồ Bonneville thời cổ đại, mà vào thời đỉnh điểm, nó trải rộng đến 22.400 dặm vuông (58.000 km vuông), gấp mười lần diện tích hồ ngày nay. Bonneville hiện hữu cho đến khoảng 16.800 năm trước, sau khi một phần lớn lượng nước của hồ mất đi do bị xả tràn qua đèo Red Rock ở Idaho. Với khí hậu ấm dần, phần hồ còn lại cũng bắt đầu cạn theo, để lại các hồ riêng biệt như Great Salt Lake, Utah Lake, Sevier Lake, và Rush Lake. Great Salt Lake là hồ lớn nhất tính từ phía tây sông Mississippi. Nó nằm trong số những hồ mặn nhất trên Trái đất, mặn hơn từ bốn đến tám lần so với độ mặn của nước biển.

Bản đồ so sánh kích thước của hồ cổ đại Lake Bonneville 16.000 năm trước với Great Salt Lake ngày nay. Sau khi khô kiệt dần, chỉ còn lại các hồ Sevier Lake, Utah Lake, và Great Salt Lake, hồ lớn nhất trong ba hồ. (geology.utah.gov)
Ngoài dân bản địa khám phá hồ trước tiên, đến năm 1825, ông James Clayman mới du hành băng qua hồ bằng thuyền, rồi sang năm 1843, hai ông John C. Fremont và Kit Carson cũng theo chân. Tuy nhiên đến năm 1847 chiếc “Mud Hen” là thuyền buồm đầu tiên hạ thủy tại đây và môn chơi đi thuyền buồm trên hồ trở thành môn giải trí thịnh hành từ năm 1860.
The Great Saltair, nằm bên bờ nam của Great Salt Lake, là tụ điểm của các buổi trình diễn nhạc lưu diễn ngoài trời, các festival.
Từ giữa thế kỷ 19, người ta bắt đầu xuống tắm, bơi lội ở hồ. Sự đậm đặc của muối cho phép người ta “nổi như nút điển” trên mặt nước một cách dễ dàng. Để tận dụng trải nghiệm độc đáo này, tòa nhà Saltair được xây dựng vào năm 1893 và nhanh chóng được biết đến như là khu nghỉ dưỡng tắm lội giải trí đặc biệt.
Tính đến đầu thập niên 1920, Saltair đã thu hút gần nửa triệu du khách mỗi năm. Saltair bị cháy rụi vào năm 1925 rồi Saltair II được tái dựng ngay vào năm sau nhưng rồi ra lại bị hoành hành bởi nền kinh tế lụn bại, gió bão, hạn hán, hỏa hoạn và lụt lội trong nhiều thập niên kế tiếp. Đến đầu thập niên 1980, Saltair III được xây lại, bất hạnh thay, chỉ vài tháng sau khi vừa hoàn tất, nước hồ dâng cao làm ngập lụt toàn diện. Năm 1993, nhân kỷ niệm lần thứ 100, Saltair lại một lần nữa được mở cửa, lần này như là một tụ điểm trình diễn nhạc sống ngoài trời với sức chứa 1.500 người. Tòa nhà với những mái vòm hình cũ hành là bản làm lại vào năm 1981, dựa theo bản gốc của năm 1893.
Khu nghỉ dưỡng Saltair nguyên thủy, chụp năm 1900, thuở ấy tòa nhà nằm trên cầu tàu cách xa bờ. (Wikipedia)

Do đâu mà hồ lại trở nên quá mặn?

Ba con sông chính Bear, Weber, và Jordan đổ vào Great Salt Lake nhưng gặp đây là điểm tận cùng không có lối nào thông ra đại dương, tụ lại thành hồ lớn. Nước chỉ có lối thoát duy nhất là tự bốc hơi, để lại muối tự nhiên và các chất khoáng. Hằng năm, ba con sông ký gửi vào hồ vài triệu tấn chất rắn hòa tan (muối và các chất khoáng). Great Salt Lake là hồ nước mặn lớn nhất ở vùng Tây bán cầu.

Bear River là nhánh sông lớn nhất, khởi nguồn từ Unita Mountains, chảy xuyên qua Utah, Wyoming, và Idaho, cung cấp gần 60% nguồn nước cho hồ hằng năm.

Weber River cũng chảy xuống từ dãy núi Unita Mountains và đổ vào sườn phía đông của hồ, góp phần 15% lượng nước.

Jordan River thu gom nước từ các sông, suối nhỏ chảy xuống từ các rặng núi bao bọc chung quanh Salt Lake City và Provo, rồi đổ vào hồ, cung cấp được 22% lượng nước.

Những vùng nước mặn nhất trên Trái đất:
Dead Sea : 33% muối
Great Salt Lake, north : 25% muối
Great Salt Lake, south : 14% muối
Đại dương : 3.5% muối

Nhà máy luyện kim Kennecott Garfield từ Visitor Center nhìn qua. Ống khói bằng bê tông cao 1.215 ft (khoảng 300 m), xây vào năm 1974, đủ cao để phân tán vào bầu trời khí thải lẫn lưu huỳnh đã qua xử lý từ nhà máy nấu đồng Rio Rinto Kennecott nằm cạnh bên. Nhà máy này điều chế đồng khai thác từ mỏ Bingham Canyon Mine.
Muối kết tinh trắng xóa ở ven hồ, nhìn từ bãi đậu xe ở Visitor Center của Great Salt Lake State Park..
Hồi năm 2023, giới khoa học trường Brigham Young University từng cảnh báo rằng trước năm 2028 Great Salt Lake có thể sẽ khô cạn hoàn toàn nếu khuynh hướng tiêu xài nước vẫn tiếp tục không thay đổi. Họ đặc biệt lưu ý vấn đề chuyển nguồn chảy ở thượng nguồn để tưới ruộng. Tuy nhiên, tiếp sau những mùa đông ướt át bất thường, giới chức tiểu bang và lực lượng đặc nhiệm nay lại có tham vọng làm cho hồ đầy trở lại cho kịp kỳ Thế Vận 2034, mà Salt Lake City sẽ đứng đăng cai tổ chức, dẫu rằng để đạt được yêu cầu ấy phải có biện pháp tiết kiệm nước đại trà hằng năm thật khắc khe.
Dãy núi xa xa là Antelope Island, dài 15 dặm, rộng 4,5 dặm, được xem là đảo lớn nhất trong Great Salt Lake. Được đặt tên như vậy từ năm 1845 sau khi một đoàn thám hiểm quan sát thấy nhiều linh dương sừng nhánh đang gặm cỏ trên các cánh đồng. Antelope Island nay cũng là quê nhà của nhiều thú hoang, trong đó có hơn 500 bò rừng bison.
Xa xa về phía trái của ba người là tụ điểm ca nhạc The Saltair, giữa họ và tòa nhà là phần khô cạn của hồ.
Mực nước hồ đang ngày càng cạn dần một cách nghiêm trọng do hạn hán và do chuyển dòng chảy từ thượng nguồn các con sông để lấy nước dẫn thủy nhập điền, khi chảy qua các tiểu bang trước khi đổ đến hồ.
Nếu Great Salt Lake bị khô cạn, nó sẽ khởi động một thảm họa môi trường và sức khỏe cộng đồng cho Utah, đặc biệt là 2,5 triệu cư dân đang sống ở phía cuối chiều gió, dọc theo rặng Wasatch. Thảm họa có thể làm tê liệt các ngành kỹ nghệ địa phương, xóa sổ hệ sinh thái mong manh khiến khu vực hầu như không thể sinh sống được. Hậu quả đặc biệt gồm: các trận bão bụi độc mang theo thạch tín, thủy ngân, và chì, gây nên bệnh hô hấp, bệnh tim mạch và khủng hoảng y tế dài lâu. Hồ khô kiệt góp phần gia tốc sự thay đổi khí hậu.
Great Salt Lake tạo nên một hệ sinh thái thiết yếu cho hằng triệu loài chim thiên di và thú hoang địa phương. Hồ khô kiệt sẽ khơi mào một sự đổ sụp hoàn toàn mạng lưới thực phẩm địa phương, dẫn đến hiện tượng sinh vật chết hàng loạt trên quy mô lớn.
Great Salt Lake sâu cạn không đồng đều, tùy vào mức độ bốc hơi và lượng nước ngọt do các con sông bổ sung thêm vào hằng năm. Diện tích bề mặt thay đổi từ 2.400 dặm vuông (6.200 km vuông) ở thời cao điểm vào năm 1873 và giữa thập niên 1980, xuống còn 888 dặm vuông (2.300 km vuông) ở thời kỳ xuống thấp nhất vào năm 2022. Độ sâu trung bình của hồ là dưới 15 ft hay 4,5 m, tuy vậy nơi sâu kỷ lục cũng chỉ xấp xỉ 35 ft hay 11 m.
Bờ nước của hồ cổ đại Bonneville cao gần đến đỉnh dãy núi trên đảo Antelope Island, chỗ dốc thoai thoải của núi do sóng vỗ vào liên tục suốt hằng nghìn năm tạo nên.
Cách đây 14 ngàn năm, hồ nước ngọt khổng lồ Bonneville từng trùm phủ hầu hết diện tích Utah, và nhiều phần của Idaho và Nevada. Nếu hồ ấy còn tồn tại ngày nay thì nơi đây bạn có lẽ đang đứng ở độ sâu 1.000 ft dưới đáy hồ.
Giới khoa học dự trù hồ trơ đáy sẽ bốc hơi hằng triệu tấn khí CO2 cùng những khí nhà kính khác vào bầu khí quyển, khiến sự nóng ấm toàn cầu trở nên tệ hại thêm. Great Salt Lake cạn khiến mất nguồn lợi hằng tỉ đô-la mỗi năm nhờ khai thác chất khoáng sản và tôm nước mặn, giá trị bất động sản bị sụt giảm nghiêm trọng trên toàn khu vực khi cư dân buộc phải dọn đi nơi khác.Thông thường, hồ cung cấp độ ẩm cần thiết cho những trận bão địa phương, hồ khô làm giảm trầm trọng mực tuyết rơi vào mùa đông khiến ảnh hưởng đến kỹ nghệ trượt tuyết và giải trí mùa đông.
Không có cá sinh sống trong hồ Great Salt Lake. Sinh vật duy nhất có thể chịu đựng được hàm lượng muối cao là giống tôm muối, ruồi muối, tảo, và vi khuẩn. Tôm và ruồi muối giúp giữ cho hồ được sạch và trong nhờ chúng ăn tảo mọc trong nước. Great Salt Lake là điểm dừng quan trọng của hằng triệu loài chim thiên di. Chúng ăn uống no nê vì nguồn thức ăn tôm và ruồi muối quá dổi dào.
Dãy núi ở chân trời là Stansbury Island, đảo lớn thứ nhì của Great Salt Lake, được đặt theo tên của ông Howard Stansbury, người thuộc đoàn thám hiểm được chính phủ Mỹ gửi đến đây vẽ bản đồ, miêu tả chi tiết về thung lũng và vùng ven bờ.

Cũng như mọi nơi nổi tiếng khác, Great Salt Lake có lưu lại ít nhiều truyền thuyết liên quan đến hồ, như “Water Babies” là một phần trong những chuyện dân gian của thổ dân, theo đó tiếng khóc của trẻ con có thể nghe được ở gần bờ hồ, dụ người ta tiến xuống gần hơn để rồi bị kéo chìm sâu xuống hồ, không bao giờ trở lại. Nào chuyện nàng Saltair Sally, một chuyện liêu trai ma quái được nhắc đến nhiều nhất. Vào mùa thu năm 2000, các thợ săn vịt trời đã phát giác được xác đang phân hủy của một phụ nữ gần khu vực Saltair. Thoạt đầu chưa nhận diện được là ai nên dân địa phương tạm gọi tên là “Saltair Sally”. Năm 2012, thử nghiệm DNA cho biết đó là Nicole Bakoles, một người mẹ 20 tuổi và là nạn nhân của một vụ giết người. Vụ án kéo dài chưa giải quyết xong khiến tạo nên nhiều chuyện ma quái trong khu vực, có người tận mắt nhìn thấy, có người nghe rõ tiếng. Hồi năm 1862, Jean Baptiste là một tên đào trộm mộ có tiếng, bị phát giác đã từng đào gần 300 ngôi mộ. Công chúng nổi giận đày ông ra đảo Fremont, ngoài khơi Great Salt Lake, nhưng hắn biến mất, và số phận hắn vẫn còn là một bí mật. Có người nói trông thấy hắn ở Montana nhưng chẳng có chứng cứ nào xác nhận điều đó là đúng thật cả.

ĐÓN XEM TIẾP KỲ (2): UTAH STATE CAPITOL_SALT LAKE TEMPLE

Thảo luận

Không có bình luận

Bình luận về bài viết này

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Thư viện

Chuyên mục