CRAZY HORSE MONUMENT _ INDIAN MUSEUM OF NORTH AMERICA
Tối qua chúng tôi ngủ lại tại ks Garner Gillette South Hotel ở Gillette, Wyoming. Trong kỳ trước các bạn đã xem phong cảnh chụp từ bên cửa sổ chỗ ngồi nhìn ra, trên đoạn đường từ Gillette đến ranh giới giữa hai tiểu bang. Nhìn vào bản đồ, ranh giới tiểu bang chạy từ bắc xuống, qua Spearfish dọc theo quốc lộ 85. Sau khi dừng xe tại bảng ranh giới để bà con chụp hình, chúng tôi đi tiếp vào rừng quốc gia Black Hills National Forest, đến nơi người ta đang xây dựng dở dang tượng đài thủ lĩnh da đỏ Crazy Horse ngồi trên lưng ngựa, chỉ tay về phía trước.
Từ ranh giới Wyoming – South Dakota, tiếp tục theo quốc lộ 16 E, vào đến đài tưởng niệm Crazy Horse Memorial, hai bên toàn núi đồi.
Cám ơn một người trong đoàn chụp giúp, khỏi mất công selfie bằng phone. 9:27 am
Rừng Quốc gia Black Hills trải rộng 1,2 triệu mẫu Anh bao trùm trên khắp miền tây South Dakota và đông bắc Wyoming, chiều dài chừng 110 dặm và 70 dặm bề rộng. Được đặt tên theo vẻ ngoài tối màu, phủ đầy thông của những núi đồi. Nơi đây mở cửa cho công chúng đến sinh hoạt giải trí, để đi bộ đường dài, lái xe ngắm cảnh, câu cá và cắm trại, bao quanh những địa điểm nổi tiếng như Mt Rushmore và Công viên tiểu bang Custer 9:39 am
Thông Ponderosa (Pinus ponderosa) là loài thông phổ biến và phong phú nhất trong Rừng Quốc gia Black Hills ở South Dakota, chiếm khoảng 85% tổng diện tích rừng.
Những cây này có thể cao hơn 100 ft (30 m) với lớp vỏ dày màu đỏ cam. Những tán lá kim dày đặc, màu xanh đậm tạo nên vẻ ngoài tối tăm đặc trưng cho vùng này, khiến người Lakota đặt tên cho khu vực là Paha Sapa, có nghĩa là “Đồi Đen”.
Vỏ cây thông Ponderosa ấm áp thường có mùi như vani, kẹo bơ cứng (butterscotch) hoặc caramel.
9:42 am
9:53 am
10:00 am
Kia là núi đá nơi cuộc đục, khắc để tạo tượng Crazy Horse ngồi trên lưng ngựa đang tiến hành. Nhìn kỹ có thể thấy cây cần cẩu vươn cao phía trên.
Xe buýt đưa chúng tôi đến bãi đậu của Indian Museum of North America, từ đó đứng nhìn qua ngọn núi chứ không được tiếp cận công trường. 10:02 am
“Đất đai của tôi là nơi những người đã khuất của tôi được chôn cất.” – Crazy Horse, 1877.
Mô hình tượng Crazy Horse cưỡi ngựa tại Viện Bảo tàng Da đỏ Bắc Mỹ đặt ở ngoài trời, cho thấy công trình đang được dần biến thành hiện thực trên quả núi ở phía xa. Tượng đài đang được tạc trên núi Thunderhead, trên vùng đất được một số người Oglala Lakota coi là linh thiêng, nằm giữa Custer và Hill City, cách núi Rushmore khoảng 17 dặm (27 km).
Kích thước cuối cùng của tác phẩm điêu khắc được lên kế hoạch là dài 641 feet (195 m) và cao 563 feet (172 m). Cánh tay trái duỗi thẳng sẽ dài 263 feet (80 m), khoảng trống dưới cánh tay rộng 70 feet (21 m) và cao 100 feet (30 m), và ngón trỏ duỗi thẳng dài 29 feet 6 inch (9 m). Khuôn mặt của Crazy Horse, được hoàn thành vào năm 1998, cao 87 feet 6 inch (26,7 m); để so sánh, đầu của bốn vị Tổng thống Hoa Kỳ tại Mount Rushmore mỗi người cao 60 feet (18 m).
Căn cứ theo bảng dữ kiện thi công ở trên, thì mắt và mí mắt của ngựa rộng 17,9 ft, cao 8,8 ft. Mũi dài 27,6 ft và nhô cao 8,8 ft. Nguyên cả mặt ngựa cao 87,6 ft (bằng tòa nhà 9 tầng).
Cần cẩu Liebherr, với chi phí ước tính khoảng 5,2 triệu USD, được thực hiện nhờ một số khoản quyên góp ẩn danh và được mua vào năm 2023 thông qua Morrow Equipment, với tất cả các bộ phận nặng 25.000 pound (11.000 kg) gộp lại và được vận chuyển lên núi bằng 17 xe tải. Cần cẩu được lắp ráp vào mùa hè năm 2025 và đã được sử dụng để loại bỏ các khối đá granit và di chuyển thiết bị trong thời gian giảm đáng kể. Điều này lại cho phép tập trung nhiều hơn vào việc chạm khắc, chuyển sang bờm ngựa và vai phải của Crazy Horse. Vào năm 2026, chiếc cần cẩu thứ hai của Liebherr và Morrow đã được lên kế hoạch để đẩy nhanh hơn nữa việc xây dựng.
Theo Wikipedia, Crazy Horse (1840-1877) là một thủ lĩnh chiến tranh của bộ tộc Oglala Lakota. Ông cầm vũ khí chống lại chính phủ Liên bang Hoa Kỳ để đấu tranh chống lại sự xâm lấn lãnh thổ và bảo vệ lối sống của người dân Lakota. Những hành động nổi tiếng nhất của ông chống lại quân đội Hoa Kỳ bao gồm Trận Fetterman (21 tháng 12 năm 1866) và Trận Little Bighorn (25–26 tháng 6 năm 1876).Danh tiếng của ông như một chiến binh và chiến lược gia tài giỏi khiến ông được người dân ngưỡng mộ và nhận được sự tôn trọng miễn cưỡng từ các đối thủ.
Sau nhiều tháng truy đuổi trong cuộc đại chiến Great Sioux War năm 1876–1877, Crazy Horse đầu hàng lực lượng Hoa Kỳ dưới sự chỉ huy của Tướng George Crook vào tháng 5, 1877 khi tìm cách bảo đảm sự sống còn cho lực lượng của mình trong bối cảnh nạn đói và áp lực quân sự. Căng thẳng với chính quyền quân sự và các lãnh đạo đối thủ Lakota diễn ra ngay sau đó.
Vào tháng 9, 1877, sau khi được đưa đến Trại Robinson ở tây bắc Nebraska, ông đã bị đâm tử thương bằng lưỡi lê trong quá trình được cho là giằng co với lính canh trong khi bị giam. Cái chết của ông nhanh chóng trở thành chủ đề của nhiều lời kể trái ngược nhau, nhưng kể từ đó ông đã tồn tại như một biểu tượng cho sự phản kháng của Lakota và tính toàn vẹn văn hóa.
Ông được xếp hạng trong số những thành viên bộ lạc người Mỹ bản địa đáng chú ý và mang tính biểu tượng nhất và được Bưu điện Hoa Kỳ vinh danh vào năm 1982 với con tem bưu chính 13¢ nằm trong loạt tem chủ đề Những Người Mỹ Vĩ Đại (Great Americans) của cơ quan này.
Tượng đài Crazy Horse là một công trình kiến trúc trên núi đang được xây dựng trên khu đất tư nhân ở vùng Black Hills. Công trình này được ủy thác bởi Henry Standing Bear, một trưởng lão người Lakota, và được điêu khắc bởi Korczak Ziolkowski, người Mỹ gốc Ba Lan. Công trình được điều hành bởi Quỹ Tưởng niệm Crazy Horse, một tổ chức phi lợi nhuận.
Tượng đài Crazy Horse tháng 3, 2017. (Ảnh chụp màn hình) Ngày 3 tháng 6, 1948, Ziolkowski cho nổ vụ nổ đầu tiên trên núi khởi công đài tưởng niệm được dành riêng cho người Mỹ bản địa. Công việc tiếp tục chậm chạp trong vài thập kỷ tiếp theo kể từ khi Ziolkowski từ chối nhận trợ cấp của chính phủ. Thay vào đó, ông đã quyên tiền cho dự án bằng cách thu 75 xu, phí vào cửa khu vực làm tượng đài.
Tượng đài Crazy Horse tháng 6, 2023. (Ảnh chụp màn hình) Sau khi Ziolkowski qua đời năm 1982 ở tuổi 74, góa phụ của ông, Ruth Ziolkowski, đã tiếp quản tác phẩm điêu khắc, giám sát công việc của dự án với tư cách là Giám đốc điều hành từ những năm 1980 đến những năm 2010.Ruth Ziolkowski tập trung vào việc hoàn thành khuôn mặt của Crazy Horse trước, thay vì con ngựa như chồng bà đã dự định ban đầu. Bà tin rằng khuôn mặt của Crazy Horse, sau khi hoàn thành, sẽ làm tăng sức hút của tác phẩm điêu khắc như một điểm thu hút khách du lịch, điều này sẽ mang lại thêm nguồn tài trợ. Bà cũng giám sát đội ngũ nhân viên, bao gồm bảy người con của bà.
Dụng cụ để khoan, đục, chạm, khắc đá. Năm 1998, phần đầu và khuôn mặt của Crazy Horse đã được hoàn thành và khánh thành; mắt của Crazy Horse rộng 17 feet (5,2 m), trong khi đầu của nó cao 87 feet (27 m). Ruth Ziolkowski và bảy trong số 10 người con của Ziolkowski tiếp tục công việc tại đài tưởng niệm. Con gái Monique Ziolkowski, bản thân cũng là một nhà điêu khắc, đã sửa đổi một số kế hoạch của cha mình để đảm bảo rằng trọng lượng của cánh tay duỗi thẳng được đỡ đủ.
Dụng cụ phá nổ đá núi. Kể từ khi hoàn thành phần đầu và mặt của Crazy Horse, phần lớn tác phẩm điêu khắc của tượng đài được dành cho cho tượng ngựa. Ruth Ziolkowski qua đời vào ngày 21 tháng 5, 2014, ở tuổi 87. Monique Ziolkowski trở thành Giám đốc điều hành và ba người anh chị em của cô tiếp tục làm việc trong dự án, cũng như ba người cháu trai của Ziolkowski, bao gồm Caleb, người sau này trở thành “giám đốc núi”.Dưới sự lãnh đạo của Monique Ziolkowski với vai trò CEO, công việc tập trung vào việc hoàn thiện cánh tay trái dang rộng của Crazy Horse.Đài tưởng niệm kỷ niệm 75 năm thành lập vào năm 2023. Cánh tay trái của Crazy Horse được hoàn thành vào năm 2024, với công việc hoàn thiện bắt đầu vào mùa hè năm 2024 ở mặt sau cánh tay của anh ấy để nhường chỗ cho một cần cẩu tháp mới được thiết kế để tiếp cận tất cả các phần của bức chạm khắc.
Tấm bảng đặt ở chân tượng người chiến binh da đỏ Lakota, bên ngoài tòa nhà bảo tàng. Lược dịch ở ba hình dưới.
Tượng điêu khắc có tên “Dead Song” do điêu khắc gia Ernest Berke thực hiện; tượng miêu tả một chiến binh da đỏ Lakota miền tây, thành viên của Miwa’tani, một nhánh của Akicita, tiếng Lakota nghĩa là chiến binh, mà thành viên chỉ có 20 người.
Người chiến binh đứng bên con ngựa quá mệt nhoài, chuẩn bị xông ra trận, cất tiếng ca bài ca của sự chết, sẵn sàng cho cái chết cận kề của mình. Dải vải cắm xuống đất bằng một cây dáo bằng gỗ.
Theo tập tục, vào những lúc chiến đấu tuyệt vọng, thành viên Miwa’tani tên gọi là “người mang dải băng” bám trụ xuống chỗ đất mình đang đứng, đối mặt với sự tấn công của kẻ thù. Hành động như vậy họ đang bảo vệ người anh em của họ đã gục ngã trên chiến trường, thay vì nộp mình cho kẻ thù. Chiếc dáo một khí cắm xuống đất thì người chiến binh vẫn bám trụ đến chết ngoại trừ khi được cứu.
Vào bên trong bảo tàng gặp ngay kẻ đã gặp ở Yellowstone, con bò rừng bison.
Hình mẫu đồ lễ phục trang trí cho một con ngựa trận, mặt hông..
.. và mặt trước.
Ông Douglas Fast Horse, thổ dân Oglala Lakota, thiết kế trang phục cho ngựa rập khuôn theo đúng với truyền thống lịch sử của dân tộc mình. Ông tốt nghiệp ngành hội họa và thiết kế tại trường Minneapolis College of Art and Design ở Minnesota. Ông Fast Horse nói mục tiêu của ông nhằm vinh danh di sản cha ông và giúp nói lên câu chuyện của dân tộc Lakota. Ông được nhiều giải thưởng toàn quốc qua túi xách trang trí, nôi em bé, tẩu thuốc và áo sơ mi, được nhắc đền trong các tạp chí như American Indian Art, Smithsonian, South West Art, và The New Yorker.
Thuyền độc mộc làm bằng vỏ cây bạch dương (birch bark canoe), được bịt kín bằng nhựa thông và xử lý bằng mỡ gấu để giữ nước. Nhờ làm bằng vật liệu nhẹ, thuyền có thể mang từ hồ này sang hồ khác.
VÙNG TÂY NAM HOA KỲ với những sản phẩm nghệ thuật của người Pueblo sống ở bốn góc khu vực giữa các tiểu bang Utah, Colorado, New Mexico, và Arizona, vốn được mệnh danh là “Cái giỏ văn hóa”. Vào giữa thế kỷ 20, sản phẩm của vùng này trở thành vật trao đổi có giá trị nghệ thuật.
Cây gậy phép tế lễ, làm bằng vuốt chim ưng, gỗ, hạt cườm, da, dải băng.
Tác phẩm “Female Yeis” của thổ dân Navajo làm bằng cát và đá vụn lấy từ khu vực bảo tồn Navajo Reservation, quanh Ship Rock, New Mexico. Đây là phiên bản vĩnh cữu, khác với phiên bản làm trên đất theo truyền thống đi kèm với những đợt cầu nguyện dài, như một phần của lễ tế chữa bệnh. Hình nhân trong tranh tượng trưng cho các thần nữ trung gian giữa thế giới tâm linh với trái đất. Họ đến để dạy về sự cân bằng giữa thiên nhiên và các chu kỳ sống.
Tác phẩm “Celebramos” của Amado Maurilio Pena, Jr, bộ tộc Pascua Yaqui, Arizona, vẽ trên gạch hoa làm bằng sứ.
Búa làm bằng gỗ, đá, hạt cườm, và da.
Túi vùng Northern Plains làm bằng da và hạt cườm.
Dải băng đầu và quạt của thổ dân Hunkapapa Lakota, quạt làm bằng da, dải băng có thêm hạt cườm.
Bùa hình con rùa làm bằng da và hạt cườm của thổ dân Lakota.
Gậy chiến bằng da, đá, hạt cườm.
Gậy chiến khác.
Túi mang nơi rốn của thổ dân vùng Northern Plains làm bằng da và hạt cườm.
Vũ công múa khăn choàng được làm từ bột giấy và giấy, được thiết kế đặc biệt để tạo hình thành tác phẩm điêu khắc. Điệu vũ này còn được gọi là vũ bướm hay vũ thần kỳ, xuất hiện vào thế kỷ thứ 20.
Tranh vẽ trên da của một thổ dân Lakota.
Từ trái nón lưỡi trai, băng đeo cổ tay, cà vạt Bolo, làm bằng da và cườm.
VÙNG BÌNH NGUYÊN trải rộng từ các con sông vùng Trung Tây sang đến chân rặng núi Rocky Mountains, tạo nên một lối sống du mục, với nền văn hóa cưỡi ngựa ảnh hưởng vào nghệ thuật và tính nghệ sĩ.
Từ trái giày moccasins thổ dân Navajo, bằng da, lam ngọc, bạc; giây chuyền và đôi bông tai chữa bệnh, bằng da, hạt cườm; cà vạt Bolo; đồ mang cổ tay và nhẫn bạc, ngọc lam, san hô, vỏ sò.
Mũ đội đầu bằng lông ưng Thổ Nhĩ Kỳ, vải len, da thỏ, hạt cườm, vỏ sò.
Mũ của tù trưởng đội trong những lần họp bộ lạc hoặc tế lễ chứ thực ra không dùng khi xông trận như trong phim ảnh.
Mũ của Ben Black Elk với 32 lộng chim ưng, đầu mút bằng lông ngựa, bọc quanh dải băng, và tám lông diều hâu buông thỏng mỗi bên của dải băng. Ngoài ra hai dải dài hai bên mỗi cái có gắn 32 lông chim ưng.
VÙNG BẮC CỰC nơi thổ dân Inuit sinh sống dưới môi trường khắc nghiệt nhất của lục địa. Nghệ thuật truyền thống của họ với tác phẩm làm từ xương cá voi, hải mã, nhưng dần chuyển sang đồ chạm khắc.
Kwakwaka ‘wakw (Kwakiutl)mặt nạ chim quạ, thổ dân Kwakiutl Nation, British Columbia, Canada, bằng gỗ cedar, cỏ, dây thừng, sơn.
Huxwhukw (long beak) mặt nạ mỏ dài, dân Kwakiuti Nation, BC, Canada.
Tác phẩm của người Inuit làm bằng xương cá voi.
Tranh khắc gỗ.
VÙNG DUYÊN HẢI TÂY BẮC là quê nhà của những bộ tộc cổ xưa nhất trên lục địa Mỹ châu. Văn hóa vùng này có thể nhận thấy qua tác phẩm khăc gỗ, sơn, cột totem truyền thống, các sáng tạo khuôn mặt..
Totem hình chim sấm và cá voi sát thủ nói lên sự lệ thuộc vào cá hồi của thổ dân.
Khẩu súng trên là khẩu súng trường US Springfield “Trapdoor” Rifle, được hiến tặng năm 1889. Khẩu dưới là khẩu kỷ niệm 100 năm trân Little Big Horn, 1876-1976, rập khuôn theo kiểu Winchester Model 1866, nòng 44/40. Nguyên mẫu được chế vào thế kỷ 19 và là loại được dùng trong trận Little Big Horn năm 1876.
Cổng đồng Nature Gates xây dựng năm 1982 nằm ở góc ngoài viện bảo tàng.
Ở cột chính có bảng đồng khắc ghi tên ông Korczak, người thực hiện tượng đài Crazy Horse.
ĐÓN XEM TIẾP KỲ (13): SOUTH DAKOTA: MT RUSHMORE NATIONAL MEMORIAL
Thảo luận
Không có bình luận