Sang ngày thứ tư của cuộc du hành, chúng tôi rời Cody, Wyoming, nhập vào Montana một lần nữa để viếng chiến trường xưa Little Bighorn Battlefield, nơi diễn ra cuộc giao tranh ác liệt giữa quân Mỹ và quân da đỏ vào năm 1876. Trong trận này phía Mỹ rước lấy thảm bại, cấp chỉ huy Tr Tá Custer, tử trận cùng hơn 200 đồng đội.
Cody, được đặt tên theo Buffalo Bill Cody, người có công thành lập Cody vào năm 1896. Thị trấn có dân số chỉ hơn 10 ngàn người, theo thống kê năm 2020, xếp hạng thứ 11 về thành phố đông dân nhất ở Wyoming. 8:08 am
Thị trấn này được hưởng khoảng 300 ngày nắng mỗi năm.
Tại đây có tổng cộng 5.068 đơn vị nhà ở, trong đó 9,3% bị bỏ trống. Tỷ lệ nhà ở thuộc sở hữu cá nhân bị bỏ trống là 1,9% và tỷ lệ nhà cho thuê bị bỏ trống là 8,4%.
Người bản địa Shoshone và người Crow sinh sống trong khu vực này trước khi những người định cư châu Âu đến. John Colter, một thành viên của Đoàn thám hiểm Lewis và Clark, có thể là người đầu tiên đi qua vùng đất sau này trở thành Cody.
Văn phòng cấp vùng TP Cody, thuộc Wyoming Game and Fish Department, cơ quan cấp phép săn bắn và đi câu của TB Wyoming. 8:10 am.
Xe đi ngang qua một thị trấn buồn thiu, có thể là Bridger. 9:04 am
Hơn 9 giờ sáng rồi mà ngoài đường còn vắng hoe, từ xe đến bộ hành.
Tiệm chuyên bán đồ da thuộc, từ áo quần cho đến mũ nón, giày, ví.
9:50 am
Hình ảnh một cây cầu sắt cũ kỹ quen thuộc thường thấy trên khắp đất nước của quê hương.
Cầu bắc qua Yellowstone River, đi vào thành phố Billings. 9:51 am
Billings là thành phố đông dân nhất ở Montana. Dân số là 117.116 người theo điều tra dân số năm 2020, trong khi khu vực đô thị Billings có khoảng 193.000 người. Nằm ở phần trung nam của tiểu bang, đây là thủ phủ của Quận Yellowstone.
Billings đóng vai trò trung tâm thương mại, y tế và tài chính sinh động cho một khu vực rộng lớn trải dài nhiều tiểu bang ở phía bắc dãy núi Rocky. Được thúc đẩy bởi ngành chăm sóc sức khỏe, lọc dầu, nông nghiệp và các khoản đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng, thành phố duy trì một nền kinh tế ổn định và đang phát triển.
Được biết đến là thủ phủ lọc dầu của vùng núi Rocky phía bắc, Billings cung cấp nhiều việc làm có mức lương cao trong ngành khai thác mỏ, khai thác khoáng sản và tiện ích.
Billings được mệnh danh là “Thành phố Kỳ diệu” vì sự phát triển nhanh chóng kể từ khi được thành lập như một thị trấn đường sắt vào tháng 3 năm 1882. Các bộ tộc Crow và Cheyenne gần đó gọi thành phố là Ammalapáshkuua và É’êxováhtóva tương ứng, có nghĩa là ‘nơi họ chặt gỗ’, được đặt tên như vậy vì một xưởng cưa được xây dựng trong khu vực bởi những người định cư da trắng đầu tiên.
Thành phố này chế biến các loại cây trồng trong khu vực như củ cải đường và dựa vào cơ sở hạ tầng đường sắt và đường bộ vững mạnh. 9:54 am
Người của tiểu bang được viết bằng chữ lớn trên xe bồn.
10:12 am
LITTLE BIGHORN BATTLEFIELD NATIONAL MONUMENT Nơi đây bảo tồn địa điểm diễn ra trận Little Bighorn vào ngày 25 và 26 tháng 6 năm 1876, gần Crow Agency, Montana. Đây cũng là nơi tưởng niệm những người đã chiến đấu trong trận chiến: Gồm Trung đoàn 7 Kỵ binh của Tr Tá George Armstrong Custer và lực lượng liên hợp gồm người da đỏ Lakota, người Cheyenne phía Bắc và người Arapaho. Little Bighorn Battlefield National Monument vinh danh những người đã chiến đấu ở cả hai phía.
Little Bighorn Battlefield National Monument nằm trong vùng bảo tồn của thổ dân da đỏ người Crow, không lạ gì khu tưởng niệm này được chào đón bằng một hàng những nhà lều của người da đỏ. Tại Visitor Center, hầu hết nhân viên làm việc đều là người thổ dân bản địa, họ cũng ăn mặc bình thường như chúng ta. 11:00 am
Nghĩa trang Quốc gia Custer National Cemetery nằm gần bãi đậu xe và Visitor Center, dưới chân các ngọn đồi nơi từng diễn ra trận ác chiến đẫm máu.
Dịch theo nội dung trong bảng: “Vào ngày 8 tháng 10, 1983, một vụ cháy rừng làm thiêu rụi gần 600 mẫu đất đồi cỏ dày và rậm. Nhân cơ hội này, vào tháng 5 và 6 năm 1984, cơ quan bảo quản rừng quốc gia National Park Service bắt đầu mở một cuộc thăm dò khảo cổ có hệ thống chưa từng được thực hiện trước đây. Các nhà khảo cổ và tình nguyện viên trong 5 tuần làm việc đã xác định được chứng cứ lịch sử từ bãi chiến trường này…
“..Trong số 1.159 mẩu vật đào được gồm có mũi tên sắt, đạn, băng đạn, nút áo, đồng xu, xương cốt, giày trận, quân dụng cho người và ngựa, đồ dùng cá nhân của binh lính và cả của chiến binh da đỏ. Phân tích mẩu vật và hài cốt là những đường kết nối quan trọng với quá khứ và cung cấp manh mối về các loại vũ khí, chiến thuật, đồ trang bị khác nhau, và về sự di chuyển trong trận chiến..
Đầu mũi tên sắt (tìm thấy được tám đầu mũi tên hoàn chỉnh và một đầu nhọn) (Ảnh chụp lại từ tấm bảng trên)
Đầu mũi tên bằng sắt. Từ trái sang phải: tên chiến đấu,tên làm từ sắt trao đổi với người da trắng, tên săn bò rừng.
“..Khám nghiệm pháp y hài cốt của binh sĩ Trung đoàn Kỵ binh số 7, trung đoàn bị tiêu diệt trong trận đánh, giúp nhân văn hóa những người lính kỵ binh, mà cho đến nay chỉ được nhắc đến qua những con số thống kê. Công việc này tiết lộ manh mối quan trọng về căn cước của họ, chiều cao, tuổi, sức khỏe, và đã chết như thế nào..
Viên đạn súng trường Springfield Carbine .45/55, đã bắn. (Kỵ Binh số 7)
Xương ngón tay với nhẫn cưới bằng đồng thau mạ bạc của lính Kỵ binh số 7 được tìm thấy dưới Visitor Center.
Xương cánh tay của người lính Kỵ Binh số 7. Lưu ý: hộp đạn .45/55 đã được bắn.
.. Bằng chứng khảo cổ học, được sử dụng kết hợp với lời kể của những người tham gia trận chiến, vị trí thi thể binh lính, và cắm cọc đánh dấu vị trí về Trung đoàn Kỵ binh số 7, cùng các chiến binh da đỏ, giúp chúng ta tái dựng được trận đánh. Thêm nhiều cuộc thăm dò khảo cổ học đã được tiến hành tại đây cùng các vùng lân cận vào các năm 1985, 1989, 1991, 1994, và 1999, và có thể được tiếp tục trong tương lai.“
Trận Little Bighorn năm 1876, thường được gọi là Trận chiến cuối cùng (Last Standing Battle) của Custer và được người Lakota cùng các bộ lạc da đỏ vùng đồng bằng khác gọi là Trận Greasy Grass, là một cuộc giao tranh giữa lực lượng kết hợp của các bộ lạc Lakota Sioux, Northern Cheyenne và Arapaho với Trung đoàn Kỵ binh số 7 của Quân đội Hoa Kỳ.
Trận chiến diễn ra vào ngày 25-26 tháng 6 năm 1876, dọc theo sông Little Bighorn trong khu bảo tồn người da đỏ Crow ở phía đông nam lãnh thổ Montana. Trận chiến này, dẫn đến thất bại của quân đội Hoa Kỳ, là hành động quan trọng nhất trong cuộc đại chiến Great Sioux Wars 1876.
Hầu hết các trận đánh trong Great Sioux Wars, bao gồm cả Trận Little Bighorn, đều diễn ra trên những vùng đất mà người bản địa đã chiếm được từ các bộ lạc khác kể từ năm 1851. Người Lakota hiện diện ở đó mà không có sự đồng ý của bộ lạc Crow địa phương, vốn có yêu sách theo hiệp ước đối với khu vực này.
“ĐÀI TƯỞNG NIỆM – Hài cốt của khoảng 220 chiến binh, trinh sát viên da đỏ, và thường dân đã được chôn quanh chân đài tưởng niệm này. Những bia đá cẩm thạch nằm rải rác trên bãi chiến trường đánh dấu nơi người lính xấu số được tìm thấy và tạm chôn. Năm 1881, chúng được cải táng chung một ngôi mộ tại địa điểm này. Hài cốt của cấp sĩ quan được dời đến nhiều nghĩa trang khác nhau trên khắp cả nước vào năm 1877. Tướng Custer được chôn tại West Point.“ (Ông Custer cấp bậc trung tá, sau khi tử trận tự động được truy thăng lên đại tá, tại sao ở đây người ta nhắc đến ông là General Custer? Phải chăng vì ông từng được gọi là thiếu tướng danh dự trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ)
Ngay từ năm 1873, tù trưởng Blackfoot của bộ tộc Crow đã kêu gọi Hoa Kỳ can thiệp quân sự chống lại những kẻ xâm lược bản địa. Việc người Lakota liên tục xâm nhập vào các khu vực hiệp ước thuộc về các bộ lạc nhỏ hơn là kết quả trực tiếp của việc họ bị Hoa Kỳ di dời chỗ ở xung quanh Fort Laramie, cũng như phản ứng trước sự xâm lấn của người da trắng vào Black Hills, nơi mà người Lakota coi là thiêng liêng.
Cuộc xung đột với người da đỏ đã tồn tại từ trước này đã tạo ra một cái cớ hữu ích cho việc thuộc địa hóa và bảo đảm cho Hoa Kỳ một liên minh vững chắc với người da đỏ Arikara và người Crow trong các cuộc chiến tranh với da đỏ Lakota.
Kết quả trận chiến là một chiến thắng áp đảo dành cho người da đỏ Lakota, Northern Cheyenne và Arapaho, được dẫn dắt bởi một số thủ lĩnh chiến tranh quan trọng, bao gồm Crazy Horse và Chief Gall, và được truyền cảm hứng từ những tầm nhìn của Sitting Bull (Tȟatȟáŋka Íyotake).
Tạm dịch : Bia Tưởng Niệm – Sau trận chiến, quân da đỏ Lakota và Cheyenne mang đồng đội tử trận đi. Những thành viên sống sót của Trung đoàn 7 Kỵ binh vội vã chôn cất lính tráng, thường dân, và da đỏ tình nguyện làm trinh sát, vào ngày 28.06.1876. Năm 1877, hầu hết hài cốt sĩ quan được di dời sang các nghĩa địa của miền Đông. Thi thể không toàn vẹn của Tr Tá Custer được chôn lại ở West Point, New York. Năm 1881, Tr Úy Charles Roe dựng cột tưởng niệm bằng đá granite nguyên khối và dời tất cả hài cốt của chiến binh Tr Đoàn 7 Kỵ binh tập trung vào một chỗ chôn tập thể quanh chân tháp. Năm 1890, quân đội đặt 249 bia đá trên khắp bãi chiến trường đánh dấu nơi quân của Custer bị hạ gục.
Trung đoàn Kỵ binh số 7 của Hoa Kỳ, một lực lượng gồm 700 người do Trung tá George Armstrong Custer (một thiếu tướng danh dự trong Nội chiến Hoa Kỳ) chỉ huy, đã chịu một thất bại nặng nề.
Lượt dịch theo tài liệu của thư viện mở Wikipedia:
Trung đoàn 7 Kỵ binh được thành lập ngay sau Nội chiến Hoa Kỳ (1861–1865). Nhiều người trong trung đoàn là cựu chiến binh của cuộc chiến, bao gồm hầu hết các sĩ quan chỉ huy.
Vào tháng 11 năm 1868, khi đóng quân ở Kansas, Trung đoàn 7 Kỵ binh dưới quyền Custer đã đánh tan trại của bộ lạc Cheyenne phía Nam của Black Kettle trên sông Washita trong Trận chiến sông Washita, một cuộc tấn công mà vào thời điểm đó bị Cục Quản lý người da đỏ gọi là “vụ thảm sát người da đỏ vô tội”.
Vào thời điểm diễn ra Trận chiến Little Bighorn, một nửa số đại đội của Kỵ binh số 7 vừa trở về sau 18 tháng làm nhiệm vụ cảnh sát ở Deep South, được triệu hồi về Pháo đài Abraham Lincoln, Lãnh thổ Dakota để tập hợp lại trung đoàn cho chiến dịch. Khoảng 20% quân nhân Tr Đoàn 7 đã nhập ngũ trong bảy tháng trước đó, chỉ được huấn luyện sơ sài và không có kinh nghiệm chiến đấu hoặc từng đến vùng biên cương. Khoảng 60% trong số tân binh này là người Mỹ, số còn lại là người nhập cư châu Âu (chủ yếu là người Ireland và người Đức). Bằng chứng khảo cổ học cho thấy nhiều người trong số những người lính này bị suy dinh dưỡng và thể chất kém, mặc dù là trung đoàn được trang bị và cung cấp tốt nhất trong Quân đội.
Trong số 45 sĩ quan và 718 binh sĩ lúc bấy giờ được biên chế về Tr đoàn 7 kỵ binh (trong đó có một thiếu úy tách ra từ Sư đoàn 20), 14 sĩ quan (bao gồm cả trung đoàn trưởng) và 152 binh sĩ đã không đi cùng Tr đoàn 7 trong suốt chiến dịch. Chỉ huy trung đoàn, Đại tá Samuel D. Sturgis, đang làm nhiệm vụ riêng biệt với tư cách là Giám đốc Cơ quan Tuyển dụng Gắn kết và chỉ huy Tổng kho Kỵ binh ở St. Louis, Missouri, khiến Tr tá Custer nắm toàn quyền chỉ huy trung đoàn.
Bản đồ ba mũi tiến công của chiến dịch chống quân da đỏ Sioux năm 1876, trong đó cánh quân của Custer với đạo quân của Chuẩn Tướng Alfred Terry bắt đầu tiến từ Fort Lincoln hôm 17 tháng Năm.
Ngày 22 tháng 6, Tướng Terry ra lệnh cho Trung đoàn 7 Kỵ binh, gồm 31 sĩ quan và 566 binh lính dưới quyền Custer, bắt đầu cuộc trinh sát quy mô lớn và truy đuổi da đỏ dọc theo sông Rosebud, với quyền “rời bỏ” mệnh lệnh nếu Custer thấy “có lý do chính đáng”. Custer đã được đề nghị sử dụng súng đa nòng Gatling bắn được hằng trăm phát trong mỗi phút nhưng ông từ chối, vì cho rằng chúng sẽ làm chậm tốc độ hành quân của mình.
Vào tối ngày 24 tháng 6, các trinh sát người da đỏ của Custer đến một điểm quan sát được gọi là Crow’s Nest, cách Sông Little Bighorn 14 dặm (23 km) về phía đông; vào lúc rạng sáng ngày 25 tháng 6, các trinh sát của Custer báo cáo rằng họ có thể nhìn thấy một đàn ngựa khổng lồ và các dấu hiệu của ngôi làng người bản địa ở khoảng cách khoảng 15 dặm (24 km). Sau một đêm hành quân, người sĩ quan mệt mỏi được cử đi cùng quân trinh sát đều không thể nhìn thấy gì, và khi Custer tham gia cùng họ, ông cũng không nhìn thấy gì cà. Các trinh sát của Custer đồng thời phát hiện ra lửa khói nấu ăn của trung đoàn có thể được nhìn thấy từ cách đó 10 dặm (16 km), sự kiện đó tiết lộ vị trí của trung đoàn.
Điều Custer không biết là nhóm người Mỹ bản địa mà ông nhìn thấy trên đường mòn thực chất đang rời khỏi trại và không báo động cho phần còn lại của làng. Các trinh sát của Custer đã cảnh báo ông về quy mô to lớn của ngôi làng, với Mitch Bouyer được cho là đã nói, “Thưa tướng quân, tôi đã ở với những người da đỏ này 30 năm rồi, và đây là ngôi làng lớn nhất mà tôi từng nghe nói đến.” Nhưng mối quan tâm hàng đầu của Custer là làm sao nhóm người bản địa da đỏ sẽ phải tan rã và phân tán. Quân đội bắt đầu tiếp cận ngôi làng vào buổi trưa và chuẩn bị tấn công vào ban ngày.
Với cảm giác về một tai họa sắp xảy ra, trinh sát người Crow tên Half Yellow Face đã tiên tri cảnh báo Custer (thông qua thông dịch viên Mitch Bouyer), “Hôm nay, ông và tôi sẽ về nhà trên một con đường mà chúng ta không biết.”
Tr tá George Armstrong Custer tử trận trong trận Little Bighorn cùng với 268 binh lính. (public domain).
Khi quân đội tiến vào chiến trường trong cuộc hành quân, họ đã hoạt động dựa trên những giả định sai lầm về số lượng người da đỏ mà họ sẽ gặp phải. Những giả định này dựa trên thông tin không chính xác do các trinh sát người da đỏ cung cấp, cho rằng không quá 800 “kẻ thù” trong khu vực. Họ dựa trên ước tính này về số lượng người Lakota mà Sitting Bull và các thủ lĩnh khác được cho là đã dẫn ra khỏi khu bảo tồn để phản đối chính sách của chính phủ Hoa Kỳ. Trên thực tế, đó là một ước tính chính xác cho đến vài tuần trước trận chiến, khi những “người da đỏ trong khu bảo tồn” gia nhập hàng ngũ của Sitting Bull trong cuộc săn trâu rừng mùa hè. Các trinh sát da đỏ đã không tính đến hàng ngàn “người da đỏ từ khu bảo tồn”, những người đã không chính thức rời khỏi khu bảo tồn để gia nhập. Do đó, Custer đã không biết mình phải đối mặt với hàng ngàn người da đỏ, bao gồm cả 800 “kẻ thù” không thuộc khu bảo tồn. Tất cả các kế hoạch của quân đội đều dựa trên những con số không chính xác này. Mặc dù Custer bị chỉ trích sau trận chiến vì không chấp nhận quân tiếp viện và vì chia rẽ lực lượng, nhưng dường như ông đã chấp nhận cùng một ước tính chính thức của chính phủ về quân địch trong khu vực mà hai tướng Terry và Gibbon cũng đã chấp nhận. Tuy nhiên, nhà sử học James Donovan lưu ý rằng khi Custer sau đó hỏi thông dịch viên Fred Gerard về ý kiến của ông ta về quy mô của lực lượng đối phương, ông ta ước tính lực lượng này có khoảng 1.100 chiến binh.
Ngoài ra, Custer còn quan tâm đến việc tìm cách ngăn chặn cuộc trốn thoát của quân Lakota và Cheyenne hơn là chiến đấu với họ, theo báo cáo của John Martin (sinh ra ở Ý với tên Giovanni Martino). Martin tạm thời được bổ nhiệm làm một trong những người thổi kèn của Custer. Khi Custer cùng gần 210 binh sĩ và trinh sát bắt đầu lần tiếp cận cuối cùng tới ngôi làng rộng lớn của người da đỏ nằm ở Thung lũng sông Little Bighorn, Martin được phái đi với một thông báo khẩn cấp về quân tiếp viện và đạn dược nên thoát chết cuộc thảm sát. Báo chí thời đó gọi ông nào là “Kẻ sống sót sau vụ thảm sát Custer” và “Người da trắng cuối cùng nhìn thấy Custer còn sống“.
Cận cảnh một phần bức tranh “Custer’s Last Stand” của Edgar Samuel Paxson, 1899. (public domain)
Các chi tiết chính xác về trận chiến của Custer và các hoạt động của ông trước và trong trận chiến phần lớn chỉ là phỏng đoán vì không một người nào trong số những người tiến lên cùng tiểu đoàn của Custer (năm đại đội dưới quyền chỉ huy trực tiếp của ông) sống sót sau trận chiến. Các lời kể sau này từ những người thổ dân sống sót rất hữu ích nhưng đôi khi lại mâu thuẫn và không rõ ràng.
Trong khi tiếng súng mà quân của Reno và Benteen nghe thấy vang dội trên các vách đá vào chiều ngày 25 tháng 6 có lẽ là từ trận chiến của Custer, thì binh lính trên đồi Reno Hill không hề hay biết chuyện gì đã xảy ra với Custer cho đến khi Tướng Terry đến hai ngày sau đó, vào ngày 27 tháng 6. Họ được cho là đã rất bàng hoàng trước tin tức này. Khi quân đội kiểm tra địa điểm trận chiến của Custer, binh lính không thể xác định đầy đủ những gì đã xảy ra. Lực lượng của Custer gồm khoảng 210 người đã giao chiến với người Lakota và người Northern Cheyenne cách vị trí phòng thủ của Reno và Benteen khoảng 3,5 dặm (5,6 km) về phía bắc. Bằng chứng về sự kháng cự có tổ chức bao gồm một tuyến giao tranh rõ ràng trên đồi Calhoun và các công sự rõ ràng được làm bằng xác ngựa chết trên đồi Custer.
Khi quân đội đến để thu hồi thi thể, người Lakota và Cheyenne đã di dời hầu hết những người chết của họ khỏi chiến trường. Quân đội tìm thấy hầu hết những người chết của Custer bị lột hết quần áo, bị cắt xẻo và trong tình trạng phân hủy, khiến việc nhận dạng nhiều người trở nên bất khả thi. Các binh sĩ đã xác định được những người chết của Trung đoàn Kỵ binh số 7 tốt nhất có thể và vội vàng chôn cất họ tại nơi họ ngã xuống.
Thi thể của Custer được tìm thấy gần đỉnh đồi Custer, nơi sau này cũng được gọi là “Last Stand Hill”. Custer được tìm thấy với hai vết thương do đạn bắn, một ở ngực trái và một ở thái dương trái. Cả hai vết thương đều có thể gây tử vong, mặc dù ông dường như chỉ chảy máu từ vết thương ở ngực; một số học giả tin rằng vết thương ở đầu có thể được gây ra sau khi ông chết. Một số lịch sử truyền miệng của người Lakota khẳng định rằng Custer, sau khi bị thương, đã tự sát để tránh bị bắt và tra tấn sau đó. Điều này sẽ không phù hợp với việc ông thuận tay phải, nhưng điều đó không loại trừ khả năng tự sát có sự trợ giúp (các tài liệu bản địa khác ghi nhận một số binh lính tự sát gần cuối trận chiến).
Vài ngày sau trận chiến, Curley, trinh sát da đỏ người Crow của Custer, kẻ đã rời Custer gần Medicine Tail Coulee (một con suối dẫn đến sông), đã thuật lại trận chiến, báo cáo rằng Custer đã tấn công ngôi làng sau khi cố gắng vượt sông. Ông bị đẩy lùi, rút lui về phía ngọn đồi nơi thi thể ông được tìm thấy. Vì kịch bản này có vẻ phù hợp với phong cách chiến tranh hung hăng của Custer và với bằng chứng được tìm thấy trên mặt đất, nên nó đã trở thành cơ sở cho nhiều tài khoản phổ biến về trận chiến.
Năm trong số mười hai đại đội của Trung đoàn 7 Kỵ binh đã bị tiêu diệt và Custer đã thiệt mạng, cùng với hai người anh em, cháu trai và anh rể của ông. Tổng số thương vong của Hoa Kỳ bao gồm 268 chết và 55 bị thương nặng (sáu chết sau đó vì vết thương), trong đó có bốn trinh sát người da đỏ Crow và ít nhất hai trinh sát người da đỏ Arikara.Trong số 268 chết, 210 thuộc Tiểu Đoàn Custer, 58 thuộc các tiểu đoàn của Reno – Benteen. Phía da đỏ Lakota tổn thất phỏng chừng từ 40 đến 100.
Tấm bia đánh dấu vị trí Custer ngã xuống giữa các binh lính – được đánh dấu bằng bề mặt bia màu đen, mặc dù hài cốt ông đã được dời sang West Point, New York.
Last Stand của Custer
Cuối cùng, ngọn đồi sau này mang tên Last Stand Hill mà Custer triệt thoái lên, có lẽ quá nhỏ để có thể chứa tất cả những người sống sót và bị thương. Hỏa lực từ phía đông nam khiến quân của Custer không thể thiết lập được vị trí phòng thủ xung quanh đồi Last Stand Hill, nơi các binh sĩ đã kháng cự quyết liệt nhất.
Theo lời kể của người Lakota, thương vong của họ trong cuộc tấn công lên đồi Last Stand Hill cao hơn nhiều so với bất kỳ nơi nào khác. Mức độ kháng cự của binh sĩ HK cho thấy họ hầu như không nghi ngờ gì về triển vọng sống sót của mình. Theo lời khai của người Cheyenne và Sioux, cấu trúc chỉ huy nhanh chóng sụp đổ, mặc dù dường như một số nhóm đã thực hiện những “trận chiến cuối cùng” nhỏ hơn. Quân lính còn lại của Custer (các đại đội E, F và một nửa của C) đã sớm bị giết sạch.
Theo hầu hết các nguồn tin, người Lakota đã tiêu diệt lực lượng của Custer trong vòng một giờ giao chiến. David Humphreys Miller, người đã phỏng vấn những người Lakota sống sót cuối cùng của trận chiến từ năm 1935 đến năm 1955, đã viết rằng trận chiến với Custer kéo dài chưa đầy nửa giờ. Các tài liệu bản địa khác cho biết cuộc giao tranh chỉ kéo dài “khoảng thời gian một người đói ăn xong một bữa”. Người Lakota khẳng định rằng Crazy Horse đích thân dẫn đầu một trong những nhóm chiến binh đông đảo áp đảo kỵ binh trong một cuộc tấn công bất ngờ từ phía đông bắc, gây ra sự đổ vỡ trong cấu trúc chỉ huy và hoảng loạn trong quân đội. Nhiều người trong số họ đã vứt bỏ vũ khí khi các chiến binh Cheyenne và Sioux cưỡi ngựa xông vào, “đếm chiến thắng” bằng giáo, gậy và roi da. Một số tài liệu bản địa nhớ lại đoạn này của trận chiến như một “cuộc rượt đuổi trâu rừng”.
Phản ứng của công chúng đối với cuộc chiến Great Sioux Wars 1876 rất khác nhau ngay sau trận chiến. Góa phụ của Custer, Libbie Custer, nhanh chóng bắt đầu nỗ lực khôi phục danh tiếng của chồng mình, và trong những thập kỷ tiếp theo, Custer và đội quân của ông được coi là những nhân vật anh hùng trong lịch sử Hoa Kỳ.
Trận chiến và đặc biệt là các hành động của Custer đã được các nhà sử học nghiên cứu rộng rãi. Hình ảnh anh hùng của Custer bắt đầu bị hoen ố sau cái chết của vợ ông vào năm 1933 và việc xuất bản cuốn sách “Glory Hunter – The Life of General Custer” của Frederic F. Van de Water vào năm 1934, đây là cuốn sách đầu tiên miêu tả Custer theo những thuật ngữ không anh hùng.Hai sự kiện này, kết hợp với sự hoài nghi của thời kỳ suy thoái kinh tế và sự xét lại lịch sử, đã dẫn đến một cái nhìn phần nào được sửa đổi về Custer và thất bại của ông trên bờ sông Little Bighorn.
Nơi nằm xuống của một người lính thuộc Trung đoàn 7 Kỵ binh vào ngày 25 tháng 6, 1876.
Dòng chữ viết trên góc hình: “Wooden Leg, người da đỏ Bắc Cheyenne “Một chiến binh chiến đấu chống lại Custer”
Một chiến binh da đỏ, tranh màu của Frederic Remington. (Brooklyn Museum)
Bản in thạch bản mô tả Trận chiến Little Bighorn, từ góc nhìn của người da đỏ. Charles Marion Russell – The Custer Fight (1903) – (Public Domain)
Dịch theo nội dung trong bảng: “Wooden Leg Hill, 25.06.1876 – Trong trận Last Stand Hill, quân da đỏ Lakota và Cheyenne chiếm ngọn đồi phía trước mặt chỗ bạn đang đứng..
..Một da đỏ Sioux vô danh mang mũ chiến binh bị giết ngay tại đây trong khi đang bắn vào phía lính Mỹ cố thủ sau hàng rào phòng ngự làm bằng xác ngựa. Khi người lính ngưng bắn, các chiến binh da đỏ tràn lên đồi, hò reo chiến thắng.”
Nghĩa trang ngựa nằm ở phía đông bắc của Đài tưởng niệm Trung đoàn 7 Kỵ binh Hoa Kỳ trên đồi Last Stand Hill. Nơi đây lưu giữ hài cốt của những con ngựa kỵ binh bị giết trong trận chiến tháng 6 năm 1876 hoặc được thu thập trong các nhiệm vụ quân sự sau đó.
Nhìn từ Last Stand Hill.
“Xương tứ chi của một chiến binh da đỏ Cheyenne nằm xuống tại đây vào ngày 25.06.1876..”
Bảng so sánh lực lượng đôi bên, da đỏ bên trái. Quân số da đỏ: 1.100-2.500, trong khi Mỹ chỉ 700. Cấp chỉ huy Mỹ có 3 chết, da đỏ 1. Mỹ chết 268, da đỏ 31-100 chết. Kết quả: Da đỏ Lakota, Northern Cheyenne, và Arapaho chiến thắng.
ĐÀI TƯỞNG NIỆM INDIAN MEMORIAL, đài tưởng niệm duy nhất về trải nghiệm của thổ dân bản địa được Quốc hội ủy nhiệm và xây dựng bằng ngân sách liên bang
Đài tưởng niệm Indian Memorial tưởng nhớ sự hy sinh của các bộ lạc Arikara, Apsaalooke (Crow), Arapaho, Cheyenne và Oyate (Lakota Sioux) trong Trận chiến Little Bighorn khi họ chiến đấu để bảo vệ các giá trị và lối sống truyền thống của mình. Chủ đề của đài tưởng niệm, “Hòa bình thông qua sự đoàn kết”, tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của sự hợp tác giữa các bộ lạc người Mỹ bản địa và giữa chính quyền bộ lạc với chính phủ liên bang.
Tóm tắt: Dự luật thành lập khu tưởng niệm Indian Memorial dành riêng cho người da đỏ và việc đổi tên Custer Battlefield National Monument thành Little Bighorn Battlefield National Monument, được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua năm 1991 và được Tổng Thống George W. H. Bush ký vào ngày 10.12.1991. “Đã đến lúc phải dành sự tôn trọng bình đẳng cho thổ dân da đỏ, những người đã bị từ chối điều đó trong một thời gian dài.” – TNS Pat Williams “Chúng tôi đã chờ đợi từ rất lâu cho một đài tưởng niệm tượng trưng cho sự can trường, sự mất mát riêng tư, sự chiến thắng trong trận đánh, và cam kết của chúng tôi trong việc bảo vệ lối sống mà người dân chúng tôi đã quen thuộc.” – Một người da đỏ Minniconjou Lakota cung khai trước Quốc Hội, 1991
Được biết trước đây vào năm 1879, Little Bighorn Battlefield được chỉ định là nghĩa trang quốc gia do Bộ Chiến tranh quản lý. Năm 1881, một đài tưởng niệm được dựng lên trên đồi Last Stand, trên ngôi mộ tập thể của các binh sĩ thuộc Trung đoàn 7 Kỵ binh, các trinh sát người bản địa và những người khác thiệt mạng trong trận chiến. Năm 1940, quyền quản lý chiến trường được chuyển giao cho National Park Service. Những cách diễn giải ban đầu này chủ yếu mang tính đơn sắc văn hóa, chỉ tôn vinh quan điểm của Quân đội Hoa Kỳ, với những bia mộ đánh dấu nơi mỗi người ngã xuống.
Tác phẩm điêu khắc của nghệ sĩ bản địa Colleen Cutschall nhằm tôn vinh người thổ dân da đỏ. Tưởng niệm những người bản địa (bộ tộc Crow) đã hy sinh khi chiến đấu bảo vệ quê hương trong trận Little Bighorn năm 1876. Tác phẩm bằng đồng mà bạn thấy in bóng trên nền trời mô tả ba chiến binh da đỏ cưỡi ngựa ra trận và một người phụ nữ trao khiên cho một trong số họ khi cô nhìn họ phi ngựa đi vào cõi trời, nơi thế giới linh hồn ngự trị theo tín ngưỡng truyền thống của các bộ lạc. Người nghệ sĩ muốn thể hiện góc nhìn của một người phụ nữ về trận chiến này và bước ngoặt của nó trong lịch sử nước Mỹ.
Thiết kế do John R Collins và Allison J. Towers của Philadelphia, Pennsylvania vẽ, được chọn trong số trên 500 bản nộp dự tranh.Thiết kế này nhằm mục đích hòa hợp với cảnh quan xung quanh cũng như tôn trọng tín ngưỡng tâm linh truyền thống. Điều này được thể hiện ở vật liệu lát sàn được làm từ nhiều bề mặt khác nhau, tôn vinh niềm tin rằng linh hồn cần phải di chuyển qua không gian đó. Một yếu tố thiết kế quan trọng khác là các lối mở ở mỗi hướng chính, tôn vinh tín ngưỡng tâm linh của nhiều bộ lạc vùng đồng bằng.
Tác phẩm bằng đất và đá xếp theo hình vòng tròn được chạm khắc theo với nét mềm mại của thảo nguyên. Đối với nhiều bộ tộc, vòng tròn là biểu tượng linh thiêng cho hành trình của sự sống.
Lối mở trên bức tường tròn hướng về Đài tưởng niệm Trung đoàn Kỵ binh số 7 được gọi là Cổng Linh hồn và là lối đi cho linh hồn của những người lính đã khuất đi qua cổng và vào thế giới bên kia. Điều này có ý nghĩa quan trọng vì nó thể hiện mong muốn về sự tôn trọng lẫn nhau giữa Chính phủ Hoa Kỳ và các thực thể bộ lạc, ủng hộ triết lý “Hòa bình thông qua sự thống nhất” mà đài tưởng niệm này hướng đến.
“Custer cưỡi ngựa xuống bờ sông, lập một phòng tuyến, và chuẩn bị tấn công. Nhưng rồi ông ta ngưng lại và rút quân lên phía đỉnh đồi nhưng ông ta gặp ngay quân da đỏ từ phía trên và từ mọi phía, và lại lập phòng tuyến mới. Chính tại đây họ bị giết hết.” – White Bull, Cheyenne (1895)
Hội ngộ của 9 cựu chiến binh của trận đánh còn sống sót, 1948.
Indian Memorial là đài tưởng niệm sống, tôn vinh không chỉ quá khứ mà cả hiện tại và những thế hệ người da đỏ tương lai.
Khu vực Visitor Center nhìn từ Indian Memorial.
Hậu duệ của những chiến binh da đỏ tham gia vào trận Little Bighorn đã đóng góp tầm nhìn về một đài tưởng niệm cho thổ dân bản địa.
Cổng Linh Hồn tại Indian Memorial: Một lối mở có chủ ý trên bức tường đối diện với tượng đài Trung đoàn 7 Kỵ binh, tượng trưng cho sự chào đón và sự thấu hiểu chung dành cho tất cả những người đã hy sinh.
Thảo luận
Không có bình luận