//
you're reading...
Chuyện Xưa Tích Cũ, góp nhặt cát đá, Nhân vật, Tùy Bút, Văn Hóa Nghệ Thuật

Nguyễn Vỹ kể kỷ niệm với Nguyễn Tuân và Lưu Trọng Lư

Nguyễn Vỹ (1921-1971)

Nguyễn Vỹ là nhà báo, nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Các bút hiệu khác của ông là: Tân Phong, Tân Trí, Lệ Chi, Cô Diệu Huyền. Ông là tác giả hai bài thơ: “Gởi Trương Tửu” và “Sương rơi”, từng gây tiếng vang trong nền thơ ca đương thời. Năm 1958, ông đứng ra chủ trương bán nguyệt san Phổ Thông, chú trọng về nghệ thuật và văn học, tạp chí này được kể là có nhiều uy tín đối với làng báo miền Nam. Ngoài ra, ông còn cho ra tuần báo Bông Lúa, tuần báo thiếu nhi Thằng Bờm.

Nguyễn Tuân (1910-1987) (trái) và Lưu Trọng Lư (1911-1991).

Hồi tôi chưa gặp Nguyễn Tuân, tôi đã biết vài ba người bạn chơi thân với anh đều có cảm tưởng chung về anh như thế nầy :

– Nguyễn Tuân gàn lắm !

Cho đến Lưu Trọng Lư, là anh chàng mơ mộng nhất trong làng Thơ làng Văn lúc bấy giờ, – mơ mộng cũng gần như là gàn rồi còn gì ! – mà cũng phê bình Nguyễn Tuân :

– Thằng ấy gàn thật !

Một buổi tối, Lư hỏi tôi :

– Toa muốn gặp Nguyễn Tuân không ? Đi đến nhà nó chơi đi !

Tôi hỏi Lư :

– Có phải nó gàn lắm không ?

Lư cười ranh mảnh :

– Nó bảo nó không gàn. Nó bảo toa gàn.

– Nếu thế thì đến xem đứa nào gàn.

Lư đi với tôi. Hai người đi tàu điện từ Chợ Hôm lên đến giữa phố hàng Bông, xuống ngay đầu phố Nhà Thờ.

Lư bảo :

– Nó ở nhà thằng Nguyễn Đàm là em ruột của nó, ở con đường nầy đây.

– Đàm là ai ?

– Đã bảo Nguyễn Đàm là em ruột Nguyễn Tuân, mà còn hỏi ! Thế là đích thị cậu mầy gàn rồi !

– Nhưng Nguyễn Đàm làm nghề gì chứ ?

– Nó là con rể của Vũ Đình Long, chủ nhiệm Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Nếu không phải con rể thì là em rể. Nếu không phải em rể thì là cháu rể … Nếu không phải cháu rể nữa thì thôi, tao chịu !

– Chính chú mầy mới thật là gàn đấy ! Làm rể ông Vũ Đình Long mà cũng là một cái nghề à ?

Lư cười sặc sụa, chỉ ngón tay ốm teo vào mặt tôi :

– Mi gàn mà mi bảo tao gàn ! Làm rể ông Vũ Đình Long thì mới được làm quản lý nhà in và nhà báo của Vũ Đình Long chứ !

Hai đứa tôi vừa đi vừa cãi đùa chưa hết câu chuyện thì đã đến trước một căn nhà thắp đèn “manchon” chiếu một màu sáng xanh xanh.

Lư vào trước, nắm tay một chàng đang đứng trong nhà, và cười ngó ra tôi. Tôi vừa bước vào. Lư nắm cả tay tôi, bảo chàng kia :

– Nó bảo mày gàn, mày bảo nó gàn, thế là đứa nào gàn ?

Tôi chưa biết chàng ấy là ai, chỉ nhận thấy một điều ngay trước mắt, là chàng có một đầu tóc bờm xờm kinh khủng. Giống hệt cái đầu của Jean Cocteau, Thi sĩ Pháp. Chàng mập mạp, coi bộ to lớn rền rang hơn tôi nhiều, và chắc chắn là nhiều tuổi hơn tôi. Chàng có một nét cười chúm chím rất hóm hỉnh, và đôi mắt ranh mảnh lạ thường, nhưng nụ cười và đôi mắt đều vô cùng khả ái. Tôi có cảm tình ngay khi chàng nhìn tôi :

– Cho mình biết tên thì mình biết ngay là đứa nào gàn !

Tôi cười :

– Tụi mình chơi với nhau mà không cần biết tên, có được không ?

– Được lắm chứ. Mình cũng thích như thế đấy.

Lưu Trọng Lư cười hả hả :

– Đích thị hai đứa bay đều gàn bát sách cả hai !

Thế là Nguyễn Tuân và tôi quen nhau và mến nhau từ tối hôm ấy trong một trận cười rổn rảng, mà chưa đứa nào chính thức biết tên đứa nào.

Nửa giờ sau, Nguyễn Tuân mặc áo, đeo cà vạt, đi chơi với chúng tôi, lang thang trên phố Hàng Gai rồi rẽ ra Hồ Hoàn Kiếm. Chúng tôi ngồi chung quanh bàn nhỏ ăn kem, bên một mành liễu từ trên cung trăng buông xuống. Chàng kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện lý thú hồi đời xửa đời xưa … Câu chuyện tình duyên trắc trở giữa một nghệ sĩ mù và một nàng Công Chúa. Tiếng nói trầm trầm như mặt nước hồ thu, thỉnh thoảng nổi dậy một đợt cười xao xát như làn sóng chập chờn khẽ tạt vào bờ.

Khuya rồi, khách thừa lương đã tản mác, ba đứa tôi còn ngồi dưới gốc liễu duỗi chân trên cỏ, nhìn xuống mặt hồ. Nguyễn Tuân bảo :

– Tiếc rằng tớ không biết làm thơ như hai cậu. Nhưng cần gì biết làm thơ nhỉ ? Mình cho rằng thưởng thức được trọn vẹn những ý thơ của gió trăng, hòa mình vào với hồn thơ của cây cỏ ấy là biết làm thơ rồi… Người đời xưa, đã mấy ai làm thơ, nhưng họ toàn sống trong cảnh thơ và cảnh mộng. Mình tiếc không làm được người nghệ sĩ mù. Mình tiếc không gặp được nàng Công Chúa, nhưng mình biết chuyện họ, mình sống lại với họ, thế là mình tạo ra chàng nghệ sĩ cho mình và nàng Công Chúa cho mình… Hai anh chắc đã có hai nàng công chúa, hay là hai chục nàng công chúa, còn tôi, tôi chỉ sống trong vang bóng một thời… Tôi chỉ yêu những nàng công chúa ở tận đời xửa đời xưa…

Lưu Trọng Lư bỗng phá tan giấc mộng của anh chàng có đầu tóc bờm xờm :

– Đi lên Khâm Thiên ăn thịt chó chơi, tụi bay !

Nguyễn Tuân cười chúm chím (nụ cười quen của chàng) :

– Ừ, đi.

Tôi bảo :

– Hai anh đi, tôi về.

– Không ăn được chó à ?

– Tớ không có duyên với thịt chó.

Tuân bảo :

– Khỏi lo. Gắp một miếng chả chó bỏ vào miệng, nhai thong thả để thưởng thức cho hết mùi thơm của nó, rồi hớp một ngụm rượu, nuốt cái ực vào là có duyên ngay.

– Nhưng tớ cũng không uống được rượu.

Lư ngó tôi :

– Cứ đi, rồi mình bày cho cách uống rượu.

– Thì… đi !

Đêm ấy, ở quán bán thịt cầy nơi góc Ô chợ Dừa, Lưu Trọng Lư và Nguyễn Tuân ra về say khướt. Mặc dầu Nguyễn Tuân bảo “mùi thịt chó rất nên thơ,” tôi cũng không sao chịu nổi mùi thơ ấy.

Sau đó, tôi có gặp Nguyễn Tuân bốn năm lần. Nguyễn Tuân uống rượu thật nhiều, nhưng tôi chưa thấy Nguyễn Tuân nói bậy bạ như Lưu Trọng Lư lúc say mèm. Tuân người Thanh Hóa, tính nết hay nghiêm nghị, và làm gì cũng đắn đo nhưng rút cuộc không làm được theo ý mình. Chất nghệ sĩ của Nguyễn Tuân là mơ, nhưng không phải cái mơ huyền ảo bông lông, mà chỉ là cái mơ ước thực tế, giản dị, gần gủi nhưng vẫn ít khi thực hiện được. Mơ một cuộc du lịch mà không có tiền, rồi xách va li ra ga xe lửa để tưởng tượng là đi du lịch, mơ có một nàng công chúa để yêu, nhưng không có nàng công chúa, rồi lấy bút vẽ ra một mỹ nhân để tưởng tượng đó là nàng công chúa. Những quyển tùy bút của Nguyễn Tuân hầu như là những trang giấy ghi chép các giấc mơ không thành của con người văn nghệ ưa phiêu lưu ấy. Trong quyển “Chiếc lư đồng mắt cua” loại giấy tốt của anh gởi tặng tôi, anh có đề một câu sau đây, mà tôi vẫn chưa quên được :

“Chúng ta là những con người ta của người ta.

“Chỉ có giấc mơ của mình là của mình.

“Phải không anh Nguyễn Vỹ.”

Phải lắm anh Tuân ạ.

Cho nên ngày nay, tôi biết anh còn sống ở đất Bắc nhưng tôi biết anh đã chết rồi. Vì cái “con người ta” của anh, anh đã biết là không phải của anh, cũng như “giấc mơ của mình” đâu còn “là của mình” nữa ?

Than ôi, Nguyễn Tuân ! Tôi thương Lưu Trọng Lư ít, mà tôi thương anh nhiều. Vì Lư vẫn không bao giờ tin tưởng nơi cái gì cả và cả nơi Lư, chứ Nguyễn Tuân… Xưa kia… Chàng còn tin tưởng nơi giấc mơ xinh đẹp của con người Văn nghệ.

Có gì thê thảm bằng sự tan rã của giấc mơ duyên ?

N.V

(Trích Phổ Thông bộ mới số 16, ra ngày 30.7.1959, mục Văn sĩ Thi sĩ Tiền Chiến) (Sưu tầm của thantri)

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Thư viện

%d người thích bài này: