//
you're reading...
SG Những Ngày Sau Cùng, Triệu Phong

Sài Gòn những ngày sau cùng (15)

Triệu Phong dịch thuật

Như đã thấy, tác động của việc Quốc Hội Hoa Kỳ cắt viện trợ cho Nam Việt đã làm cho đồng minh nầy của Mỹ điêu đứng. Tòa Bạch Ốc bắt đầu yêu cầu cắt giảm các khoản ngân sách mà không quan tâm đến tính cách hợp lý của việc cắt giảm đó : Chi phí dành cho VNCH dự trù sẽ cắt giảm nặng nề sau khi đôi bên ngưng bắn theo tinh thần Hiệp định Paris, ký kết vào tháng Giêng 1973. Nhưng sự ngưng bắn đó không bao giờ thành hiện thực, và QH Mỹ vẫn cứ cắt tiền trong khi chiến sự tiếp tục leo thang.

Hiệp định Paris ký kết ngày 27 tháng Giêng, 1973, đôi bên thỏa thuận ngưng bắn và bất tương xâm. (wikipedia)

Lập luận thứ hai, rằng một số khoản viện trợ vẫn còn chưa xài đến vào thời gian cuối, cho thấy sự lãng quên trong tiến trình cung ứng và làm ngân sách.

Cả hai luận điểm đều không quan tâm đến sự phân nhánh rộng rãi hơn : rằng mỗi bên diễn giải một cách đúng đắn việc cắt giảm viện trợ, và sự ngăn cản của Quốc Hội trong việc tái sử dụng sức mạnh không quân khi Mỹ nhất quyết phủi tay, bỏ mặc cho Nam Việt Nam tự định đoạt số phận.

Đơn giản mà nói, hành động cắt viện trợ của Quốc Hội Hoa Kỳ đã làm suy sụp tinh thần chiến đấu của người dân Miền Nam và ngược lại, làm phấn chấn người CS hơn. Nam Việt Nam trở nên suy yếu bởi hậu quả của những hành động nầy là một trong hai yếu tố quan trọng khiến Hà Nội đi đến quyết định bắt đầu những cuộc tổng tiến công. Yếu tố kia là kết luận của Hà Nội, rằng họ đang có cửa để mà hành động, kịp trước khi Mỹ lẫn Nam Việt Nam phục hồi từ “những mâu thuẫn nội bộ.”

Quốc Hội Mỹ do không ngừng bị áp lực bởi những người chống chiến tranh Việt Nam, đã cắt viện trợ và chấm dứt các hoạt động quân sự của quân đội Mỹ, ngay đúng lúc Bộ Chính Trị CS xem đây như là cơ hội tốt nhất và cuối cùng để kết thúc cuộc chiến trường kỳ nầy. Hai hành động nầy phải được xem như là trong số những thất bại trong chính sách đối ngoại tồi tệ nhất của Mỹ trong thế kỷ XX.

Khẳng định rằng Hà Nội nhận được viện trợ ít hơn đáng kể so với Sài Gòn cũng không trung thực. Tình báo Mỹ ít có dữ liệu về quy mô số lượng và phí tổn thực sự và hàng xuất khẩu mà khối Soviet gửi sang Bắc Việt, do đó những nghiên cứu của họ về khía cạnh này chỉ thuần túy do phỏng đoán. Dù chúng ta có biết chính xác về số lượng, chi phí cho hệ thống quân sự của hai phía cũng không thể so sánh với nhau được. QLVNCH có nhiều khí tài quân sự mắc tiền hơn cần phải bảo trì. Các chi phí cá nhân (lương tiền, bảo hiểm sức khỏe, nơi ăn chốn ở dành cho gia đình binh sĩ, thực phẩm và huấn luyện, …) bên phía Nam Việt Nam đều cao hơn nhiều. Vũ khí của khối CS (súng trường, đạn dược, xe tăng … ) đều được chế tạo hàng loạt bởi các thực thể thuộc nhà nước, không bởi những tư nhân vốn luôn đặt lợi nhuận lên ưu tiên hàng đầu. Vũ khí khối Soviet cũng dễ bảo trì hơn, một lý do khác khiến các khoản viện trợ cho Bắc Việt có thể đi xa hơn nhiều.

Quân cụ Mỹ (trực thăng, xe tải, máy bay, thiết bị) phản ảnh sự khác biệt giữa học thuyết quân sự Mỹ với của khối Soviet/Trung Cộng, điều này ảnh hưởng đáng kể đến chi phí về vũ khí. Hoa Kỳ thành lập QLVNCH rập khuôn theo mô hình của chính chúng ta, có nghĩa là sự chiến đấu của họ phải lệ thuộc vào hỏa lực và phương tiện cơ giới thay vì vào sức người. Sau hết, người Miền Nam phải canh chừng khắp nơi, và có tính cách thường trực, trong khi phe CS có thể duy trì những lực lượng tương đối nhỏ, và có thể tập hợp lại với nhau khi cần.

Điều cũng rõ ràng là người CS ngay sau khi vừa ký xong Hiệp Định Paris, đã nhanh chóng và âm thầm phá vỡ hiệp định ấy. Trong hơn hai năm, BV ồ ạt đưa quân vào Miền Nam, trái ngược với điều họ đã long trọng ký kết. Tuy nhiên, ngoài việc trắng trợn vi phạm thỏa ước ngưng chiến, từ một tầm nhìn hoàn toàn có tính cách quân sự, việc đánh Ban Mê Thuộc phải được xem trong số những chọn lựa chiến lược sáng suốt nhất của cuộc chiến. Hơn nữa, trong khi hàng phòng thủ của VNCH liên tục bị bẽ gãy, chính bộ phận tham mưu của CSBV ở mức độ chiến lược, và sự chỉ huy hiệu quả, cộng với sự điều binh ở tầm mức đơn vị, đã đặt các đơn vị CS vào đúng vị trí hầu xoay chuyển cơn sóng triều của cuộc chiến. Mặc dù có nhiều đấu đá và thù địch giữa cá nhân các tướng CS, cơ cấu chỉ huy cao cấp của QĐND vẫn vận hành tốt đẹp.

Cuộc tổng tấn công 1975 nêu bật hai yếu điểm về quân sự của Miền Nam.

Thứ nhất, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã thiết kế một bộ Tổng Tham Mưu yếu, và những quân đoàn độc lập, làm ngăn trở một sự đáp ứng phối hợp khi đối mặt với một cuộc tấn công xảy ra trên khắp toàn quốc. Không có sự lãnh đạo quân sự mạnh mẽ và sự hoạch định tập trung ở mức tổng tham mưu, để giám sát từng nơi phòng thủ trong nước. Những quyết định của ông, cộng thêm sự quan sát kém khi bỏ sót những điểm quan trọng như Quân Đoàn II.

Tuy nhiên dù với một quân đội tổ chức vững mạnh, Nam Việt vẫn không thể bảo vệ khắp mọi nơi của đất nước. Do bởi địa hình, địa lý phức tạp của Nam Việt Nam chứ không phải do người lính VNCH không chịu chiến đấu, họ cần có sự trợ lực của không quân Hoa Kỳ mới chận đứng nổi một cuộc tổng tấn công.

Vấn đề thứ hai là, QLVNCH thiếu lực lượng trừ bị và thiếu cả hỏa lực để có thể chận đứng một cuộc xung phong biển người bất ngờ của CS. Sau Hiệp Định Paris, với hầu hết các đơn vị trừ bị quan trọng của Miền Nam đều bị chôn chân ở Quân Đoàn I, Mỹ đe dọa sẽ giúp Nam Việt Nam bằng hỏa lực của phi pháo lẫn hải pháo, một khi Nam Việt bị CS tấn công. Lời đe dọa ấy đối với người Miền Nam chính là lực lượng trừ bị quan trọng của họ.

Khi Quốc Hội Mỹ vô hiệu hóa lời đe dọa ấy, Nam Việt quá chậm không kịp thành lập thêm các đơn vị trừ bị mới. Mà cho dù họ có làm vậy đi chăng nữa, họ cũng không có tiền để mua vũ khí mới, trong khi phải tiết kiệm nhiên liệu, và sự thiếu phụ tùng thay thế đã làm tiêu hao nhiều khả năng chuyển vận bằng đường không của Không Quân. Do vậy cho dù có thành lập thêm những đơn vị trừ bị, Nam Việt vẫn không đủ khả năng vận chuyển số lượng quân đông đảo như thế.

Trong phân tích sau cùng, không có gì rõ ràng về cuộc chiến Việt Nam. Những tranh luận sau chiến tranh về chiến lược của Mỹ đã không đưa ra câu trả lời hoàn hảo cho những câu hỏi khó về chính trị / quân sự, hoặc biện pháp khắc phục hậu quả của những mê say mãnh liệt. Nhiều quyết định của Hoa Kỳ cần được xem xét lại, cũng như những chọn lựa của Tổng Thống Thiệu. Tiên đoán là số phận của những ai đang nắm quyền. Tuy chính phủ và quân lực Miền Nam có những khuyết điểm, nhưng họ không phải là nước chuyên chế công an trị, và là quân đội yếu kém như Tả phái trên trên khắp thế giới hay gièm pha. Người Mỹ cần rút bài học từ việc Miền Nam bị đánh bại, nhiều vấn đề quốc nội lẫn quốc tế của chúng ta đã hình thành phần lớn chính sách của chúng ta đối với đất nước xa xôi đó. Dù sao, chúng ta chưa thỏa thuận với sự bàn luận đầy ác ý về Việt Nam vốn làm rung chuyển dữ dội đất nước chúng ta. Có lẽ câu hỏi vẫn còn gây tranh cãi nhất là liệu những cân nhắc trong nước chúng ta có cản trở việc thực hiện chính sách đối ngoại một cách hiệu quả và do đó, gây tổn hại một cách rõ ràng đến lợi ích quốc gia hay không.

Có lẽ chỉ ở Hoa Kỳ, nơi mà triết lý đạo đức và nhân đạo, cả hai mới làm nền và bó buộc các hành động của đất nước chúng ta. Sự vĩ đại của Hoa Kỳ không chỉ minh chứng nơi sản lượng công nghiệp hay sức mạnh quân sự của chúng ta, nhưng chính bởi những giá trị cơ bản của chúng ta. Giáo điều không bao giờ sẽ là hướng dẫn duy nhất của chúng ta. Chúng ta bước vào cuộc chiến bởi nhiều lý do, mà một trong số đó là giúp người dân Nam Việt Nam bảo vệ nền tự do của họ. Những ai nói rằng cuộc chiến này không thể thắng được và bị thất bại là kết quả của những điều kiện lịch sử, phát sinh từ quá trình đánh đổ thuộc địa và sự thôi thúc không ngừng cho Việt Nam thống nhất, đã phớt lờ một thực tế khác, đó là nhiều người Việt không muốn phải chịu sự đày đọa của CS. Tại sao ước vọng tự do của họ không được tôn trọng, quan điểm của họ bị bác bỏ ? Hằng triệu người phải kinh hoàng trốn chạy trước khi CS đến, và rồi vượt thoát ra khỏi nước hằng loạt sau khi chiến tranh kết thúc, cho thấy chiều sâu khát vọng của họ, một ước vọng mà nước Mỹ hằng tìm cách phát triển và bảo vệ. Chúng ta không nên xấu hổ về sự thôi thúc đó.

Người Miền Nam không phải là kẻ bù nhìn bất tài như thường bị gán cho. Nhiều người đã chứng tỏ sự hết sức can trường ngay cả khi đang ở trong tình huống tuyệt vọng như ở trận chiến tại Tân Sơn Nhứt, Hố Nai và nhiều nơi khác. Vào thời điểm năm 1973, quân đội Miền Nam, mặc dù nước nhà đang gặp phải nhiều vấn đề quốc nội lẫn kinh tế, đã phát triển thành một lực lượng chiến đấu có thừa khả năng đánh bại quân BV. Nếu quân đội ấy được viện trợ đầy đủ, và với sự yểm trợ đều đặn của Mỹ, hậu quả của cuộc chiến có thể đã hoàn toàn khác.

Bất hạnh thay, lịch sử không cho cơ hội để làm lại mà chỉ cho chúng ta một góc nhìn hay thái độ đối với những gì đã xảy ra. Unfortunately, history does not offer “do-overs,” only perspective.

HẾT

Trở lại kỳ trước

Trở về kỳ đầu

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Thư viện

%d người thích bài này: