//
you're reading...
Ký giả Mike Langford, Triệu Phong

Mike Langford với biến cố 30/4 (2) * Triệu Phong

Xế chiều hôm đó, Mike Langford, ông Ed và tôi lái chiếc Mustang chạy vòng qua chỗ tòa đại sứ Mỹ. Mike và tôi quây cảnh lúc mấy chiếc trực thăng Sikorsky và Sea Knight của TQLC Hoa Kỳ đang đáp xuống trong khuôn viên, kể cả trên nóc, chở đi các nhân viên sứ quán, trong khi binh sĩ TQLC của họ đứng gác trên mấy bức tường cao. Những chiếc trực thăng đến rồi đi liên tục, bấy giờ vào khoảng bảy giờ ba mươi, và sẽ tiếp tục vòng thoi đưa như vậy cho đến lúc rạng đông. Chúng tôi chận một phóng viên người Mỹ, người sắp được lên máy bay, ở ngoài cổng, nhờ cầm theo mớ phim của chúng tôi để gửi đi giúp.

Hằng ngàn người đấm lên những cánh cửa đóng kín, kể cả lên tường, đòi hỏi có, kêu xin có, khóc lóc có, nhiều người giơ cao hồ sơ. Nhiều lần trời đổ mưa và tối đen vì điện cúp từ lúc bảy giờ. Tiếng kêu vù và tiếng vỗ của cánh quạt lấp đầy bóng tối, những chiếc trực thăng lờ lững trên không rồi khẽ nghiêng, lóe sáng ánh đèn trước mũi chiếu hướng xuống bên dưới. Vài thanh niên Việt leo được lên trên vòng thành nhưng bị ngay mấy tay TQLC Mỹ bự con đá hoặc xô xuống. Những TQLC khác quăng lựu đạn cay vào đám đông. Các anh làm cái gì vậy? Tôi nghĩ. Từ lâu các anh đến đây giúp họ chống lại kẻ địch, chả lẽ bây giờ các anh hành động như vậy được sao? Và tôi cảm thấy xấu hổ phải thu hình cảnh tượng như vậy.

Vài người lính Miền Nam cũng có mặt ở đó, họ uất hận việc bị người Mỹ bỏ rơi, đã lớn tiếng chửi tục người lính TQLC Mỹ. Du-ma, they called – meaning “mummyfucker“. Tuy nhiên mấy người khác quanh đó vẫn mang tâm trạng vui vẻ, vì họ ý thức được rằng, chúng ta những kẻ ở lại, đang cùng nhau trực diện với một cảnh ngộ mới không ai có thể làm gì khác hơn. Trong cùng cảnh ngộ như thế nẩy sinh một thứ tình cảm sôi nổi, tình cảm của những người đang rơi vào trong cùng cảnh ngộ éo le mà hầu hết chúng ta không ai chịu chấp nhận. Và họ nay đang đối mặt với sự kiện rằng điều họ ước ao nhất sẽ không bao giờ xảy ra, sự kiện rằng họ không bao giờ được những chiếc trực thăng màu lính khổng lồ ấy chở đi, đó là điều duy nhất có thể cứu được họ. Bây giờ điều họ có thể làm là đưa mắt nhìn những ánh sáng trắng, hạ xuống xuyên qua bóng đêm, như ánh sáng từ một thế giới khác.

Tôi sẽ không quên những cảnh ấy; nhưng cảnh tượng tôi thấy khó quên nhất là một số nóc nhà cao trong thành phố, mà chúng tôi sắp chạy ngang qua. Người Mỹ đã gửi một số trực thăng đến những tòa cao ốc ấy từ lúc xế trưa, để bốc những người Việt đã được hứa cho di tản. Giờ đây, mặc dù còn nhiều người sót lại nhưng mấy chiếc trực thăng thôi không xuất hiện nữa. Những tốp nhỏ người Việt tiếp tục đứng trên những nóc nhà ấy trong bóng đêm, lặng lẽ và kiên nhẫn, hành lý để bên cạnh. Tiếng rộn ràng của trực thăng lên xuống không còn nghe, ngoại trừ bên phía tòa đại sứ; cuộc di tản coi như đã kết thúc. Nhưng những người này vẫn không tin rằng người Mỹ sẽ không trở lại. Tôi nghe kể họ vẫn đứng đó cho đến sáng hôm sau, mắt dán lên nền trời. Họ chờ họ đợi những chiếc máy bay họ chỉ nhìn thấy trong tâm trí, đến cứu họ khỏi ngày mai.

Ngày hôm sau, Sài Gòn hết sức yên tĩnh. Mọi tiếng ồn đều ngưng bặt, một thứ yên lặng quái dị nhất tôi từng được biết.

Mike Langford, ông Ed Carter và tôi ngồi ăn sáng tại nhà hàng của khách sạn Caravelle. Buổi điểm tâm gồm nước cam, croissant, và cà phê. Hiện diện còn lại nơi đây chỉ khoảng nửa tá, gồm vài người Ý, hai phóng viên Pháp của báo Le Monde, và một nhiếp ảnh gia người Nhật. Đó là một buổi sáng nóng bức, yên tĩnh và dễ chịu. Điện mới có lại, mấy cái quạt lớn trên trần đang quay, và những người bồi Tàu mặc áo choàng trắng có ủi hồ đứng cạnh những hàng cột màu vàng.

Cả thành phố có vẻ yên lặng, lưu lượng giao thông ngoài đường chỉ còn phân nửa bình thường. Xa hơn về phía quảng trường, vài chiếc xe tải nhà binh chạy qua, và vẫn còn một số dân tị nạn khiêng kéo hành lý băng qua đường. Nhưng không còn thấy người lính Miền Nam nào; không người rao bán đồ chợ đen; không du đảng Sài Gòn phóng xe Honda; và không cả White Mice. Làn khói xanh của khí thải xe cộ tan biến dần, bầu không khí hầu như trong lành. Sau cái huyên náo và hoảng sợ của ngày hôm trước, thức giấc trong sự yên tĩnh này cảm giác như vừa thức dậy sau một cơn sốt, để thấy mình hoàn toàn sảng khoái. Sài Gòn đang chờ kẻ chiến thắng đến.

Yên tĩnh thật, ông Ed nói. Vấn đề là ai đang quản lý đất nước?

Không ai cả, Langford trả lời. Tôi không bao giờ nghĩ có ngày mình lại nhớ đến những White Mice nhỏ nhắn ấy, không có họ quanh đây thấy nó ghê rợn làm sao.

Chúng tôi cười. Ông Ed ra hiệu mang thêm cà phê. Một trong mấy người bồi Tàu liền bước tới, cầm theo bình cà phê cao màu bạc trên tay. Gã có vẻ nghiêm trang nhưng không giấu được nét lo âu. Tôi không biết sau hôm nay cuộc sống của gã sẽ ra sao. Gã làm việc cho Continental có lẽ được bốn mươi năm; không biết gã có hiểu chuyện gì đang xảy ra chăng?

Chúng tôi bắt đầu bàn thảo nên đóng chốt ở chỗ nào, để chuẩn bị cho sự đến của quân Bắc Việt. Không ai biết khi mới vào thành phố họ sẽ đến nơi nào trước để đến đó mà chờ, hoặc khi nào chuyện ấy xảy ra.

Tại đây, ngay trung tâm thành phố, theo tôi là chỗ có lý nhất, ông Ed nói. Ở đây chúng ta cũng được tiện nghi thoải mái nữa. Tôi không muốn ra ngoài đó chạm mặt với binh lính Miền Nam, hôm nay họ hận người Mỹ lắm. Hôm qua lúc đi trên vỉa hè, một người lính nhổ toẹt về phía tôi, nói rằng chúng tôi đang bỏ chạy để mặc cho họ ở lại ra sao thì sao. Nhưng khi tôi nói rằng tôi cũng không đi theo cuộc di tản thì y chìa tay bắt. Họ uất hận dữ lắm.

Ông có trách việc họ làm đối với ông không? Langford hỏi. Mặt anh rắn lại với vẻ cay đắng.

Tôi chắc là không, ông đáp.

Chúng tôi im lặng một chốc rồi Ed nói. Quân BV sắp thượng cờ ở một nơi nào đó quan trọng khi họ vào thành phố. Có thể Dinh Độc Lập. Tôi đoán Big Minh đang ngồi trong văn phòng bên đó chờ đầu hàng. Nhưng tôi cuộc họ sẽ chạy vòng ở góc chỗ này rồi thẳng vào Tòa Đô Chánh.

Được rồi ông chọn Tòa Đô Chánh, Langford nói với Ed. Jim và tôi sẽ chạy qua bên Dinh Độc Lập. Ai thắng ăn hai mươi đô.

Chúng tôi bắt tay đồng ý và Langford mỉm cười, chuyện hiếm xảy ra, vì anh đang trong tình trạng tâm bất tại, anh mãi nghĩ đến Ly Keang, người yêu anh, giờ đang trôi giạt nơi đâu, có rơi vào tay Khmer đỏ bên Căm Bốt không.

(Xem tiếp kỳ sau)

(Trở về kỳ trước)

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: