//
you're reading...
Ký giả Mike Langford, Triệu Phong

Ký giả mất tích Mike Langford và Sài Gòn thập niên ’60 (14) * Triệu Phong

Sau gần ba ngày lội bì bõm họ vẫn chưa chạm trán với Việt Cộng lần nào. Ngày mai họ sẽ bắt đầu quay trở về tiền đồn, nhập lại với đám quân còn đóng ở đó. Langford bắt đầu nghi ngại e sẽ không có đụng độ với địch. Đại đội càn quét hai mươi bốn cây số mỗi ngày, khoảng cách xa gấp ba lần khoảng cách thông thường lính Mỹ đi tuần tra. Đồ ăn sáng của họ là một chút khẩu phần trái cây khô và cá khô hoặc thịt khô, ngoài ra thì suốt ngày họ không ăn gì cả. Đến tối, họ ăn một chút canh rau loãng, vài khúc cá, với cơm. Hầu hết người Tây phương cho khẩu phần như vậy là thiếu thốn, nhưng với Langford thì anh chẳng hề quan tâm.

Vào hôm đầu tiên, Langford kể, họ đi bộ suốt buổi chiều và tiếp tục thâu đêm, lê bước dưới những rặng dừa, qua những bãi lầy đầy cỏ dại và cỏ voi, chỉ ngừng để chợp mắt một chút trên một khoảng đất khô, hay trên bờ ruộng. Vào giữa trưa của ngày thứ nhì họ dừng quân cạnh một đồng lúa, dưới bóng những tán lá màu lục bảo của những cây cọ nước. Khi Langford vừa ngả lưng một cách thoải mái lên tấm poncho thì một vài anh lính kéo tới đứng vây quanh.

Họ cười toe toét khi nhìn anh tháo giày, lối nhìn của họ hoàn toàn có tính cách tò mò chân thật. Họ bắt đầu dùng điếu thuốc dí lên những con đỉa no máu bám đầy chân Langford, và cười vang. Tiếng cười họ nghe dịu êm và lịch sự. Đ/úy Trung nhìn họ từ một khoảng cách. Họ hỏi ông bằng tiếng Việt rằng ông có mệt không. Ông ra hiệu cho biết là có; rồi ông bảo họ dạy Langford đặt cùng câu hỏi như vậy đối với họ. Anh lập lại theo họ, và …

“Có, mệt quá.” Yes, very tired, họ trả lời và cùng cười.

Anh chuyền bao thuốc lá Mỹ và họ đón nhận một cách biết ơn, từng người với những ngón tay màu nâu thon dài nhẹ nhàng lục tìm điếu thuốc; rồi đột nhiên Langford nhận thấy hai người trong số họ đang tò mò nhổ sợi tóc vàng trên trán anh, và bàn luận với nhau bằng tiếng Việt.

– Tôi có cảm tưởng mình trong tình trạng như anh chàng Guilliver lạc vào vương quốc người tí hon.

Langford cầm cái máy Leica lên chụp họ vài tấm, thế là lập tức họ đứng thành từng nhóm yêu cầu anh chụp thêm nữa. Những tấm hình này nay vẫn còn tồn tại, và những khuôn mặt dưới cái nón sắt lớn quá khổ ấy ngời lên niềm khoái chí của tuổi thanh xuân, những nụ cười vô tư, họ như đang trong một cuộc du ngoạn giải trí. Vài người lấy hình vợ con từ trong ví ra khoe với Langford. Anh ngồi tập nói với họ chữ đầu tiên anh học được bằng tiếng Việt : hạnh phúc.

Thọ đi tới bờ ruộng, lấy nón sắt múc nước, và trở lại với một nón đầy ắp. Rồi anh thả vào vài viên thuốc lọc nước. Ít ai trong trung đội này có mang theo bi đông vì suối và đồng lúa là nguồn nước có sẵn của họ, và vào mùa mưa họ chỉ việc dùng nón sắt để hứng lấy nước. Thọ uống xong thì chuyền qua phía Langford, vừa mỉm cười và gật đầu.

Mặc dù vẫn còn nước trong bi đông nhưng Langford vẫn lịch sự nhận lấy, tuy lòng không ít áy náy. Uống nước ruộng có thể gây tử vong nếu không có thuốc khử trùng, nhưng đối với người Tây phương dù có thuốc hay không đều không ưa cả.

“Để tôi chụp hình anh nhé.”

Đ/úy Trung vừa bước tới, nón sắt cầm trên tay, tay kia chà lên đầu tóc đinh của mình. Lần đầu tiên ông nở nụ cười với Langford. Đoạn ông cầm cái máy ảnh Leica và chụp Langford đang uống nước một cách thành thạo.

Tấm hình này vẫn còn tồn tại và đã đi vào bộ sưu tập đầu tiên được xuất bản về Langford. Trong đó Thọ, mỉm cười và cầm nghiêng cái nón sắt, đỡ cho Langford uống như đang chăm sóc một đứa trẻ. Người ta có thể hiểu tại sao. Cái mũ vải nhà binh Langford vò trong tay, mũi thì chúi vào trong nón sắt, mớ tóc vàng và dài mà mấy người lính cho là mới lạ, xổ tung tới phía trước lúc Langford đang uống, khiến anh trông có vẻ hai mươi hai hơn là một người đàn ông gần ba mươi.

Họ xử sự với tôi như trẻ con trong chuyến tuần tra đầu tiên ấy. Họ làm tôi nhớ đến người dân quê ở Tasmania, họ đối đãi với người lạ cũng y hệt như thế.

Vào ngày thứ nhì, đại đội thức dậy trước lúc mặt trời mọc và di hành cho đến khi trời tối, băng qua những thôn làng, nơi các cư dân mặc đồ đen nhìn họ một cách sưng sỉa. Họ là cảm tình viên của VC, vài người lính cho Langford biết, do tin theo CS hoặc do bị áp lực phải theo.

Lúc trời tối, họ dừng quân, tạo một nhóm lửa nhỏ để nấu bếp và cười nói ồn ào. Nhưng vài phút sau, Trung ra lệnh, tất cả ba lô và súng lên vai, họ tiến bước, để mặc cho lửa tiếp tục cháy. Đang vừa mệt nhoài vừa đói nhưng Langford phải đành lòng đi theo. Một giờ sau họ lại đóng quân, lần này thì không gây một tiếng động.

Trung từ trong bóng tối đen đặc bước ra, chống nạnh nhìn Langford vẻ hài hước. “Anh ngạc nhiên chúng tôi đang làm gì phải không. Chúng tôi lập một trại giả đằng kia còn bên này là trại bí mật. VC sẽ nhắm theo ánh lửa bên trại kia mà tấn công. Đúng vậy, họ ở quanh đây, gần lắm. Họ luôn luôn tấn công vào ban đêm.”

Nhưng đêm đó không có cuộc tấn công nào xảy ra.

(Xem tiếp kỳ sau)

(Trở lại kỳ trước)

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: