//
you're reading...
Colnav Nguyen, Dịch Thuật, Nhân vật, Photography

Ernst Haas – bậc thầy nhiếp ảnh màu * Colnav Nguyen

 

 

 

 

 

1

Ernst Haas (1921-1986)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ernst Haas, người Mỹ gốc Áo, phóng viên chụp ảnh báo chí, vừa là nhiếp ảnh gia siêu đẳng về chụp ảnh màu.

Trong suốt 40 năm hành nghề, Haas bắt nhịp cầu, nối hố ngăn cách giữa chụp ảnh báo chí, với sử dụng nhiếp ảnh như là phương tiện để diễn đạt và sáng tạo.

Ngoài tường thuật các sự kiện trên khắp thế giới sau Thế Chiến Hai, Haas tiên phong trong việc chụp ảnh màu mà ông có thiên phú.

Khước từ xu hướng ảnh trắng đen đang thịnh thời bấy giờ, Haas sớm tiếp nhận ảnh màu từ năm 1949, nhờ vậy Haas vinh dự trở thành nhiếp ảnh gia đầu tiên có triển lãm đơn về ảnh màu tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (MoMA – Museum of Modern Art) ở New York vào năm 1962.

Ảnh của Haas được phổ biến trên các tạp chí như Life và Vogue. Cuốn “The Creation” xuất bản năm 1971 là một trong những sách về nhiếp ảnh thành công nhất của Haas, với số bán đến 350.000 ấn bản.

Ra đời ở Vienna, Áo, năm 1921, Haas là con của cặp vợ chồng công chức bậc cao. Haas chỉ có một người anh.

Lớn lên trong môi trường văn hóa của Vienna trước Thế Chiến II. Cha mẹ Haas đặt nặng giá trị của giáo dục và nghệ thuật, họ luôn khuyến khích Haas theo đuổi sự sáng tạo ngay từ lúc tuổi còn nhỏ. Cha Haas say mê âm nhạc và nhiếp ảnh, còn mẹ thích làm thơ và mơ trở thành thi sĩ. Các thầy dạy của Haas hướng dẫn Haas có tính cách như một giám khảo thay vì người tham dự trong các cuộc tranh tài nghệ thuật.

Từ 1935 đến 1938, Haas theo học tại LEH Grinzing, một trường tư thục ở Vienna, nơi Haas học nghệ thuật, văn chương, thi ca, triết và khoa học. Việc học bị gián đoạn vào năm 1938 khi Đức xâm chiếm Áo. Haas bị gửi vào một trại lao động của quân đội Đức, nơi Haas phải làm việc sáu tiếng mỗi ngày, bù lại Haas có được hai tiếng để đến trường. Năm 1940 Haas được thả về và trở lại Vienna để theo học ngành y khoa. Tuy nhiên mới học được một năm thì bị đuổi khỏi trường vì lý lịch gốc Do Thái.

Thuở nhỏ Haas không quan tâm đến ngành nhiếp ảnh mặc dù cha Haas luôn luôn khuyến khích. Sau khi cha qua đời vào năm 1940, Haas lần đầu tiên bước vào phòng tối (darkroom), nơi chàng học in ra hình từ những âm bản (negative) xưa của gia đình. Niềm đam mê lớn dần và không bao lâu Haas bắt đầu tự chụp hình.

Haas nghiên cứu triết học và thi ca, đặc biệt hai thứ mang đến cho chàng niềm tin về tiềm năng sáng tạo trong nhiếp ảnh.

Tuy chưa định hướng chắc chắn về con đường nghề nghiệp, nhưng Haas nhận thức rằng nhiếp ảnh có thể cung cấp phương tiện, vừa yểm trợ vừa truyền đạt ý tưởng của mình. Thế là chàng sở hữu chiếc máy ảnh đầu tiên vào năm 1946 lúc 25 tuổi, sau khi đổi gần mười kí lô margarine cho cái máy Rolleiflex ở thị trường chợ đen tại Vienna.

Năm 1947, Haas mở cuộc triển lãm đầu tiên tại Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ ở Vienna, nơi chàng dạy nhiếp ảnh bán thời gian cho các binh sĩ. Sau đó Haas mang các tác phẩm của mình sang Zurich, Thụy Sĩ, nơi chàng thu hút được sự lưu ý của Arnold Kubler, chủ biên tạp chí Du, ông này giới thiệu với Haas những hình ảnh của Bá Linh sau chiến tranh của nhiếp ảnh gia Thụy Sĩ Werner Bischof.

 

2  3

Werner Bischof (1916-1954) và ảnh chụp trẻ em nô đùa giữa đống đổ nát ở Freiburg im Breisgau, Đức, năm 1945, khi chấm dứt thế chiến. (Werner Bischof / Magnum Photos)

 

4

Vienna, Áo, 1946. (Ernst Haas)

Ảnh hưởng bởi các tác phẩm của Bischof, Haas bắt đầu nghĩ, làm thế nào một hình ảnh vừa có thể nói lên một câu chuyện vừa có chức năng như một tác phẩm nghệ thuật độc lập. Khi trở về nước, chàng làm như Bischof khi bắt đầu đúc kết những tài liệu về hậu quả của chiến tranh ở Vienna.

Haas săn hình cho các tạp chí như Heute cùng với một đồng sự tên Inge Morath, người sau này trở thành vợ thứ ba của nhà viết kịch Arthur Miller.

Năm 1947, trong khi tìm địa điểm để thực hiện một loạt ảnh chụp thời trang, Haas và Morath chứng kiến cảnh các tù nhân chiến tranh bước xuống từ một chuyến tàu lửa, chàng đúc kết hình ảnh về sự trở về của họ. Hình ảnh của Haas biểu lộ sự ngóng đợi và nỗi ưu phiền của những người đang tìm kiếm người thân trong số những kẻ sống sót sau cuộc đại chiến. Loạt hình chủ đề “Homecoming” được đăng cả trên tạp chí Heute lẫn Life.

 

9

Một người mẹ trưng hình của con trai bà với một tù binh chiến tranh mới trở về. (Ernst Haas)

 

Robert Capa, nhiếp ảnh gia chiến trường nổi tiếng, được cho xem những hình ảnh của “Homecoming” trước khi xuất bản. Sau đó ông quyết định mời Haas sang Paris và gia nhập hội ảnh quốc tế Magnum Photos, bấy giờ mới thành lập được hai năm. Các thành viên của hội gồm những tay tổ như Henri Cartier-Bresson, George Rodger, David “Chim” Seymour, Werner Bischof, và William Vandivert.

 

6    7

Montmartre, Paris và Những người câu cá ở sông Seine, Paris (1954) (Ernst Haas)

 

Đồng thời, Haas được Life đề nghị giữ một chân nhiếp ảnh gia cơ hữu của tạp chí nhưng ông quyết định không muốn bị gò bó trong phạm vi làm việc hạn hẹp của tờ báo.

Alex Haas, con trai của ông, kể lại: “Bố tôi luôn là người có tư duy độc lập, ngay từ khi còn bé. Hoặc phải chấp nhận cách của ông hoặc thôi. Những vật lộn thời chiến càng khiến bố trở nên độc lập. Ông luôn nghĩ rằng: ‘Ta sẽ không phá bỏ lòng tin của ta vì ai cả’”. Ông thậm chí còn khám phá các hiệu ứng mà chuyển động đem lại cho hình ảnh, (một số chuyển động) sẽ làm nhòe màu đi để ảnh trông như tranh vẽ.

 

10    3

 

Ernst Haas (Getty Images)

8

Reflection – 42nd Street. New York. 1952.

 

11

Ernst Haas / Robert Klein Gallery

 

Edward Steichen, nhiếp ảnh gia danh tiếng và giám tuyển của MoMA, Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại ở New York lúc bấy giờ, từng nói rằng “Theo đánh giá của tôi, chúng ta đang trải nghiệm một sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới trong nhiếp ảnh. Haas là một tâm hồn tự do, chưa bị truyền thống và lý thuyết chà đạp, một người đám xông pha và tìm thấy vẻ đẹp vô song của nhiếp ảnh.

Xin được visa vào Mỹ không phải là chuyện dễ, may mắn Haas được cấp giấy tờ hợp lệ để nhập vào Mỹ năm 1950 sau khi được Robert Capa chỉ định làm phó chủ tịch Magnum Photos ở Hoa Kỳ. Khi mới đặt chân đến Mỹ, các đường phố ở New York đã trở thành chủ đề của các nhiếp ảnh gia. Sự tiếp cận của Haas ít trực tiếp và ít đối đầu hơn so với các cộng sự như Lisette Model, và William Klein. Inge Bondi, người từng làm việc với Haas tại hội Magnum New York từ những ngày đầu năm 1951, hồi tưởng lại : “Haas Ernst không nói sõi tiếng Anh. Lúc đó ông chừng hai mấy tuổi, là người trẻ nhất trong nhóm. Ernst mặc một bộ vest nhung kẻ, không nút cài, không dây kéo, chỉ có túi để có thể nhanh chóng tìm mấy cuộn phim chụp. Bộ vest rất thanh lịch và tiết lộ một phần về Haas – khác biệt, thực tế và sáng tạo.”

 

5

Crosswalk, New York City, 1980 (Ernst Haas / Pleasurephoto)

 

Theo lời con trai ông, gốc “Do Thái-châu Âu” của Haas đã ảnh hưởng đến sự đa cảm dành cho nước Mỹ của ông. Anh cho biết: “Bố ngưỡng mộ nước Mỹ theo kiểu bất phán xét. Ông cảm thụ nó mà chẳng cần suy nghĩ gì cả. Ông biết ơn nước Mỹ vì Mỹ đã cưu mang ông, nên ông muốn bộc lộ điều đó qua ảnh của mình”.

Mặc dù Haas tiếp tục sử dụng phim đen trắng trong suốt thời gian hành nghề nhưng hình chụp màu cũng trở thành một phần đối với ông. Ông thường áp dụng kỹ thuật như lấy thị trường ảnh không sâu, lấy nét ở chủ thể chọn lọc, và làm mờ chuyển động để tạo những tác phẩm có tính cách gợi ý hoặc ẩn dụ. Khi Haas nộp mấy tấm ảnh chụp cảnh đấu bò với kỹ thuật cố ý chụp mờ, nhân viên phòng lab của tờ tạp chí nói rằng ảnh của ông có vấn đề, không xài được.

 

2

 

Trong khi chụp hình theo sự giao phó của các tạp chí, Haas vẫn lấy hình theo ý mình, ông chuyển tải mối đam mê về thơ, nhạc, hội họa và phiêu lưu vào hình ảnh màu sắc. Tiếng tăm ông ngày càng vang xa, Haas đi khắp thế giới, chụp hình ở Mỹ, Âu Châu, Nam Phi, và Đông Nam Á qua ảnh màu mang chủ nghĩa biểu hiện (expressionistic color).

Cuối năm 1940, Haas đổi từ máy ảnh medium format Rolleiflex sang cái Leica rangefinder loại 35mm nhỏ gọn hơn và ông dùng loại này đến khi mất.

 

12

City Ballet Dance (Ernst Haas / Pinterest)

 

Năm 1958, Haas được tạp chí ảnh Popular Photography liệt kê vào trong số 10 nhiếp ảnh gia vĩ đại nhất thế giới, sánh hàng với Ansel Adams, Richard Avedon, Henri Cartier-Bresson, Alfred Eisenstadt, Philippe Halsman, Yousuf Karsh, Gjon Mili, Irving Penn, và W. Eugene Smith. Ông thắng giải Hasselblad Award trước khi qua đời.

 

 

17

Nữ minh tinh Audrey Hepburn trong ngày cưới với Mel Ferrer. (Ernst Haas / Artnet)

 

18

Biểu tượng của văn hóa Mỹ – người đàn ông Marlboro (ảnh quảng cáo thuốc lá) – cũng do Haas chụp.

 

Di sản mà ông để lại vẫn còn mãi, các bức ảnh của Haas tiếp tục tái định hình cho nghệ thuật nhiếp ảnh hôm nay, bởi vì vẻ thẩm mỹ đầy trừu tượng, giàu ý niệm, cũng như cách ứng dụng kỹ thuật tiên tiến của ông đến hôm nay vẫn luôn sôi sục và đương đại như thời những năm 50.

Colnav Nguyen dịch thuật và tổng hợp

 

 

 

 

 

 

 

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: