//
you're reading...
góp nhặt cát đá, Nhân vật, Tiểu luận, Văn Hóa Nghệ Thuật

Vũ Trọng Phụng : Mớ tài liệu cho văn học sử Việt * Lan Khai

 

 

 

1

 

I. GIA THẾ, HÌNH DUNG VÀ TÂM TÍNH VŨ TRỌNG PHỤNG 1

Vũ Trọng Phụng là con một gia đình rất nghèo. Ông nội Phụng chỉ là một viên lý trưởng. Phụ thân Phụng, kém hơn nữa, chỉ là một thường dân, không có lấy một tấc đất cắm dùi ở nơi quê quán, mặc dầu thế gian vẫn rộng lớn vô cùng.

Phụng tên sữa là Tý, lọt lòng mẹ mới được bảy tháng đã mồ côi cha. Phụ thân anh cũng đã chết về bệnh ho lao. Và, như vậy, Phụng chẳng những thừa hưởng được của ông cái nghèo thế mà anh còn chịu một di truyền ghê gớm khác là cái bệnh lao, nó đã giết anh giữa thời trai tráng vậy. May cho anh là dù mồ côi cha từ khi trứng nước, anh cũng không đến nỗi bị chết sớm vì đói rét hoặc bị chìm đắm trong nạn thất học, như ngàn vạn đứa trẻ khác cùng cảnh ngộ với anh, mà ta thường thấy nhan nhản trên vỉa hè Hà Nội. Sự may mắn ấy đều nhờ ở cái đức tận tâm, kiên quyết và hy sinh ở mẹ anh, một bà mẹ trong số các bà mẹ càng ngày càng mất dần đi, càng ngày càng chỉ còn là những ghi nhớ xã hội, êm đềm và đáng tiếc!

Người đàn bà đáng kính thờ kia đã chịu cảnh đơn chiếc lạnh lùng từ lúc mới hai mươi mốt tuổi, mái tóc đương xanh, làn môi đương thắm và trái tim đương cần phải rung động bởi những say đắm yêu đương. Nhưng thiếu phụ đã nhất định ở vậy, nhất định thắt lưng buộc bụng làm ăn nuôi mẹ già con dại để rồi khi tưởng được nhờ con thì con lại lăn cổ ra chết trước mình! Bậc hiền phu ấy, hiện thời, vẫn còn phải làm lụng luôn tay để nuôi mẹ già chín mươi tuổi và đứa con gái của con bà, giống bố nó cả từ cái chỗ bị mồ côi từ lúc vừa bưng mắt trông ánh sáng!

Những người nào hay lui tới thân mật nhà Phụng, hồi anh còn sống, chắc đều đã cảm thấy bà mẹ góa của anh đã yêu thương con một cách mênh mông và dịu dàng biết chừng nào. Chính bà đã ngồi quạt cho Phụng suốt bao đêm mà Phụng trằn trọc trên giường bệnh, mặc dầu Phụng có vợ, và vợ Phụng rất có thể làm cái việc mệt nhọc ấy thay bà.

Có được bà mẹ ấy Phụng đã thản nhiên lớn lên rồi đi học, rồi đi làm thư ký, một thư ký vô danh của nhà I.D.E.O. Thầy ký Phụng ác một nỗi chẳng chịu cam tâm cứ làm một thầy ký suốt đời như mọi đồng sự khác. Thầy đã tập viết văn, nói là diễn đạt một cách say sưa những uất ức do cảnh nghèo nó sớm đầu độc trái tim thầy thì đúng hơn, và đã bị chủ đuổi. Thế là đồng tuyệt với đời cạo giấy. Đồng thời, trên các tờ Ngọ Báo, Nhật Tân và trên nhiều báo khác, người ta bắt đầu đọc cái bài truyện ngắn, phóng sự, truyện dài do anh viết. Cái tên Vũ Trọng Phụng lừng lẫy ra đời trong chớp mắt.

Trên đường văn, Phụng chắc sẽ còn đi xa hơn nữa, xa đến không ai ngờ trước được nếu anh đã không bất thình lình ngã gục bởi sự tàn phá của vi trùng Koch.

Nhà phóng sự kiêm tiểu thuyết ấy là một thanh niên khổ người cao độ thước sáu, mảnh khảnh, vai vuông và lưng hơi gù.

Cái ngày tôi bắt đầu quen anh (1934), Phụng hãy còn mặc ta: áo sa trơn, giày Gia Định, khăn xếp bằng lượt mà chữ nhân sát xuống tận gần cặp lông mày xám. Bộ quốc phục vô duyên với anh lắm. Nó đã khiến một vài người tinh nghịch trong đám bạn quen gọi đùa anh là bác “cung văn”. Câu đùa bỡn ấy tất nhiên không được Phụng thưởng thức tí nào. Và, để tránh cái bực mình, Phụng đã nhất định dịch phục. Nhưng mà Phụng đã chẳng sung sướng hơn được chút nào trong bộ quần áo Tây. Người ta trông anh vẫn cọc cạch, lọng khọng, vẫn “thế nào ấy”!

Thêm vào cách ăn mặc nó tố cáo sự thiếu thói quen trang điểm của con nhà giàu và cái dáng cách lúc nào cũng thẫn thờ, cũng mệt nhọc ấy, một bộ mặt chữ nhật mà những nét đặc biệt chính là cái mầu da lúc nào cũng mai mái với đôi quai hàm vuông thước thợ. Mái tóc rễ tre lệch của anh thường buông tua tủa xuống cái trán phẳng không cao. Mắt anh nông mà sắc; mũi trái mật; miệng rộng, môi mỏng và hai góc mép thường kéo dài ra hai bên, làm cho đôi má lõm nhăn lại. Cái bệnh ho của anh ngấm ngầm đã lâu nên tôi vẫn giữ trong trí nhớ một cử động nó khiến ta có thể nhận ngay được anh, dù anh lẫn trong một đám đông: một bàn tay gầy úp lấy mỏ ác, những khi anh phải ho đã rồi mới nói được.

Ồ, những câu nói của Vũ Trọng Phụng! Nếu ta đương háo hức về một dự định nào, nếu ta đương say sưa về một việc tốt đẹp nào và ta muốn cái háo hức, cái say sưa ấy, ta hãy lánh xa Vũ Trọng Phụng. Là vì, Phụng chỉ cần độ dăm phút thôi là có thể giội nước đá lên lưng ta được, làm cho người ta nguội hết nhiệt thành, mất hết tư tưởng, trở nên hoài nghi, trơ trụi và chán ngán. Cái khí giới của anh chỉ là một lời nói, một cái nhếch mép, thoạt nghe và trông tưởng cũng thường vậy mà, sự thực, nó sắc hơn dao, nhọn hơn kim.

Tôi còn nhớ một lần ngồi uống rượu với Phụng, tôi, nhân một lúc cần tâm sự, đã nói: “Không hiểu sao cứ hễ lâu lâu mà không nhận được bức thư nào của bạn hữu, tôi lại cảm tưởng như cả loài người đã quên tôi rồi ấy!”. “Còn tôi ấy à? – Phụng nhìn tôi bằng một cái nhìn lạnh lẽo – Tôi sợ nhất những bức thư của bạn, bất cứ là bạn xa hay bạn gần cũng vậy. Là vì, nhỡ bố nào tự nhiên lại hỏi vay tiền thì thực là tai hại!”. Và, sau một hớp rượu, anh đã kết luận: “Trong chỗ chúng bạn, tôi ghét nhất sự vay mượn. Ở đâu mà đồng tiền đã lọt đến, sự tốt đẹp sẽ không còn!”.

Cũng như tất cả mọi tâm hồn nghệ sĩ, Phụng cho ở đời chỉ có tình bạn là đáng cho ta mất nhiều thời giờ hơn cả. Nhưng, sự ưa bạn của anh có một chỗ khả dĩ gọi là quá quắt: sự tỉ mỉ trong cách nhận vật và trả lại. Anh không bao giờ chịu để ai mời đi ăn một bữa, đi hát một chầu. Trước khi anh đã chắc chắn có tiền để sẽ mời người ấy ăn hoặc hát. Nhà văn biếu anh một cuốn sách; anh tặng lại một cuốn khác liền, và điều đáng chú ý đặc biệt là anh cũng dùng đúng những chữ đề tặng trên đầu quyển sách mà người ta đã tặng anh!

Chẳng những trong sự xử thế tiếp vật, Phụng tỏ ra là một người phải chăng hơn ai hết mà thôi, ngay trong sự ăn, sự mặc của anh cũng thế. Chưa ai, trong số các bạn thân của anh, đã được ngạc nhiên thấy Phụng dám phá cách ăn một món lạ bao giờ. Đúng như Nguyễn Tuân đã nói: “Quanh đi quẩn lại chỉ biết phở xào rồi lại áp chảo, đậu rán, bún chả, và tái bò chấm tương gừng”.

Trong cái sống phải chăng của Phụng, vẫn theo lời anh Nguyên Tuân, có một cái phải chăng này đáng cảm động hơn hết: ấy là những thứ văn phòng tứ bảo. Mực anh dùng viết là một thứ mực tím ít khi tươi màu, phần nhiều là loãng, là nhạt, là chết. Giấy anh dùng là thứ giấy sáu xu một thếp đã kẻ sẵn. Ấy là thứ giấy vô danh với cái khuôn khổ của tất cả mọi người. Ngòi bút Phụng thích dùng nhất là cái thứ ngòi incomparable, xu ba ngòi. Giấy, bút, mực ấy là giấy, bút, mực của học trò. Thật là bình dị quá. Thế mà lời văn dùng bút ấy mà ký thác lên giấy lại chẳng xoàng xĩnh chút nào… Phụng còn phải chăng đến cả những cái thèm muốn về tương lai. “Tao chỉ mong sao mỗi khi chúng mày đàn đúm kéo nhau về chơi với tao, thì có được mãi mãi một mâm cơm cho tươm tất… Đời Phụng chưa có một cái mộng nào để mà ôm, chưa mơ màng đến một cái gì để thỉnh thoảng lìa khỏi cái tẹp nhẹp mè nheo ở đời này. Trong đời Phụng, Phụng cử động theo suy nghĩ nhiều quá. Chưa có một giây phút nào hắn dám điên cuồng lấy một tị”. Bởi phải chăng và cẩn thận như thế nên Phụng rất ghét sự bừa bãi – nó là cái tật chung của nghệ sĩ. Một lần nữa Lưu Trọng Lư đã gắt ầm lên, cho Phụng là “một viên chức trong làng văn”. Câu này suýt làm cho Phụng và Lư đoạn tuyệt, nếu tôi không khéo hòa giải.

Phụng có những thù ghét thoạt nghe ai cũng phải sửng sốt. Một hôm, anh đột ngột bảo tôi: “Trong đời tao, tao oán ghét nhất cái gì, mày có biết không?… Cái tủ chè!”. Tôi tròn mắt và bật phì cười trong khi anh thản nhiên tiếp: “Thực thế, cái dân An Nam này đã khổ sở và sẽ còn khổ sở về cái tủ chè ấy không biết đến bao giờ. Mày thử xem, trong mỗi nhà An Nam, cái chỗ tốt đẹp nhất đáng lẽ phải để tủ sách hoặc treo những tác phẩm của họa sĩ hoặc để máy truyền thanh, người mình đã chỉ dùng để kê tủ chè. Người mình có can đảm suốt đời chịu dốt nát như các súc vật, và nhịn ăn, nhịn mặc, nhưng không có gan không sắm tủ chè. Anh em ruột thịt lìa nhau, bạn bè khinh nhau cũng chỉ vì cái tủ chè. Đến nỗi chạy loạn chúng nó cũng nghĩ đến cái tủ chè trước đã rồi mới nghĩ đến sinh mệnh! Thực là một nghiệp chướng cho một thứ dân chỉ thiết “làm culi cũng được miễn là có chút hư danh thì thôi!”.

Về tư tưởng, Phụng tỏ ra có thể táo bạo chừng nào, thì về cảm tình, Phụng, trái lại, bảo thủ chừng ấy. Ngay giữa lúc tranh luận về triết lý chẳng hạn, Phụng cũng chỉ coi các huấn điều luân lý Khổng Tử là vĩnh viễn bất khả xâm phạm như thường. Phụng giữ chữ tín như một nhà nho chính tông. Nhất là về tiền nong, Phụng càng đúng câu: Tài tượng phân minh hơn ai hết. Người ta khinh phục anh ở chỗ này. Tất cả đều coi anh chỉ là một nhân cách bình thường, một “người của nguyên tắc”.

Hôm ba ngày anh, Nguyễn Tuân và tôi được cử xuống soạn sách vở, các kỷ vật, nhất là đọc tờ chúc thư mà anh đã viết từ khi biết mình không thể sao thoát khỏi tay thần Chết được nữa. Chúng tôi đương lúi húi làm cái việc buồn rầu nọ, bỗng Tuân mở một quyển sổ rồi nói: “Thế này thì quá lắm!”. Tôi hỏi: “Gì vậy?”. Tuân đáp: “Nghe nhé. Ngày sinh nhật của con tôi bác X mừng một cái vòng, ông A một cái áo, anh C một chai rượu vang…” Tuân nhìn tôi, khẽ nhún vai: “Đã ghê chưa? Ông ấy biên thế để sẽ thực hành cái lối ăn miếng trả miếng đấy!”.

Phụng chính là người “ăn miếng trả miếng”, người “đã ơn ai một chút không quên, thù ai một chút để bên dạ này”. Trong cái thế giới nhà văn, tôi chưa từng thấy một người nào mà bạn và thù lại được phân chia xếp đặt trong đáy lòng bằng một cách rõ rệt thứ tự như Phụng.

II. CÁC NGUYÊN TỐ ĐÃ TẠO NÊN VĂN SĨ VŨ TRỌNG PHỤNG

Nếu ta nhìn đến đời tư của một người con hiếu, của một người dân tốt, của cả các bậc thánh nhân, anh hùng, danh sĩ mà tên tuổi còn chói lọi trong lịch sử nhân loại, ta đều thấy phần nhiều các người ấy đã có những bà mẹ rất hiền cả.

Vũ Trọng Phụng, như tôi đã nói trên kia, cũng đã có một bà mẹ rất hiền. Chính bà đã hy sinh cả một thời xuân để nuôi nấng, để giữ gìn, để cho ta nhà văn sĩ có tài ấy. Chính bà đã khiến Phụng, một người hoài nghi đến quắt cả tấm lòng vẫn cứ có thể tin được ở sự cao quý và đẹp đẽ của con người. Chính lòng tin này nó giữ lại cho hồn Phụng cái hồn nhiên, cái ngây thơ mà những người chưa từng sống trong sự thân mật với Phụng chẳng thể nào ngờ là Phụng có. Đối với một người trơ trọi, nghèo nàn như Phụng, lòng tin nói trên đây có thể là một bảo vật vô giá. Nó là cái tổ ấm cho hồn Phụng, mỗi khi hồn anh cần đến sự nghỉ ngơi êm ái. Nó là cái cửa bể kín đáo để cho con tàu Vũ Trọng Phụng, sau khi đã trải qua những cơn bão táp của đời, còn có được một chỗ mà ẩn núp. Và, nếu Phụng cố giữ gìn cho nó không thể mất đi được, ấy cũng là một sự rất tự nhiên.

Ở thiên trên, tôi đã nói về các đức tính, như sự thủ tín, sự tôn sùng các nguyên tắc luân lý cũ, của Phụng. Tất cả những cái ấy đều do cái khuynh hướng ngấm ngầm muốn giữ gìn những tình cảm đặc biệt Á Đông mà cội nguồn tức là tình mẫu tử rất êm đềm mà Phụng đã được hưởng. Do đây ta có thể hiểu được cái lẽ tại sao, trong các văn phẩm táo bạo của Phụng, vẫn phảng phất cái vị bảo thủ mà đáng lý ra, không ai dám đợi chờ ở nhà văn sĩ ấy. Sự bảo thủ tôi vừa nói có thể sẽ đưa Vũ Trọng Phụng đến cái đời một người con hiếu, một người chồng mà vợ rất kính nể, một ông hàng xóm không mất lòng ai bao giờ, một người dân lương thiện, nghĩa là một phần tử vô danh của cái đại khối gia đình, quốc gia. Và, như thế, văn học Việt Nam sẽ không được cái sung sướng ghi tên anh, cái thế hệ văn sĩ 1929-1930, sẽ không có được cái danh dự pha chút ghen tuông được kể anh vào bọn. Nhưng may mắn sao, còn hai nguyên tố khác mà sự kết tinh đã thành ra cái tài năng kỳ dị của Phụng, cái tài năng đã mang đến cho ta những áng văn bất hủ như: Quý phái 2, Người tù được tha. Hai nguyên tố nó ngăn ngừa cái ảnh hưởng vừa hay lại vừa dở của tình mẹ ở Phụng ấy là sự phẫn uất gây nên bởi cảnh ngộ và cái bệnh lao di truyền.

*

Thực vậy, Vũ Trọng Phụng suốt đời chỉ là một người bị phẫn uất. Đã sinh trưởng ở một gia đình nghèo khổ, lại mồ côi cha từ khi mình còn trứng nước. Vũ Trọng Phụng chưa từng được biết thế nào là hạnh phúc gia đình, thế nào là sự đầy đủ no ấm, trừ cái tình yêu thương não nùng của một bà mẹ lúc nào cũng bận bịu, lúc nào cũng lo âu vất vả. Cuộc đời u ám này kéo dài cho đến khi Phụng đến tuổi đi học, anh mới được bước chân tới một thế giới khác, trong một bầu không khí khác có thể đầy ánh sáng và những tiếng vui đùa: ấy là trường học.

Khổ thân cho Phụng, ở đây, anh lại chỉ thấy rõ rệt mình trơ trọi, và lòng anh lại chỉ hứng nhận thêm không biết bao nhiêu đau đớn mà thôi. Ta hãy tưởng tượng một cậu học trò nhỏ, một cậu học trò mồ côi bố, ngày hai buổi đến trường với một cái áo vải tây thâm, một cái mũ lá gồi, một cái quần vải ta không là không nếp, chân không bao giờ được xỏ đôi giày, dù chỉ làm bằng da trâu lộn, và hai bàn tay khư khư ôm một quyển vở đóng bằng giấy hạng xấu rẻ tiền nhất, kèm một lọ mực và một quản bút bằng gỗ tạp không sơn.

Cậu học trò nhỏ ấy vừa bước vào cổng trường đã lấm lét, đã sợ sệt, cố nép vào một chỗ, cố thu nhỏ mình lại, cố đừng làm ai chú ý đến mình. Nhưng, bạn học có bao giờ để cậu được yên thân! Những bạn học con nhà giàu, lại đương vào cái tuổi chưa biết tình thương là gì hết, chúng xúm lại mà chế giễu, mà bắt nạt, mà bợp mũ, vứt sách vở của cậu. Nếu cậu khóc chúng sẽ cười ầm lên và trêu ghẹo nữa. Nếu cậu kháng cự chúng sẽ lấy số đông mà đè lên cậu. Đứa trẻ mồ côi chẳng còn biết làm cách nào để thoát khỏi sự độc ác của lũ bạn học tinh quái kia nữa. Mà nếu chúng nó có buông tha cho cậu để vui đùa với nhau hoặc để ăn những thức quà bánh ngon lành đến làm cho cậu nhỏ nước miếng thì cậu học trò nghèo của chúng ta lại càng thêm tủi cực không biết chừng nào.

Sự cô độc, sự lo sợ, sự hiếp đáp của kẻ khác, sự thèm thuồng những cái mình chẳng bao giờ có dần dần làm cho trò Tý càng ngày càng trở nên xa mọi người và lòng cậu ngày càng rắn lại vì thù ghét.

Qua trường tiểu học, và trong lúc những con nhà khác được cha mẹ cho học lên bậc trên và trên nữa, trong lúc các chàng thanh niên cùng tuổi tha hồ được mơ tưởng đến những tương lai rực rỡ, những cuộc yêu đương đầy thơ mộng, Phụng đã sớm phải đem tuổi trẻ của mình giam vào trong bốn bức tường buồng giấy các nhà buôn. Ở đấy người ta cam lòng bán cả nhân cách, cả tự do, cả mộng đẹp nữa để có tiền mua cơm áo, giữ cho thân mình khỏi chết vì đói rét.

Thế rồi, trong lúc mưu sinh, trong lúc đụng chạm với đồng loại, trong lúc nhìn thấy hàng ngày tất cả những cái gì là bi đát, là trào phúng, là đê tiện, Phụng bắt buộc phải nghĩ đến mình. Phụng thấy lòng mình sạch sẽ ngây thơ bao nhiêu thì thấy ở quanh mình toàn những cái giả dối, bẩn thỉu bấy nhiêu. Chỗ nào cũng cá nhớn nuốt cá bé, trên lương tâm nào cũng giấu kín một đồng tiền! Tất nhiên, Phụng nảy ra cái lòng tự kiêu và khinh đời. Anh bắt đầu chế giễu, công kích, rồi mạt sát. Chế giễu bao nhiêu, mạt sát bao nhiêu, Phụng càng bảo thủ bấy nhiêu, bảo thủ một cách máy móc, do sức phản động tự nhiên của một người mang nặng trong tâm hồn những ảnh hưởng của nền luân lý Khổng – Mạnh, và do sự không hiểu biết đến tận cội rễ của các hiện tượng xã hội. Cũng vì không hiểu biết, Phụng đã công kích, thù hằn người hơn là công kích, thù hằn cái chế độ đã sản ra người. Sự viết đối với anh là một sự trả thù hơn là cái hy vọng kiến thiết. Tôi không đồng ý với nhà phê bình Trương Tửu, khi ông này viết: “Đời ông (trỏ Vũ Trọng Phụng) trí não ông, ý nguyện ông, ngòi bút ông nhập làm một sức mạnh để đứng dậy cứu vớt” (Tao Đàn, số đặc biệt về Vũ Trọng Phụng, trang sáu, dòng cuối trang). Một chứng cớ khác: nếu ai thân với Phụng, người ấy đã từng được nghe anh nói câu này: “Tức quá, đời chúng nó xúm lại chửi tao là thằng chỉ biết viết văn khiêu dâm; tao sẽ viết một quyển nào rõ thật lãng mạn, thơ mộng cho chúng nó biết tay mới được!”. Cho chúng nó biết tay mới được, ấy là cái nguyên cái động lực duy nhất của sự sáng tác của Phụng.

Người mắc bệnh lao là người hoặc đã tuyệt vọng, còn bao vốn liếng dồn vào một nước bạc cuối cùng: ấy là hạng bệnh nhân lăn mình vào khoái lạc, hạng băn khoăn, đa dục; hoặc vẫn còn tin ở sự rủi may thình lình: ấy là hạng bệnh nhân câm lặng, u uất, hờ hững với ngoại vật. Dù thuộc hạng nào, kẻ mắc bệnh cũng ngày càng xa cách và không hiểu cái phần nhân loại lành mạnh nữa. Và, nếu khỏi được, bệnh nhân cũng thành ra cái khuynh hướng trở nên một kẻ không thích dụng, một kẻ vô xã hội, một kẻ khinh khoảnh, tự cao, tự đại.

Vũ Trọng Phụng đã ra đời với cái nọc bệnh lao ngấm ngầm trong máu và đã từ bỏ cõi đời do bệnh lao. Anh đã chỉ là một kẻ ốm. Cử chỉ của anh, sự hiểu biết, sự cảm xúc, sự suy nghĩ, tính tình của anh đều là của một kẻ ốm. Anh đã băn khoăn, đã lặng lẽ, đã lạnh nhạt. Anh lại đã khinh khoảnh, tự cao, tự đại. Anh đã có thể tiếp cùng một lúc hai ba người bằng những câu nói, những thái độ khác hẳn nhau nó chỉ rõ cái địa vị của từng người trong lòng anh. Anh thường bảo tôi: “Tao ghét mày nhất về cái thói dễ dãi. Nhà mày, bất cứ đứa nào đến cũng được! Tao ấy à? Tao đã tiếp đứa nào ở nhà tao thì đứa ấy có thể yên trí rằng nó đã là bạn tao rồi”.

Một bệnh nhân mà tính tình đã như thế, ta lại thêm sự phẫn uất và cái khuynh hướng bảo thủ vào nữa thì tức là ta đã có một nhân vật hoàn toàn khó chịu cho những kẻ bị Phụng ghét ghen hoặc khinh bỉ. Nhất là khi Phụng lại có cái tài đặc biệt để chỉ nhận xét những cái xấu của con người, dù là những cái xấu rất tỉ mỉ. Bởi thế, khi đọc các văn phẩm của Vũ Trọng Phụng ta thấy lúc nhúc một nhân loại đen tối, ngu xuẩn, ích kỷ, tàn nhẫn và dâm dật một cách vô cùng lố bịch.

Ồ, dâm dật! Người ta đã kêu ầm lên rằng Vũ Trọng Phụng là một nhà văn khiêu dâm. Người ta đã công kích, đã tẩy chay và đã đọc Vũ Trọng Phụng nhiều hơn đọc các nhà văn khác. Sự thực, các vai truyện do anh tạo ra đều chín phần mười là những kẻ đa dâm có khi rất quái ác.

Tại sao, ở một nhà văn như Vũ Trọng Phụng, một nhà văn rõ rệt bảo thủ, lại có sự mâu thuẫn ấy?

Tại bệnh. Phải, tại cái bệnh lao nó đã ngấm ngầm nằm trong tạng phủ anh, cũng như các thói tật khác vừa nói ở trên.

Vũ Trọng Phụng đã mang theo ra đời cái bệnh ho lao, tức là anh đã thuộc vào cái hạng đa dục vì bệnh.

Nhưng cái khuynh hướng của anh chẳng được thỏa mãn do các lẽ sau này:

a. Luân lý.

b. Thể chất.

c. Sự nghèo tiền.

Muốn giữ cho hôn nhân và gia đình cái vẻ thiêng liêng của xã hội phải đè nén sự ham thích của trai gái đến tuổi dậy thì. Bằng cách nào? Bằng cách dùng luân lý, dùng tôn giáo và pháp luật. Người ta đã dạy trẻ rằng sự nam nữ là một cái gì ghê tởm, xấu xa; người ta đã nêu lên cái khẩu hiệu: “Vạn tội, dâm đứng đầu!”. Và, như thế, con trai, con gái đến tuổi dậy thì mà chưa qua hôn lễ đều phải gắng sức đè nén cái khuynh hướng tự nhiên của họ.

Sự đè nén, sự nín nhịn ấy thoạt đầu cũng cho được một cái lợi là làm dịu bớt những thôi thúc của xác thịt, nhưng nó lại thường đẻ ra những nguy hiểm khác: sự chống lại hoàn cảnh, sự bại liệt và nhiều bệnh về tinh thần, chẳng hạn cái khuynh hướng phẫn uất, oán hờn và phá hoại. Ở Phụng, cái khuynh hướng này càng gia tăng sự phẫn uất sẵn có, do cảnh ngộ và do thể chất nữa.

Đã mang bệnh ngay từ khi lọt lòng mẹ, lại chẳng được đủ các chất bổ trong khi cơ thể cần được phát triển tận độ, Vũ Trọng Phụng đã thành ra một thanh niên luôn luôn yếu ớt, gày còm và xanh xao. Anh không có cả cái thanh tú của một thư sinh kiểu cũ, anh lại sống vào giữa thời đại mà các tay vô địch quần vợt, vô địch đấu quyền và xe đạp được công chúng hoan hô, tôn sùng.

Trong tình trạng này, tất nhiên Vũ Trọng Phụng là một kẻ bị loại, bị hắt hủi, và chẳng thể nào có được những mộng yêu đương êm ái. Nếu anh giàu tiền, anh có thể dùng sức mạnh của đồng tiền mà chữa lại sự bất công ấy. Thực vậy, ở cái thời mà bất cứ vật nào, dù là lương tâm, là ái tình nữa, cũng đều có thể mua bằng tiền được, Phụng chẳng vẫn thấy ông già sáu bảy chục tuổi bỏ tiền ra cưới những cô hầu non mười lăm mười tám đấy ư? Hoặc là những đứa ngu ngốc, những thằng mà tất cả giá trị chỉ là tủ sắt của cha mẹ chúng, những thằng thô bỉ như lợn, gian ác, đểu giả như chó, nhưng, chỉ vì lắm tiền vẫn có thể chiếm được những giai nhân tuyệt sắc, những con người ngọc ngà mà một nụ cười, một đuôi mắt có thể tạo nên một thi sĩ phi thường. Khốn nỗi, Phụng lại rất nghèo. Và một khi không có tiền tức là không có tất cả, ngay đến cái tình của một gái điếm hạng bét cũng vậy.

Thế là, như trên đã nói, cái khuynh hướng của con người đa dục vì bệnh ấy đã bị cấm ngăn bởi luân lý, bởi thể chất, bởi sự thiếu đồng tiền. Ở Phụng, đã có tất cả một sự đè nén nguy hiểm. Và, sự đè nén kéo dài mãi mãi ấy đã khiến cho bản năng không thể chịu được nữa. Nó phải tìm một đường tiêu thoát. Con đường ấy đã khác hẳn những con đường quen thuộc khác của trường hợp này. Nó đã là văn chương. Chính thế, viết văn để tả những cảnh sôi máu, đối với Vũ Trọng Phụng tức là một cách hành dâm vậy. Anh đã tìm thấy sự thoả mãn quái gở trong khi anh tưởng mình làm việc tố cáo rất cần cho thuần phong mĩ tục.

Tôi nói “trong khi anh tưởng”, vì Vũ Trọng Phụng là một nhà văn ít có ý thức về mình nhất. Thực thế, Vũ Trọng Phụng viết, chỉ để thỏa sự phẫn uất đầy ứ trong lòng, và anh đã là người trước nhất lấy làm ngạc nhiên khi thấy tên tuổi mình được người ngoài ca tụng. Anh không bao giờ tự kiểm một cách rõ rệt về tài năng, về giá trị, nhất là cái địa vị của anh trong văn đàn hiện đại. Chính người khác đã làm anh nhận chân được các cái ấy. Và, nếu hồi anh gần mất, anh đã thiết tha đến chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ, ấy cũng vì một vài nhà phê bình đã gán cho anh những dụng ý mà anh không có.

Những điều trên đây, tôi không sợ ai cải chính, bởi những người đã thân mật với Vũ Trọng Phụng đều đã thấy như tôi cả. Anh vẫn thường hỏi chúng bạn, bằng một giọng rất ngây thơ, khi anh được ca tụng về một quyển hoặc một đoạn văn nào: “Có thực hay không? Chúng mày thành thực đấy chứ?”. Và khi đã chắc là mọi người nói thực, anh liền tỏ ra sung sướng một cách rất hồn nhiên.

Chẳng những về tài năng, về giá trị, về địa vị của anh, ngay đến bản thân anh, Vũ Trọng Phụng cũng thường tỏ ra không hiểu biết một cách đích đáng nữa. Thực là một sự lạ lùng đối với một nhà văn đã được tiếng là thấu rõ con người và sự đời. Tôi còn nhớ một lần, Vũ Trọng Phụng đã hỏi tôi một cách thân mật: “Mày trông tướng tao có gì là giảo quyệt và độc ác không?” (Nên nhớ là Phụng tin tướng số lắm và lấy tử vi rất thạo). Tôi cười mà rằng: “Nguyên cái sự anh băn khoăn và hỏi tôi này đã đủ tỏ ra rằng anh không giảo quyệt, không gian ác chút nào hết!”. “Thế sao, tất cả chúng nó cùng bảo tao thế?”. Tôi đã cười rất giòn trước vẻ ngơ ngác của Phụng, và tôi đã thân yêu anh từ đấy.

Trong các văn sĩ hiện đại, nếu tôi hình dung Lê Văn Trương bằng một pho tượng khổng lồ đất sét, đầu lúc nào cũng muốn đụng tới mây xanh, thì tôi sẽ nói rằng Vũ Trọng Phụng chỉ là một người, với tất cả cái hay cái dở của thằng người, có khác chỉ khác ở chỗ hai tay và hai chân lúc nào cũng dính be bét những bùn tanh của địa ngục.

III. NGƯỜI TA HIỂU VŨ TRỌNG PHỤNG NHƯ THẾ NÀO?

Để kết luận một truyện ngắn rất hay của ông, văn hào Nga Dostoievski đã viết một câu đại ý như thế này: “Thế gian là gì? Là gồm những người cô độc; và quanh mình họ, sự im lặng mênh mông, thế thôi…”. Thực vậy, con người, càng sống và càng từng trải, càng thấy mình hoàn toàn cô độc. Và, do đấy, tri kỷ ở đời mới hiếm và quý không biết chừng nào.

Kể các nhà văn của các thế hệ 1929-1940, Vũ Trọng Phụng là người ít được hiểu hơn ai hết. Độc giả của anh đều hình dung anh như một người đã có tuổi, lõi đời, nhanh nhẹn, sành thạo, láu lỉnh, cơ tâm, nham hiểm, một người mà họ tưởng chừng như khi đến gần thì không thể không lo sợ, không thể không ngờ vực, không thể không đề phòng.

“… Nhưng sự thực có phải như thế không? Tôi (đây là lời của Lưu Trọng Lư) xin hỏi những bạn thân sơ đã ăn một bữa cơm, ngủ một đêm, ngồi một tiệc rượu với tác giả Cạm bẫy người, Giông tố. Tôi chắc ai nấy sẽ trả lời rằng: Người vừa từ giã chúng ta tuy là một nhà văn tài lỗi lạc, mà than ôi! Chỉ là một người bình dị, một người cha đứng đắn, một người chồng đứng đắn hơn, một người con rất hiếu, người của khuôn phép, của nề nếp. Cái đồng hồ luôn luôn ở trong túi áo, và những kim chỉ phút không bao giờ sai lạc với đồng hồ của những người hàng phố, của tất cả những người khác trong xã hội. Sự cẩn thận, sự chu đáo của Phụng đã thành tục ngữ”.

Tại sao xảy ra sự hiểu nhầm ấy?

Có phải, như Nguyễn Tuân đã nói trong Tao Đàn số đặc biệt về Vũ Trọng Phụng, trang 47, tại… “cái lỗi của Vũ Trọng Phụng là đã đem những cái thối mọt, cặn bã nhân tâm vào trong tác phẩm của mình đến đầy rẫy”.

Sự hiểu nhầm nói trên nếu đáng ta lấy làm lạ thì sự hiểu nhầm của những người tự nhận là phê bình còn lạ đến đâu!

Nghe bọn này, ta phải tưởng tượng Vũ Trọng Phụng là một nhà văn có mục đích phá hoại và kiến thiết rõ ràng. Một nghìn lần không! Vũ Trọng Phụng, như tôi đã giải rõ, chỉ là một kẻ phẫn uất, một người mà tâm hồn đã bị đầu độc bởi ý định báo thù, một tâm tính gan góc mà thôi. Và, như vậy, anh đã rất thành thực với anh, trước khi thành thực với độc giả. Tôi còn nhớ hôm người ta đưa đám ma Phan Thanh, Phụng cũng có mặt trong đám đông, nhưng lấy tư cách kẻ bàng quan hơn là dự cuộc. Và, khi thợ ảnh sắp chụp một đám người đi đưa, Vũ Trọng Phụng, đứng ngoài, chăm chú nhìn cái vẻ trịnh trọng của kẻ dự cuộc và anh đã nói một câu chua chát: “À, bây giờ các ngài có nên cười một tý cho nó tươi không?”. Ấy đấy, con người xã hội của Vũ Trọng Phụng đã xuất hiện tất cả trong một câu nói ấy. Và, chúng ta, chúng ta hãy nên chỉ nhận lấy cái gì mà Vũ Trọng Phụng có thể cho được chúng ta. Như thế chẳng đã đủ lắm sao?

Lẽ thứ nhất bởi con người không thể là một cái gì khác hơn nó được. Con người là sản vật của gia đình, của hoàn cảnh, của giáo dục, của tập quán, của tín ngưỡng, của bệnh tật, và các điều kiện vật chất trong đó nó sống. Muốn cho nó khác đi tức là ép nó phải giả dối, phải đeo nạ, phải đóng kịch với chính nó và với tất cả.

Lẽ thứ hai bởi các văn phẩm do Vũ Trọng Phụng viết ra dù chẳng cho ta chút ít hy vọng hoặc chút ít phương pháp kiến thức nào, song tất cả đã khiến ta thấy rõ cái hiện trạng xã hội và đã khiến ta suy nghĩ về các hiện trạng ấy. Nói các điều kiện đã tạo nên anh, Vũ Trọng Phụng cho ta được thế đó đã nhiều lắm, có thể nói là đã cho ta tất cả vậy. Ta còn muốn gì hơn! Ta hãy biết ơn nhà văn ấy. Ta hãy khen ngợi Vũ Trọng Phụng về chỗ anh đã có can đảm là anh, trong khi phần đông các nhà văn khác đã chỉ dám đua đòi, phỏng chép, nghĩa là không thành thực.

Quả vậy, trong làng văn Việt Nam hiện đại, ít kẻ đã dám là mình như Vũ Trọng Phụng! Nếu họ không đua đòi, không phỏng chép thì họ cũng đã chỉ tỏ ra rằng họ là những cái máy lặp lại những ý tưởng, những cảm tình xảo đến chết người. Những ai lưu tâm đến quốc văn trong vòng mười năm nay chắc đều nhận thấy rằng đa số các thi sĩ văn sĩ chỉ nhai lại cổ nhân, chẳng khác con trâu nhai lại cỏ. Có gì lạ trong các “văn phẩm” mà người ta in bán nhan nhản các phố phường? Toàn một thứ văn chương điêu trá, mục đích ca tụng những cái gì phù phiếm. Văn nhân thi sĩ của ta hầu hết đã nhận sai cái nhiệm vụ của mình. Họ đã cam tâm làm những kẻ mua vui cho một hạng. Họ đã tô son điểm phấn cho những thực trạng xấu xa để tự lừa mình và lừa người. Họ đã chạy theo bọn gái hư để tự hiến làm những “vú em có thắt cravate” của bọn này. Họ đã kêu gào van vỉ ái tình như một lũ ăn mày xin cơm áo. Họ đã bới xấu, đã vu cáo lẫn nhau, nếu không tâng bốc, không liếm giày những kẻ có thể có lợi cho họ. Và còn gì nữa!… Thực là cái thời đại của sự tầm thường, và những ngón gian ngoan nhiều khi làm điên đảo cả dư luận.

Trong khi ấy, Vũ Trọng Phụng đã chỉ là Vũ Trọng Phụng. Anh là một cách hồn nhiên đến nỗi nhiều khi không tự biết nữa! Anh chưa sáng suốt đến bậc có thể trở nên một tay cải tạo xã hội, nhưng anh đã làm đầy đủ cái chức vụ của một nghệ sĩ. Vì sao? Vì nghệ thuật chính là cái biểu thị tối cao của sự bất bình. Mà văn chương của anh đã ngụ một bất bình sôi nổi, một bất bình nhiều khi chua cay, sỗ sàng và độc ác nữa.

Hoặc giả có người cho Vũ Trọng Phụng là hằn học quá!

Tôi không đồng ý về sự chê ấy. Chúng ta, từ trước, đã hững hờ nhiều rồi, đến nỗi cái thái độ của chúng ta có thể bị ngờ là do sự ngu dốt hoặc do cái lập tam a tòng. Chúng ta không có quyền thờ ơ, không có quyền dễ dãi. Chúng ta phải bắt đầu học lấy thói thù ghét những cái gì bất công, vô nhân đạo! Chỉ có trắng hẳn nếu không đen hẳn. Kẻ nào lờ mờ là những kẻ nguy hiểm, phải coi như thù địch.

IV. VÀI CHUYỆN BUỒN CƯỜI HOẶC CẢM ĐỘNG

VỀ VŨ TRỌNG PHỤNG

Một hôm, trong một cuộc nói phiếm, có người chợt hỏi Phụng:

“Giá bây giờ anh trúng số độc đắc mười vạn, anh sẽ làm việc gì trước nhất?”.

Phụng đáp không nghĩ ngợi:

“Tôi mà trúng số độc đắc ấy à? Thì cái việc đầu tiên tôi sẽ làm ấy là thuê du côn giã cho Lê Văn Trương một mẻ!”.

Buổi trưa ngày rằm tháng tám ấy (cách ít lâu trước hôm Phụng chết) Nguyễn Tuân và tôi đến thăm anh ở số 56, phố Hàng Bạc. Anh đương nằm nghỉ liền vùng dậy: “Quý hóa quá! Chúng mày đến thăm, làm tao như người sống lại. Mấy hôm nay, tao cảm thấy trơ trọi không biết chừng nào!”. Tôi đáp: “Chúng tôi cũng muốn đến thăm anh luôn, nhưng, anh còn lạ gì nữa! Ai nấy đều phải tối mắt về sinh kế”. Phụng thở dài, tần ngần một lát, đoạn anh gọi vợ pha nước, cắt bánh ngọt mời chúng tôi ăn. Anh săn sóc từng hớp nước, từng miếng bánh của chúng tôi, như bà mẹ hiền săn sóc những đứa con yêu. Anh ngả bàn đèn và tiêm cho chúng tôi hút (Hồi này Phụng đã theo lời thầy thuốc, nghiện hẳn để cố kéo dài sự sống). Anh giữ chúng tôi ở chơi mãi đến chiều. Có một lúc cao hứng, anh ngồi dậy: “Lan Khai thích nghe đờn, tao phải chiều nó mới được!”. Anh lấy cây nguyệt đờn luôn vài bản, nghe rất du dương ảo não. Đờn xong, anh hỏi: “Thế nào, gần đờn già dặn thế, chưa thể chết được chứ?”. Tuân lắc đầu: “Không việc gì!”. Câu ấy tuy là một câu an ủi hão mà nó cũng làm cho Phụng hớn hở một cách cảm động: “Phải không? Tao tin chắc rằng không thể nào tao chết được! Cuộc đời còn đẹp quá, đáng yêu quá. Nhất là thằng Khai từ trước vẫn bị tao hiểu nhầm mà mạt sát. Đến bây giờ tao biết rõ nó, biết yêu nó mà tao với nó lại phải lìa nhau thì thậm là vô lý!”. Phụng nhìn tôi, hai mắt long lanh như ướt nước. Cái nhìn ấy hiện vẫn còn trước mắt tôi và chắc không bao giờ tôi quên được.

(Minh Phương xuất bản năm 1941, 32 trang.)

____________

 

1. Nội dung chính chương này, Lan Khai rút từ bài “Con người Vũ Trọng Phụng” đăng trên báo Tao Đàn Tạp chí, số đặc biệt về Vũ Trọng Phụng tháng 12-1939.

2. Di cảo Vũ Trọng Phụng do Minh Phương sắp xuất bản (chú thích của Lan Khai).

 

(Nguồn : vietmessenger.com)

 

 

 

 

 

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: