//
you're reading...
Biên Khảo, góp nhặt cát đá, Nhân vật, Phụ nữ, về Lịch Sử, về Quê Hương

Sử gia Tàu đối với bà Triệu – Trần Long Hưng & Nguyễn Hữu Ngư

 

 

6

Những quyển sử hay bài học về sử ký nước nhà viết bằng chữ quốc ngữ, phần lớn đều lấy tài liệu trong những bộ sử viết bằng chữ Hán của các bậc tiền bối. Những bậc này lại căn cứ vào những quyển sử do người Tàu viết. Mà như ta biết, người Tàu có hơn một cớ để chẳng viết đúng hoàn toàn sự thật, hay để mỉa mai ngạo báng cái dân tộc bé nhỏ, mà họ nuốt mãi chẳng vô cho. Đó là ta chưa kể những kẻ viết sử để bôi lọ ông cha mình như hạng Lê Tắc.

Ta từng thấy họ cho hai bà Trưng bị Mã Viện bắt sống, quỳ lạy kẻ thù chiến thắng, khóc xin tha mạng sống, với bất cứ giá nào, dù phải làm tì thiếp để nâng bàn tay đẩm máu người đại thù của dân tộc ; và tự nhiên vẫn theo họ – lão tướng họ Mã chẳng thèm đếm xỉa đến lời cầu xin nọ, đem hai kẻ tù binh về cho vua Hán hành hình ; và – cũng vẫn theo họ – trước đền thờ Mã Viện, có tượng hai “con mẹ phiến loạn Giao Chỉ” trong cử chỉ cầu xin để ghi công bình định quận này.

Đối với hai bà Trưng, ngọn bút xuyên tạc và kiêu căng quá đổi của họ đã hạ những lời như thế, còn đối với bà Triệu ?

Các chú con Trời ấy, mặc dù người anh thư dám chống lại họ mới có 23 tuổi đầu, họ cũng cho là con mụ già, con mụ già họ Triệu ; Triệu Ẩu.

Và ta hãy nghe thi nhân nước ta làm thơ ca ngợi bà …, bà … ;

Triệu Ẩu
Cao một trượng, cả mười vùng,
Bỏ tóc ngang lưng, vú chấm sừng.
Hợp chúng rừng xanh, oai náo nức,
Cưỡi đầu voi trắng, tiếng vang lừng.
Mác dài trỏ vẫy tan đàn giặc,
Ngôi cả lăm le học họ Trưng.
Ví có anh hùng duyên định mấy,
Thời chi Đông Hán dám lung lăng.
(Thơ vịnh sử đời Hồng Đức)

Nguyễn Văn Tố diễn ra văn xuôi bài thơ làm hồi hậu bán thế kỷ XV :

“Người ngài cao một trượng”, lưng lớn mười ôm. Tóc ngài bỏ xuống ngang lưng, vú chấm sừng. Họp quần chúng ở chốn rừng xanh, oai thanh náo nức. Ngài cưỡi đầu voi trắng tiếng dậy vang lừng. Cầm ngọn giáo dài, khi trỏ khi vẫy mà tan đàn giặc. Cũng toan bắt chước bà Trưng, để dẹp loạn giúp dân, rồi lên ngôi báu. Ví có người anh hùng định duyên đôi lứa thì làm gì Đông Hán dám lung lăng ?

Sử chữ Nho cũng chép bà Triệu “vú dài ba thước” (Đại Việt Sử, Khâm Định Việt Sử).

Câu “bỏ tóc ngang lưng, vú chấm sừng” hình dung bà Triệu ngồi đầu voi, vú chấm xuống đến ngà.

Và cái ông “đồ Nho trong lốt đồ Tây” ấy, nhà khảo cổ có uy tín Ưng Hòe Nguyễn Văn Tố, lạnh lùng chẳng có gì thêm.

Gọi là con mụ già họ Triệu chưa đủ, các ông viết sử Tàu còn tạo một người quái dị. Thôi bỏ qua bên những cái “mình cao một trượng, lưng lớn mười ôm”, chỉ cái “vú dài ba thước” : đành rằng đó là thước Tàu, ba thước mộc, độ 1m20, nhưng bao nhiêu đó cũng đủ cho ta vì ngạc nhiên – và hoảng hốt cũng nên – cái “dị kỳ dị tướng” ấy, mà quên nghĩa khí của người nữ nhi cân quắc. Trí tưởng tượng của sử gia Tàu quả là quá giầu thật : đến nay khoa sinh dục học chưa từng gặp một ca đặc biệt như thế. Rồi thì nào khi ra trận, vắt vú lên vai. Khi lại bỏ lòng thòng xuống tới ngà voi.

Một mánh khóe trẻ con : đặt điều để diễu cợt một hình ảnh mà kẻ khác tôn thờ, một hình ảnh mà mình chẳng ưa, ghét hay sợ.

Người xưa vô tình mắc phải hiểm ấy, chẳng nói làm gì. Chúng ta không phiền mấy, khi biết các thi nhân đời Hồng Đức, ở hậu thế kỷ XV nói đến “vú chấm sừng.”

Chúng ta không khó chịu nhiều khi, bốn thế kỷ sau, Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái thời Tự Đức, nhắc lại : “vú dài ba thước.”

Bà Triệu Ẩu đánh Ngô
Binh qua trải bấy nhiêu ngày,
Mới sai Lục Dận sang thay phiên thần.
Anh hùng chán mặt phong thần
Nữ nhi lại cũng có lần cung đao.
Cửu Châu có ả Triệu Kiều
Vú dài ba thước tài cao muôn người.
Gặp cơn thảo muội cơ trời
Đem thân bồ liễu theo loài bồng tang.
Đầu voi phất ngọn cờ vàng
Sởn, thôn mấy cõi chiến trường xông pha.
Chông gai một cuộc quan hà,
Dù cho chiến tử còn là hiển linh.
(Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca)

Nhưng đến người đồng thời với chúng ta, sống giữa đời khoa học này, mà còn lại “ba thước vú” thì chúng ta mới bực tức đến đâu.

Ta hãy nghe Tản Đà :

Vịnh Bà Triệu
Mê Linh khuất bóng gái còn ai ?
Bà Triệu nhà ta cũng đáng tài.
Vùng vẫy non sông ba thước vú,
Xông pha tên đạn một đầu voi
Duyên trần chẳng chút tơ vương mối,
Nợ nước riêng mình gánh nặng vai.
Thua được cũng cho Ngô biết mặt,
Lâm sơn còn có gái tài trai.

Và Dương Bá Trạc :

Vịnh Triệu Ẩu
Khí thiêng Lô, Tản đúc nên người,
Chẳng những trai hay gái cũng tài.
Vùng vẫy non sông ba thước vú,
Xông pha tên đạn một đầu voi.
Thằng Ngô gan thỏ kinh gần rụng,
Cửa tướng con dòng đích chẳng sai.
Thua được sự thường chi sá kể,
Nữ nhi ái quốc tiếng muôn đời.

Dương Quảng Hàm chú thích : Sử chép rằng vú bà dài tới ba thước.

Và nhà mô phạm chân chính ấy chỉ chú thích có bao nhiêu thôi. Không cho ta biết cả sự “gặp gỡ lạ lùng” của hai nhà thơ ở hai câu thực :

Đã có hai thì xin thêm một cho đủ ba vậy :

Triệu Bà Vương
Bà Triệu Ẩu quê miền Thanh Hóa,
Theo tục truyền tưởng lạ hơn ai.
Gặp cơn thao muội cơ trời,
Nước nhà thuở ấy thuộc người Đông Ngô.
Bọn quan lại tham ô sẵn lối,
Dân ta khôn xiết nỗi đọa đày.
Căm hờn bà Triệu ra tay,
Cùng anh Quốc Đại đêm ngày chiêu binh.
Khắp một dãy rừng xanh Nông Cống,
Hết thảy đều theo bóng, nghe vang,
Đầu voi chỉ ngọn cờ vàng,
“Oai danh” Lệ Hải Bà Vương vang lừng.
“Chống hổ dễ, chống cùng Bà khó” :
Quân Đông Ngô đã có lời răn,
Khí thiêng khi đã về thần,
Núi Bồ còn tiếng “Tướng quân Nụy Kiều”.
Đinh Gia Thuyết

Phần chú thích, tác giả ghi : tục truyền bà Triệu vú dài ba thước. Cũng vẫn vết xe xưa. Nhưng cũng may mà tác giả giải : “Tướng quân Nụy Kiều” : Nghĩa là quan tướng mềm mại, xinh đẹp. Đó cũng là danh hiệu của tướng sĩ gọi bà Triệu. Người Tàu cho bà là con mụ già xấu xí họ Triệu ; tướng sĩ bà gọi bà là “người tướng mềm mại, xinh đẹp”. Chẳng lẽ ta bỏ Phật nhà mà thờ Phật ngoài đường ?

Đến nhà học giả thận trọng quá cố Trần Trọng Kim nhiều lần sửa lại cuốn “Việt Nam Sử Lược” của mình, mà người ta vẫn thấy ông để nguyên hai tiếng Triệu Ẩu. Chúng ta mong rằng trong kỳ in lại sau này, người ta thay mặt cụ hoặc nhà xuất bản Tân Việt sẽ bỏ tiếng “Ẩu” không tốt đẹp ấy đi. Nhất là dù có lắm kẻ quá lời công kích cuốn sách nói trên, tới bây giờ nó vẫn còn làm nòng cốt cho những cuốn sử viết sau nó, nó vẫn còn là kho tài liệu đầy đủ nhất cho những ai muốn tìm hiểu lịch sử nước nhà.

Chúng ta mong ở các nhà viết sử, chúng ta lại cũng mong nhà giáo khi giảng dạy, cực lực đánh đổ cái “hiện tượng” vú dài ba thước và cái tên “Ẩu” mà sử gia Tàu có ác ý gán cho bậc anh thư của dân tộc.

Tưởng rằng chúng ta nên theo ông Lê Văn Hòe, trong quyển “quốc sử đính ngoa” xuất bản năm 1941, xác nhận tên bà Triệu là Triệu Thị Chính (*) căn cứ vào “Việt Sử Đại Toàn” và “Khâm Định Việt Sử”. Bằng không đi nữa chúng ta gọi bà là bà Triệu, thì cũng chẳng thể lộn lầm với một ai.

Còn cứ gọi là Triệu Ẩu, – con mụ già họ Triệu, – thì quả chúng ta cứ chịu mắc mãi cái cạm bẫy trẻ con do các sử gia Tàu gài mà cũng là khinh miệt người anh thư của nòi giống, là chà dưới chân một hình ảnh thanh cao, trong trắng vào bậc nhất của đất nước.

Người Việt nào xứng đáng với tên nỡ nào làm thế ?

(*) Vài nhà báo cho tên bà là Triệu Trich Nương, nhưng không nói đã căn cứ vào đâu. Ta cũng nên để ý chữ nương có nghĩa là nàng, nương. Vậy tên bà Triệu rất có thể là hai tiếng đồng âm Thich hay Trich.

Trần Long Hưng & Nguyễn Hữu Ngư

(Nguồn : bán nguyệt san Bách Khoa, số 2, ngày 31 tháng Giêng, 1957, trang 49-51)

 

 

 

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: