//
you're reading...
góp nhặt cát đá, Truyện Dịch

Bản năng làm mẹ – V.S. Naipaul

 

 

Nhân ông V.S. Naipaul vừa mới qua đời hôm Thứ Bảy tuần qua, 11 Tháng Tám, 2018, Thân Tri giới thiệu đến bạn đọc một truyện ngắn của ông như một hình thức tưởng niệm.

 

1

V.S. Naipaul (1932-2018)

 

Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Sir Vidiadhar Surajprasad Naipaul (sinh ngày 17 tháng 8 năm 1932) là nhà văn đoạt giải Nobel Văn học năm 2001.

V. S. Naipaul sinh tại Trinidad trong một gia đình gốc Ấn Đô,dòng dõi Bà la môn rất nghèo; bố là nhà văn, nhà báo. Năm 1950, do chăm chỉ học tập, ông được chính phủ Trinidad cấp học bổng để đi học ở Đại học Oxford và vĩnh viễn từ giã quê hương sang sống ở nước Anh. Bốn năm sau, ông tốt nghiệp, trở thành phóng viên, người phụ trách chương trình Tiếng nói Caribe của đài BBC và làm việc cho tạp chí văn học The New Statesman (Chính khách mới). Năm 1955 Naipaul lấy Patricia Ann Hale. Năm 1996 Patricia Ann Hale mất, ông tục huyền với một phụ nữ Pakistan tên Nadira Khannum Alvi – một nhà báo.

Năm 1957, Naipaul xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay The mystic masseur (Gã tẩm quất bí hiểm), viết về cuộc sống ở đảo Trinidad quê ông. Năm 1961 Naipaul in tiểu thuyết kiệt tác A House for Mr. Biswas (Căn nhà cho ông Biswas), với nhân vật chính lấy nguyên mẫu từ cha ông. Cũng trong năm này, Naipaul được chính phủ cấp cho một khoản tiền để đi du lịch nhiều nơi, và trong những năm 1960-1970 ông đã đến hầu hết các châu lục trên thế giới, kết quả là rất nhiều các tập sách du ký ra đời ghi lại ấn tượng những nơi ông đã qua. Những tác phẩm thể loại này của ông gây bất bình ở nhiều người vì những nhận xét không mấy thiện cảm về thế giới thứ ba ở châu Phi, đặc biệt là những lời chỉ trích nhằm vào Hồi giáo chính thống. Truyện ký Among the Believers: An Islamic Journey (Giữa những tín đồ: Một hành trình trong Hồi giáo, 1981) viết sau chuyến đi Iran, Pakistan và Indonesia của ông là bức tranh cay nghiệt về những tín đồ quay lưng về phía tiến bộ và thế giới hiện đại. Naipaul gọi chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan là một thứ bệnh hoạn bám vào thế giới Hồi giáo, vì nó mà lịch sử bị thần học nô dịch. Gần 20 năm sau, Naipaul trở lại chủ đề đó trong cuốn Beyond Belief: Islamic Excursions (Đằng sau đức tin: Các chuyến đi Hồi giáo, 1998). Năm 1987 và 1994, Naipaul xuất bản tiểu thuyết The Enigma of Arrival (Bí ẩn khi tới) và A Way in the World (Đường vào thế giới). Trong xét trao giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển đặc biệt nhấn mạnh đến kiệt tác The Enigma of Arrival, coi đây là “hình ảnh, cứ thế mà lặng lẽ suy sụp, của văn hóa thực dân cũ, và sự suy tàn của các xóm làng châu Âu”. Năm 1990 ông được Nữ hoàng Elizabeth II của Anh phong tước Hiệp sĩ nhờ những đóng góp vào nền văn học của Khối Thịnh vượng chung Anh. Báo The Guardian gọi ông là “nhà văn tiếng Anh lớn nhất trong số các nhà văn đang sống”. Với khối lượng tác phẩm lớn và đa dạng, tài năng xuất chúng và uy tín vững vàng, đáng lẽ Naipaul đã được tặng giải Nobel từ nhiều năm trước nhưng đến năm 2001 ông mới giành được vinh dự này. Tác phẩm mới nhất Half a Life (Nửa đời, 2001) là sự trở lại của V. S. Naipaul với thể loại tiểu thuyết giả tưởng.

Đến nay, Naipaul đã viết gần 30 tác phẩm gồm cả tiểu thuyết (chủ yếu là giả tưởng và phản giả tưởng) và tiểu luận. Ngoài giải Nobel Văn học, ông còn nhận các giải văn chương như giải David Cohen, giải John Rhys (cho The Mystic Masseur), giải W. H. Smith (cho The Mimic Men), giải Booker (cho tiểu thuyết In a Free State), giải Jerusalem năm 1983, giải T. S. Eliot năm 1986 và các giải văn chương khác như giải Somerset Maugham, giải Hawthornden. Ông cũng được cấp bằng danh dự của các trường Đại học St. Andrew, Đại học Columbia, Đại học Cambridge, Đại học Oxford…

 

%%%%%%%%%%%%%

 

V.S. Naipaul kể lại chặng đường đầu tiên gian khổ thế nầy, “Tôi viết Miguel Street trước tiên, bạn tôi, Andrew Salkey mang tác phẩm nầy đến André Deutsch. Diana Athill, biên tập viên của nhà xuất bản Deutsch, thích câu chuyện nhưng André Deutsch biết những tác phẩm loại nầy, cho rằng ‘truyện ngắn bán không được.’ ” Bản thảo Miguel Street bị giữ lại trong ngăn kéo.

 

Nhà xuất bản cần truyện dài, thế là Naipaul viết The Mystic Masseur. Ông hoàn tất tác phẩm nầy tháng Giêng năm 1956. Quyển nầy lẽ ra được xuất bản ngay trong năm đó. Tác giả là người nôn nóng hơn ai hết mong được nhìn thấy tác phẩm mình trên giấy trắng mực đen. Cuối cùng phải đến tháng Năm, năm sau, The Mystic Masseur mới chào đời.

Nhà xuất bản lại đòi thêm một truyện dài khác. Ông viết tiếp và The Suffrage of Elvira được xuất bản tháng Tư, năm 1958. Ngày nay khi nhìn lại quãng đời trước, Naipaul vẫn không quên “nỗi lo lắng và đớn đau tột cùng” đã tạo tác nên ba tác phẩm đó.

Hãy thử tưởng tượng, chàng trai Naipaul 23 tuổi đầu, sống trong giấc mơ trở thành nhà văn. Chàng dồn tất cả tấm lòng và sức lực vào tác phẩm đầu tiên. Thời của chàng, thế giới văn chương Tây phương không ai mấy quan tâm đến chuyện thuộc địa hay hậu thuộc địa là điều duy nhất chàng có thể viết vì một lẽ dễ hiểu, chàng đã sinh ra và lớn lên ở một nơi như vậy.

Kịch bản đời sống của xã hội đó chàng vừa là nhân chứng, vừa là diễn viên. Trái đắng đó chàng đã nếm, dâu biển đó chàng đã trải qua, một lần và cho cả đời. Hãy thử tưởng tượng, sau những lần chàng bị từ chối, niềm hy vọng đó lọt vào mắt nhà xuất bản Deutsch, rồi kế tiếp là nỗi thất vọng vì “truyện ngắn bán không được.” Chàng vẫn không thể quên, “… điều nầy vẫn còn là cái bóng đen lớn che phủ đời tôi.” Chàng nói, “… khi bạn còn trẻ, hai năm là thời gian dài để chờ đợi. Khi bạn lâm cảnh cùng quẩn, như tôi, hai năm cùng quẩn là thời gian quá dài để chờ đợi. Khi bạn muốn đánh dấu sự hiện diện của mình trong thế giới, đó là thời gian dài để chờ đợi… Hồi đó, rất khó cho tôi để tìm ra việc làm, rất khó cho tôi để tìm một chỗ sống, rất khó cho tôi để tìm tiếng nói chính mình. Rất khó cho tôi, vừa phải làm tất cả những việc đó, vừa phải viết ra những quyển sách ấy, để xuất bản.” V.S. Naipaul đã khởi đầu sự nghiệp văn chương như thế.

Trong công bố với báo chí, Hàn Lâm Viện Thụy Điển coi những câu chuyện ngắn của Miguel Street là “sự pha trộn giữa Chekhov và điệu nhạc calypso tạo Naipaul thành nhà hoạt kê và kẻ mô tả đời sống trên đường phố.” Con đường có tên Miguel, khu ổ chuột của thành phố Port of Spain, đã được nhìn qua cặp mắt quan sát của cậu bé mới lớn của nhân vật xưng tôi. Ở đó có gã thợ mộc tên tên Popo làm việc tất tả để tạo những “vật không có tên.” Ở đó có cô Laura luôn luôn mang bầu, có tám đứa con với bảy đời chồng. Ở đó có tay anh chị tên Bogart chọc trời khuấy nước và sau cùng bị bắt vì tội đa thê… Con đường nối liền những mảnh đời tù túng, buồn, xám. Con đường cũng nối liền những ước mơ vượt thoát, bỏ đi, đổi đời. Có cả thảy mười bảy câu chuyện được kể. Mỗi chuyện mở ra một bi kịch của đời sống riêng tư từng nhân vật. Nhưng ở đây, người kể chuyện không khai thác khía cạnh bi kịch đó. Ông nhìn mọi chuyện trong cái vẻ khôi hài, một thứ “cười ra nước mắt” của Gogol. Tiếng cười theo nhận xét của Octavio Paz không thấy ở Homer hay Virgil mà chỉ được thấy kể từ khi có Cervantes, “là phát minh lớn của tinh thần hiện đại.” Milan Kundera nói rõ hơn, “đó là sự phát minh gắn liền với sự ra đời của tiểu thuyết.”

————————-

Tôi nghĩ Laura là người giữ kỷ lục thế giới.

Laura có tám đứa con.

Điều nầy không có gì đáng ngạc nhiên.

Tám đứa con của cô có cả thảy bảy người cha.

Dám qua mặt nổi không!

 

Chính Laura là người đã dạy cho tôi bài sinh vật học đầu tiên. Cô sống cạnh nhà chúng tôi, và tôi có cảm tưởng mình quan sát cô thật gần.

Tôi ghi nhận bụng cô lớn dần lên sau nhiều tháng.

Kế tiếp cô biến đi một khoảng thời gian ngắn.

Và rồi tôi thấy bụng cô nhỏ đi.

Và tiến trình tăng trưởng nầy bắt đầu trở lại vài tháng sau đó.

 

Đối với tôi đó là một trong những điều kỳ diệu của thế giới nơi tôi đã sống, và mãi quan sát Laurạ Chính cô cũng khá vui vẻ khi nói đến chuyện xảy ra trong đời sống. Cô vẫn thường chỉ bụng mình và nói, “Của nầy lại đến nữa đây, nhưng chị sẽ quen đi sau ba bốn lần đầu. Tuy thiệt là phiền hết sức.”

Cô thường đổ lỗi cho Thượng Đế, và nói về sự tinh quái của đàn ông.

Bởi vì với sáu đứa con đầu tiên, cô đã thử qua sáu người đàn ông khác nhau.

Hat vẫn hay nói, “Có một số người thiệt khó làm cho họ hài lòng.”

Nhưng tôi không muốn tạo ấn tượng cho bạn là Laura dùng cả thì giờ cô có vào việc sinh đẻ và lên án đàn ông, và thường xuyên cảm thấy hối tiếc cho bản thân mình. Nếu Bogart là người nhàm chán nhất trong khu phố, Laura lại là người sinh động hơn hết. Cô luôn luôn vui vẻ và cô lại thích tôi.

Cô vẫn cho tôi những trái mận và xoài cô có; và khi nào làm bánh đường, cô vẫn thường cho tôi một ít.

Ngay cả mẹ tôi vốn không thích cười đùa, nhất là ở tôi, cũng phải cười với Laura.

Bà vẫn thường nói với tôi, “Mẹ không biết vì sao Laura lại để tâm đến con như vậy. Bộ cô ta không có đủ con cái để lo hay sao.”

Tôi nghĩ mẹ tôi đúng. Tôi không nghĩ một người đàn bà như Laura lại có thể có nhiều con đến như vậy. Cô thương mọi đứa, dù rằng bạn có thể không tin vào điều nầy nếu dựa vào ngôn ngữ cô dùng để nói với chúng. Một số những lời quát mắng của Laura khá phong phú đến nỗi tôi chưa bao giờ nghe qua và tôi sẽ không bao giờ quên được.

Một lần Hat nói, “Mầy coi, cổ giống như Shakespeare khi cần dùng đến chữ nghĩa.”

Laura thường la con thế nầy, “Alwyn, con thú rộng mồm kia, đến đây.”

Và, “Gavin, nếu mầy không đến đây ngay, tao sẽ khiến mầy địt ra lửa, có nghe không.”

Và, “Lorna, con chó đen chân vòng kiềng, tại sao mầy không để ý tứ vào chuyện mầy đang làm hả?”

°°°°°

Bây giờ, so sánh Laura, mẹ của tám con, với cô người Tàu Mary, cũng tám con, là điều không công bằng. Bởi vì Mary chăm sóc con cái thật kỹ lưỡng, và chưa bao giờ nặng lời với chúng. Nhưng Mary, xin lưu ý với bạn, có người chồng chủ một cửa hàng, và Mary có điều kiện để lịch sự và tử tế với con cái, sau khi đã cung phụng chúng đầy đủ những món rau cải xào thịt, và mì xào, và hủ tiếu xào và những món có tên tương tự. Còn Laura, cô tìm ở đâu ra tiền để lo cho con?

Những người đàn ông tuần tự chậm rãi đi ngang qua nhà Laura mỗi chiều, huýt sáo gọi Laura, không phải là người bỏ tiền ra cho con của Laura. Họ chỉ muốn Laura.

Tôi hỏi mẹ tôi, “Laura ra sinh sống ra sao?”

Mẹ tát yêu tôi, nói, “Con biết không, con nhanh nhẩu quá so với tuổi của con.”

Tôi ngờ là có chuyện thật tệ hại.

Nhưng tôi không tin đó là sự thật.

Thế nên tôi hỏi Hat. Hat nói, “Cô ta có rất nhiều bạn buôn bán ngoài chợ. Họ biếu xén cô nhiều thứ, và đôi khi một, hai hay ba người chồng cô cho cô nữa, nhưng không nhiều lắm đâu.”

Phần lạ nhất của câu chuyện là ở Laurạa. Laura không đẹp. Như Boyee một lần có nói, “Cô ta có khuôn mặt giống như cái mặt trên của bình điện xe hơi.” Và cô hơi mập một chút.

Tôi đang nói đến thời kỳ cô chỉ mới có sáu đứa con.

Một ngày nọ, Hat nói, “Laura vừa có một người đàn ông mới.”

Mọi người cười, “Chuyện chẳng có gì lạ. Nếu Laura có cách của cô, cổ nên thử qua mỗi người đàn ông một lần.”

Nhưng Hat nói, “Không, tao nói thiệt. Hắn đến sống với cổ luôn rồi. Tao thấy hắn sáng nay lúc tao dắt bò ra đồng.”

Chúng tôi theo dõi và chờ đợi người đàn ông nầy.

Sau đó chúng tôi mới biết chính hắn cũng theo dõi và chờ đợi chúng tôi.

Không ít lâu sau, người đàn ông nầy, Nathaniel, gia nhập vào băng của đường Miguel. Nhưng rõ ràng hắn không thật sự là một thành viên trong nhóm chúng tôi. Hắn xuất thân từ tận cùng phía đông của Port of Spain, là nơi chúng tôi coi như là nhơ bẩn hơn; và ngôn ngữ hắn dùng thật thô nhám.

Hắn bịa chuyện hắn là một kẻ từng gieo rắc kinh hoàng ở đoạn cuối phía đông đường Piccadilly. Hắn kể lại nhiều chuyện băng đảng đánh nhau, và hắn cũng muốn cho mọi người biết hắn đã từng tàn phá diện mạo của hai hay ba người gì đó.

Hat nói, “Tao nghĩ hắn chỉ nói nhăng, nói cuội, tụi bây biết không.”

Chính tôi cũng không tin hắn. Hắn là người nhỏ con, và tôi luôn luôn có cảm tưởng là người nhỏ con thường quỷ quái và hung bạo.

Nhưng điều thật sự khiến chúng tôi buồn nôn là thái độ của hắn đối với phụ nữ. Tuy không một ai trong chúng tôi gọi là hào hiệp nhưng thái độ khinh miệt phụ nữ của Nathaniel là điều chúng tôi không thích. Hắn luôn luôn đưa ra nhận xét thô lổ khi nhác thấy một phụ nữ đi ngang qua.

Nathaniel có thể nói, “Đàn bà giống như bò cái. Bò cái và họ như nhau.”

Và khi cô Ricaud, người đàn bà an phận, đi qua, Nathaniel buông miệng, “Hãy nhìn con bò cái mập kia kìa.”

Đó không phải là câu nói đàng hoàng bởi vì chúng tôi đều nghĩ rằng cô Ricaud quá mập để đáng bị chế nhạo, và lẽ ra nên thương hại cô hơn.

Nathaniel, lúc đầu, cố gắng làm cho chúng tôi tin rằng hắn biết cách trị Laura. Hắn gợi ý là hắn vẫn thường đánh đập cô. Hắn hay nói, “Đàn bà, họ thích bị đập cho thật đích đáng, biết không. Tụi bây chắc biết điệu hát calypso nầy: ‘’ Thỉnh thoảng chỉ cần đánh họ ngã xuống Thỉnh thoảng chỉ cần ném họ xuống Đánh bầm mắt họ, đánh sưng gối họ lên Và như thế họ sẽ yêu anh vĩnh viễn

Đó là sự thật phúc âm về đàn bà.’’

Hat nói, “Thiệt đúng đàn bà là thứ buồn cười. Tao không hiểu một người đàn bà như Laura thấy gì ở Nathaniel.”

Edoes nói, “Tao biết rất nhiều về đàn bà. Tao nghĩ Nathaniel chỉ nói nhăng nói cuội. Tao nghĩ khi đối diện với Laura hắn cụp đuôi từ đầu đến cuối.”

Chúng tôi thường nghe các vụ đánh nhau và nghe tiếng trẻ con la hét ầm ỉ, và khi chúng tôi gặp Nathaniel, hắn có thể chỉ nói, “Vừa đập cho mụ đàn bà đó một bài học.”

Hat nói, “Vui chưa. Laura không có vẻ gì buồn hơn trước.”

Nathaniel nói, “Chỉ có đánh mụ mới thực sự khiến mụ hài lòng.”

Dĩ nhiên Nathaniel nói dối. Không phải hắn là kẻ xuống tay mà là Laura. Điều nầy lộ ra khi Nathaniel tìm cách đội mũ để che giấu con mắt bầm đen của mình.

Edoes nói, “Hình như người ta viết ra điệu hát calypso cho đàn ông chứ không phải cho đàn bà.”

Nathaniel sấn tới định thịt Edoes, là người vốn nhỏ con, ốm yếu. Nhưng Hat buộc miệng, “Nầy, hãy thử ra tay với Laura đi. Tao biết Laura. Laura chỉ mới đập mầy vừa đủ để mầy ở với nó, nhưng đến ngày nó chán mầy, cách tốt nhất là mầy phải chạy thôi.”

Chúng tôi cầu nguyện cho một chuyện gì đó xảy ra để Nathaniel phải rời bỏ đường Miguel.

Hat nói, “Chúng mình không cần phải đợi lâu đâu. Laura mang bầu tám tháng rồi. Còn một tháng nữa là Nathaniel phải đi thôi.”

Edoes nói, “Đó mới thật là một kỷ lục mới. Bảy đứa con với bảy thằng chồng.”

Đứa bé chào đời.

Đó là ngày thứ Bảy. Buổi chiều hôm trước tôi còn thấy Laura đứng trong sân tựa vào hàng rào.

Đứa bé lọt lòng mẹ lúc tám giờ sáng. Và, như một phép lạ, chỉ hai giờ sau, Laura đã gọi vọng sang mẹ tôi.

Tôi nấp và lén nhìn.

Laura tựa vào thành cửa sổ. Cô đang ăn xoài, và chất nước vàng loang lổ trên mặt cô.

Cô nói với mẹ tôi, “Cháu bé ra đời sáng nay.”

Và mẹ tôi chỉ có thể nói, “Trai hay gái?”

Laura nói, “Bà nghĩ tôi có may mắn hay không chứ? Tôi nghĩ mình thiệt bịnh hoạn. Lại một đứa con gái nữa. Tôi chỉ muốn cho bà biết chuyện nầy, thế thôi. Thôi, tôi phải đi đây. Tôi phải lo may vá chút đỉnh.’’

Và ngay buổi chiều hôm đó có vẻ như điều Hat nói trở thành sự thực. Bởi vì buổi chiều hôm đó Laura ra đường và kêu to tiếng với Nathaniel, “ê, Nathaniel, tới đây.”

Hat nói, “Chuyện quái gở gì nữa đây? Có phải cổ vừa sinh con sáng hôm nay không vậy?”

Nathaniel làm ra vẻ ngon lành trước mặt chúng tôi. Hắn nói với Laura, “Tao đang bận. Tao không về được.”

Laura sấn tới và tôi thấy cô có vẻ như sẵn sàng đập lộn. Cô nói, “Mầy không về? Không về? Tao nghe có đúng không?”

Nathaniel lo ngại. Hắn cố trò chuyện với chúng tôi, nhưng không ai hiểu hắn nói gì.

Laura nói, “Mầy nghĩ Mầy là đàn ông. Nhưng đừng đóng vai đàn ông với tao nghe chưa. Phải, Nathaniel có phải tao đang nói với mầy hay không, cái thằng có cái đít như hai ổ bánh mì thiu trong quần kia.”

Đó là câu nói hay nhất của Laura, và chúng tôi tất cả phá lên cười. Khi thấy chúng tôi cười, Laura cũng bật cười theo.

Hat nói, “Mụ đàn bà nầy thiệt quá cỡ.”

°°°°°

 

Nhưng sau khi đứa con ra đời, Nathaniel vẫn không rời đường Miguel. Chúng tôi hơi lo ngại.

Hat nói, “Nếu không cẩn thận, cổ lại có thêm đứa con nữa với cùng một người đàn ông, tụi bây biết không.”

Không phải tại lỗi của Laura mà Nathaniel không ra đi. Cô đập hắn nhiều trận và làm điều nầy một cách công khai hơn trước. Thỉnh thoảng cô nhốt hắn ở ngoài và chúng tôi được nghe Nathaniel khóc lóc và năn nỉ nhẹ nhàng bên lề đường, “Laura, em yêu, Laura, cục cưng, hãy để anh vô nhà đêm nay. Laura, cục cưng, hãy để anh vộ”

Bây giờ hắn bỏ quên cả cái thói giả bộ như một tay có thể trừng trị được Laura. Hắn không muốn nhập bọn với chúng tôi nữa, và chúng tôi lấy làm khoái trá về điều nầy.

Hat thường hay nói, “Tao không biết tại sao hắn không trở về Dry River nơi hắn xuất thân. Hắn sẽ sung sướng hơn ở cái nơi không có văn hóa đó.”

Tôi cũng không hiểu tại sao hắn vẫn ở lại đây.

Hat nói, “Có một số đàn ông giống như hắn. Bọn nầy thích bị đàn bà hành hạ.”

Và Laura càng ghét cay đắng Nathaniel hơn.

Một ngày nọ chúng tôi nghe cô bảo hắn, “Mầy nghĩ mầy cho bà một đứa con là mầy làm chủ bà phải không. Đứa con đó ra đời vì tai nạn, mầy có nghe thủng không.”

Cô đe dọa kêu cảnh sát.

Nathaniel nói, “Nhưng rồi ai chăm sóc con cái cho em?”

Laura nói, “Chuyện đó để tao tính. Tao không muốn mầy ở đây. Mầy chỉ thêm một miệng ăn phải lo. Và nếu mầy không đi ngay lập tức tao sẽ kêu trung sĩ Charles lo cho mầy.”

Chỉ khi bị đe dọa kêu cảnh sát Nathaniel mới chịu ra đi.

Mặt hắn ràn rụa nước mắt.

Nhưng bụng Laura lại phình ra thêm lần nữa.

Hat nói, “Trời ơi! Hai đứa con với cùng một người đàn ông!”

°°°°°

 

Một trong những sự kỳ diệu của đời sống trên đường Miguel là không ai bị chết đói. Nếu bạn ngồi xuống bàn với cây viết chì và tờ giấy và cố gắng tính toán, bạn sẽ thấy điều nầy không thể nào xảy ra được. Nhưng là người sống ở đường Miguel, tôi có thể bảo đảm với bạn là không ai chết đói. Có lẽ họ có bị đói, nhưng bạn sẽ không bao giờ nghe ai nói về điều nầy.

Con cái của Laura rồi cũng lớn lên.

Cô con gái cả, Lorna, bắt đầu làm đầy tớ cho một nhà ở St. Claire và đi học đánh máy từ một người đàn ông ở đường Sackville.

Laura hay nói, “Trên thế giới không có điều gì giống như giáo dục. Tôi không muốn các con tôi lớn lên giống như tôi.”

Vào lúc đó, Laura sinh ra đứa con thứ tám, một cách không cần phải cố gắng như thường lệ.

Đó là đứa con sau cùng của cô.

Không phải tại vì cô đã quá mỏi mệt hay cô đã đánh mất tình yêu đối với nhân loại hay cô đã mất đam mê cung cấp thêm người cho nhân loại. Thực tế là Laura không bao giờ già hơn hay ít vui hơn. Tôi luôn có cảm tưởng rằng nếu có cơ hội, cô có thể tiếp tục có thêm con nữa.

°°°°°

Cô con gái cả, Lorna, một đêm nọ, từ lớp học đánh máy về nhà trễ và nói, “Mẹ, con sẽ có con.”

Tôi nghe tiếng rít của Laura.

Và đó là lần đầu tiên tôi nghe Laura khóc. Đó không phải là tiếng khóc bình thường. Cô có vẻ như khóc cho mọi tiếng khóc cô đã giữ lại kể từ ngày cô được sinh ra; cho mọi tiếng khóc mà cô đã cố giấu đi bằng tiếng cười. Tôi từng nghe người ta khóc ở các đám tang, nhưng có khá nhiều giả tạo trong tiếng khóc đó của họ. Tiếng khóc của Laura trong đêm hôm đó là điều ghê gớm nhất tôi chưa từng nghe được. Nó khiến tôi cảm thấy thế giới thật là một nơi chốn ngu xuẩn và buồn, và tôi gần như sắp rớt nước mắt với Laura.

Cả đường phố đều nghe Laura khóc.

Ngày hôm sau Boyee nói, “Tao không hiểu tại sao Laura lại quá giận dữ về chuyện đó. Cổ cũng có khác gì đâu.”

Hat thật bực tức, nó rút dây thắt lưng da ra và quật Boyee.

Tôi không biết tôi phải tội nghiệp ai, Laura hay con của cô.

Tôi có cảm tưởng như giờ đây Laura cảm thấy tủi nhục nếu phải xuất hiện ngoài đường phố. Khi tôi gặp lại cô tôi không tin cô là người đã từng cười đùa với tôi và đã từng cho tôi những cái bánh đường.

Bây giờ cô đã thành một bà già.

Cô không còn la mắng con cái, không còn đánh đập chúng. Tôi không biết tại vì cô lo lắng chúng đặc biệt hơn hay đã không còn quan tâm đến chúng nữa.

Nhưng chúng tôi không nghe Laura nói một lời trách móc nào đối với Lorna.

Điều nầy thật kinh khủng.

Lorna mang con về nhà. Không có lời bỡn cợt nào về chuyện nầy trên đường phố.

Nhà của Laura là căn nhà chết chóc, im lặng.

Hat nói, “Đời sống thiệt quá sức. Mầy có thể thấy chuyện rắc rối xảy đến mà không thể làm được chút gì để ngăn chận nó lại. Rồi mầy chỉ còn biết ngồi nhìn và chờ đợi.”

°°°°°

Theo tin trên báo, chuyện đó chỉ tạo thêm một bi kịch cuối tuần, là một trong số nhiều bi kịch.

Lorna chết đuối ở Carenage.

Hat nói, “Đó là chuyện thiên hạ hay làm, bơi ra xa, thật xa cho đến khi thật rã rời và không thể bơi được nữa.”

Và khi cảnh sát đến báo tin cho Laura, cô chỉ nói thật ít.

Laura nói, “Tốt. Tốt. Tốt hơn là như vậy.”

.

 

(Nguồn: vnthuquan.net)
.
.

 

Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: