//
you're reading...
góp nhặt cát đá, Về Huế, về Lịch Sử

Cồn Dã Viên trên Sông Hương – Phan Thuận An

 

 

Trong quy hoạch kiến trúc Kinh đô Huế nói chung và hệ thống thành quách cung điện ở đây nói riêng vào đầu thế kỷ XIX, cồn Hến và cồn Dã Viên trên sông Hương đã được hình tượng hóa và siêu nhiên hóa để đóng những vai trò phong thủy quan trọng: Tả thanh long, Hữu bạch hổ (còn gọi là rồng chầu, hổ phục) giữ chức năng bảo vệ vương quyền.

Cả 2 cái cồn này đều đã được cấu tạo bằng phù sa bồi lắng của dòng chảy sông Hương và đều có dạng hình thoi. Cồn Hến dài 1.660m, rộng 237m. Cồn Dã Viên dài 890m, rộng 185m với diện tích 107.970m2, nằm gần bờ nam của con sông.

Không ai biết rõ cồn Dã Viên đã xuất hiện vào thời điểm nào trên mặt nước sông Hương. Chúng tôi chỉ thấy nó được đề cập đến dưới thời các vua chúa nhà Nguyễn.

 

DaVien

Vị trí cồn Dã Viên trên Sông Hương theo bản đồ do người Pháp vẽ.

 

Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), đã có lần chúa đã cho tổ chức một trận đấu giữa voi và cọp ở cồn này. Một chứng nhân phương Tây có mặt tại Thủ phủ Phú Xuân bấy giờ là Pierre Poivre thuật lại rằng vào năm 1750, vị chúa Nguyễn ấy và các quan trong triều đã đi trên 12 chiếc thuyền, đến đậu gần bờ bắc của cồn để xem cho đến khi 40 con voi quật chết 18 con cọp mới thôi.

Đến đầu thế kỷ XIX, những trận tử chiến giữa voi và cọp được vua Gia Long cho tổ chức ở bờ bắc sông Hương trước mặt Kinh thành, rồi vua Minh Mạng cho tổ chức tại đấu trường Hổ Quyền xây dựng năm 1830 ở gần bờ nam của dòng sông.

 

dã viên

Không ảnh cồn Dã Viên chụp từ hướng Thành Nội.

 

Về tên riêng chính thức của cái cồn ấy thì phải đến thời Tự Đức (1848-1883) mới có. Với tâm hồn một nhà thơ, vua Tự Đức đã nhận ra vẻ đẹp lý tưởng của nó trên dòng sông thơ mộng và đã cho biến cái cồn này thành một vườn ngự. Chính nhà vua đã đặt tên cho nó là Dữ Dã Viên (vườn Dữ Dã). Ý nghĩa của địa danh Dữ Dã được gợi hứng từ một câu chuyện trong lịch sử diễn ra trước thời Tự Đức khoảng 2.350 năm được ghi chép trong sách “Luận Ngữ”. Câu chuyện là một cuộc đàm thoại giữa Đức Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) và 4 môn đệ của Ngài về triết lý chính trị của từng người. Đức Khổng Tử hỏi từng người rằng nếu như thiên hạ biết đến tài năng của họ mà mời ra giúp việc nước thì họ sẽ làm gì?

Ba người đầu là Tử Lộ, Nhiễm Hữu và Tây Công Hoa đều trả lời đại khái là sẽ tích cực phục vụ cho dân chúng và triều đình. Riêng môn đệ thứ tư là Điểm (tức là Tăng Bích) thì thưa rằng: “Vào cuối mỗi mùa xuân, khi áo mỏng may xong, tôi cùng với năm sáu người trạc tuổi đôi mươi và sáu bảy đứa trẻ đi tắm ở sông Nghi và đến hóng mát ở đàn Vũ Vu [đều ở nước Lỗ], rồi ca vịnh mà về”. Đức Khổng Tử nói: “Ta khen cái chí của trò Điểm”. Câu này dịch từ nguyên văn “Ngô dữ Điểm dã”, ý nói “thầy” cũng có cùng một sở nguyện như “trò Điểm”.

Vua Tự Đức đã tâm đắc với nhân sinh quan thanh tĩnh vô vi ấy. Khi lập khu vườn ngự nói trên, tuy nhà vua chỉ mới 40 tuổi, nhưng đã thất bại cay đắng về cả việc nước lẫn việc nhà, cho nên muốn tìm đến những nơi yên ắng, gần gũi với thiên nhiên để quên đời và hưởng thú tiêu dao. Do đó, vua Tự Đức đã sử dụng điển tích nói trên và rút gọn 4 chữ “Ngô dữ Điểm dã” còn 2 chữ “dữ dã” và dùng để đặt tên cho khu vườn ngự của mình là “Dữ Dã Viên”.

Tên vua đặt là thế, nhưng từ đó đến nay, dân chúng Huế còn bớt thêm một chữ nữa cho tiện: “Dã Viên”. Chẳng hạn như cồn Dã Viên, cầu Dã Viên, nhà máy nước Dã Viên.

Hiện nay, ở cồn Dã Viên vẫn còn ít nhất là 3 di tích liên quan đến khu vườn ngự ngày xưa.

– Một tấm bia làm bằng đá Thanh cao 70 cm, rộng 40 cm, dày 11 cm, khắc 3 chữ đại tự “Dữ Dã Viên” và lạc khoản cho biết bia được dựng vào tháng 5 năm Tự Đức thứ 21, tức là tháng 7-1868. Bia còn tốt, chữ đọc rõ.

 

DaVien_3

Bia bằng đá Thanh có khắc ba chữ “Dữ Dã Viên,” dựng vào năm 1868, đời vua Tự Đức.

– Một ngôi miếu nhỏ, mặt bằng mỗi bề khoảng 1,7m, nằm cách tấm bia chừng 8m. Đáng để ý nhất là câu đối ở hai bên cửa: “Đài trì điểu thú lạc. Sơn xuyên quỉ thần minh”. Tạm dịch: Đài ao chim muông tụ. Sông núi quỉ thần yên. Có lẽ đây là ngôi miếu thổ thần của khu vườn ngự.

 

DaVien_2

Miếu thờ thổ thần cồn Dã Viên.

– Cái nền khá cao và rộng của một tòa nhà cổ đã bị hư hỏng hoàn toàn. Với mặt bằng hình vuông, mỗi cạnh khỏang 10m và cao chừng 2m, nền đài này mang dạng một hình tháp cụt. Ở mặt bắc và mặt nam, có 2 hệ thống bậc thềm rộng 3,5m để lên xuống. Vào năm 1966, người ta đã xây lên trên nền cũ ấy một cái lô-cốt bằng bê-tông để lính canh gác bảo vệ an ninh cho cầu Dã Viên (xây năm 1908) và nhất là nhà máy nước Dã Viên (xây xong năm 1957). Hiện nay, ở đây còn lại một số viên đá tảng hình khối vuông mà ngày xưa đã được dùng để kê chân cột của tòa nhà và cũng còn khá nhiều viên gạch vồ nằm rải rác đó đây.

Khi đọc bài “Dữ Dã Viên ký” (bài ký về vườn Dữ Dã) do chính vua Tự Đức viết vào khoảng những năm đầu thập niên 1870 sau khi khu vườn ngự xây xong, chúng tôi mới biết được tòa nhà ấy tên là Quan Phong Lâu. Trong bài “ký” dài đến 1.413 chữ ấy, vua Tự Đức đã dành một đoạn để mô tả diện mạo của khu vườn ngự trên cồn Dã Viên. Chính giữa khu vườn là lầu Quan Phong. Hai bên lầu có tả hữu hành lang dẫn xuống bến thuyền ở bờ bắc của cồn, nơi có xây chiếc cầu để nhà vua ngồi câu cá hay để xuống sông Hương để tắm mát, bơi lội. Ơ gần lầu Quan Phong còn lập trường bắn và xạ quán để vua luyện tập võ nghệ. Trong vườn trồng nhiều loại cây cối hoa quả quý báu và mở những con đường ngang dọc để dạo chơi. Trong môi trường cây xanh tạo ra nhiều bóng mát ấy, có chim chóc líu lo suốt ngày.

Trước đây, Léopold Cadière từng viết rằng cồn Dã Viên đã trở thành một nơi nổi tiếng (un lieu célèbre) và tòa nhà lầu nói trên vẫn tồn tại cho đến năm 1900. Có lẽ lầu Quan Phong và các công trình kiến trúc xinh xắn khác trong vườn ngự đã bị sập đổ và hư hỏng nặng trong trận bão năm Thìn (1904). Sau cái chết của vua Tự Đức (chủ nhân của khu vườn ngự) vào năm 1883, triều đình nhà Nguyễn ngày càng trở nên khủng hoảng và sa sút, không có điều kiện để bảo quản và sử dụng khu vườn, cho nên nó xuống cấp dần là điều dễ hiểu. Đến khoảng năm 1925, tất cả diện tích đất đai trên cồn đã bị bỏ mặc cho một số nông dân bên Phường Đúc qua canh tác, rồi làm nhà định cư trong nương rẫy của họ luôn. Hiện nay, có 8 hộ dân đang sinh sống ở đó. Hình ảnh và giá trị của vườn ngự Dã Viên đã bị xóa mờ và đánh mất khi người ta thiết lập tuyến đường sắt Huế-Quảng Trị vào năm 1908 và nhất là khi xây dựng xong tháp lọc nước và nhà máy nước Dã Viên vào năm 1957.

Vào năm 1995, KTS Nguyễn Trọng Huấn đã đề nghị chính quyền tỉnh thành sở tại nên phục hồi cồn Dã Viên trở lại tự nhiên như xưa để khai thác văn hóa – du lịch. Ngày nay, sau khi phát hiện được trên cồn này đã từng có khu vườn ngự dưới triều Nguyễn như vừa trình bày ở trên, chắc hẳn lời đề nghị tốt đẹp ấy có sức thuyết phục hơn.

Vào tháng 3-2006, một dự án mang tên “Khu du lịch Dã Viên” đã được đưa ra “trình làng”, nhưng, cho đến nay, nó vẫn còn ở trong vòng tranh cãi về tầm cỡ và kiểu cách xây dựng các công trình phục vụ du lịch ở đó.

 

(Nguồn: Tủ Sách Nhớ Huế số 42)

 

 

 

Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: