//
you're reading...
Triệu Phong, Truyện Dịch

Một ngày tuyệt diệu cho cá chuối – JD Salinger

LN_100

J.D. Salinger

Triệu Phong dịch từ nguyên tác “A Perfect Day for Bananafish”

*    *    *

“A Perfect Day for Bananafish” là một truyện ngắn của J D Salinger, tác giả tác phẩm nổi tiếng “The Catcher in the Rye,” được đăng lần đầu tiên vào ngày 31 Tháng Giêng 1948 trên tập san The New Yorker. Sau đó xuất hiện trong tuyển tập truyện ngắn “55 Short Stories,” xuất bản năm 1949, rồi “Nine Stories” của Salinger năm 1953.

Mới đầu Salinger nộp bản thảo cho The New Yorker với nhan đề “The Bananafish” vào năm 1947 khi ông mới 28 tuổi, lập tức truyện ngắn này thu hút được sự chú ý của chủ bút William Maxwell và nhân viên ban biên tập, mặc dù bản đầu tiên này còn khó hiểu. Theo yêu cầu của ông Maxwell, Salinger về viết lại phần lớn câu chuyện. Từ đó với sự cố vấn của chủ bút Gus Lobrano, Salinger sửa đi sửa lại suốt cả năm 1947, và đặt lại tựa là “A Fine Day for Bananafish.” Một năm sau, The New Yorker cho đăng bản thảo sau cùng với đề tựa “A Perfect Day for Banafish.” Câu chuyện lập tức được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt. Paul Alexander, nhà văn viết tiểu sử của Salinger nói, đây là “câu chuyện mang lại chỗ đứng cho Salinger vĩnh viễn trong văn đàn.”

“A Perfect Day for Bananafish” là câu chuyện đầu tiên của Salinger, giới thiệu với độc giả một nhân vật của họ nhà Glass, trong loạt các chuyện khác sau này của ông. Cũng như người con trai đầu của họ nhà Glass, Salinger bị ảnh hưởng ấn tượng kinh hoàng của chiến tranh khi ông khoác áo chiến binh Thế Chiến Thứ Hai. Ông bị chấn thương tinh thần trong trận chiến Bulge, ở Bỉ và hình ảnh của các trại tập trung của Đức Quốc Xã. Kenneth Slawenski thuật lại, Salinger trong tác phẩm “Seymour – An Introduction” (1959), từng thú nhận rằng người đàn ông trẻ tuổi trong “Bananafish” “hoàn toàn không phải là Seymour mà … chính là tôi.”

Seymour, trong câu chuyện, hồi hương sau thế chiến và nhận thấy mình không thể hòa nhập trở lại với xã hội. Hình xâm trên ngực anh ám chỉ những vết thương không bao giờ lành lặn trong tâm trí. Cá chuối mang hình ảnh người chiến binh, mà khi nó vào hang tức là khi người lính xông trận, và ăn quá nhiều chuối đồng nghĩa với sự tàn sát quá nhiều người, rồi lên cơn sốt chuối để không còn có thể thoát ra được. Khi Seymour nói hôm nay là “ngày tuyệt diệu cho cá chuối,” anh muốn ám chỉ hôm nay là ngày tuyệt diệu để kết liễu cuộc đời.

*    *    *

Poster một phim Pháp đóng theo cuốn truyện.

Có cả thảy chín mươi bảy nhân viên quảng cáo của thành phố New York trong khách sạn, và, cái cách mà họ dành độc quyền đường dây gọi viễn liên, khiến cô gái ở phòng số 507 phải chờ từ giữa trưa đến hai giờ ba mươi mới đến lượt mình. Dù sao thì nàng cũng phải tìm cách làm gì đó để giết thì giờ. Nàng đọc một bài đăng trong tờ tạp chí phụ nữ loại bỏ túi có tên “Tình Dục Là Vui Thú – hay là Nỗi Kinh Hoàng.” Nàng rửa sạch lược và bàn chải. Nàng tẩy một vết dơ dính trên chiếc váy của bộ đồ màu be. Nàng kết hột nút trên chiếc áo khoác hiệu Saks. Nàng nhổ hai sợi lông mới mọc trên nốt ruồi. Sau cùng khi tổng đài viên gọi đến và chuông đổ trong phòng, nàng đang ngồi trên chiếc ghế cạnh cửa sổ và cũng vừa sắp sơn xong mấy móng tay của bàn tay trái.

Nàng thuộc típ phụ nữ mà điện thoại reo chẳng có nghĩa gì. Nàng nhìn nó như thể cái điện thoại đã từng reo liên tục từ khi nàng mới đến tuổi dậy thì.

Với cây cọ nhỏ sơn móng tay, trong khi điện thoại reo, nàng quét lên móng của ngón út, làm nổi lên đường vành trăng. Rồi nàng đậy nắp chai nước sơn lại và, đứng dậy, vẩy bàn tay trái đang còn ướt tới lui trong không khí. Với bàn tay đã đủ khô, nàng nhặt cái gạt tàn thuốc lá đầy từ chỗ ngồi bên cạnh cửa số và mang nó theo đến cạnh bên chiếc bàn ngủ, trên đó có đặt cái điện thoại. Nàng ngồi xuống một trong hai chiếc giường đôi xếp đặt gọn gàng và, ở tiếng chuông reo thứ năm hoặc thứ sáu, nàng nhặt điện thoại lên.

“Hello,” nàng nói, vẫn giữ mấy ngón tay trái duỗi ra và tránh xa chiếc áo dài lụa trắng, thứ duy nhất nàng đang mặc; ngoại trừ đôi dép đế mỏng, mấy chiếc nhẫn đều còn nằm trong phòng tắm.

“Thưa bà Glass, đường dây nối với New York đã sẵn sàng,” tổng đài viên nói.

“Dạ cám ơn,” cô gái đáp, tay vừa dọn chỗ trên bàn ngủ để có thể đặt cái gạt tàn thuốc.

Giọng của một người đàn bà nói chen vào. “Muriel đó hả? Phải con đó không?”

Cô gái quay đầu ống nghe hơi ra xa khỏi tai. “Phải con đây mẹ. Mẹ khỏe không?” Nàng nói.

“Mẹ lo cho con muốn chết. Tại sao con không gọi cho mẹ? Con bình yên chứ?”

“Con cố gọi cho mẹ tối qua và cả đêm trước nữa. Điện thoại ở đây bị.. ”

“Con không sao chứ Muriel?”

Cô gái quay đầu ống nghe ở bên tai xa thêm một chút. “Tốt đẹp cả. Con đang thấy nóng. Đây là ngày nóng nhất ở Florida trong.. ”

“Sao con không gọi cho mẹ? Mẹ lo cho con muốn.. ”

“Mẹ yêu dấu, đừng có nói lớn tiếng. Con nghe mẹ rõ lắm,” cô gái nói. “Tối qua con gọi mẹ hai lần. Một lần ngay sau khi.. ”

“Mẹ có nói với cha chắc thế nào con cũng sẽ gọi tối qua. Nhưng không, cha con phải.. Con vô sự cả chứ Muriel? Nói thật với mẹ đi.”

“Con hoàn toàn vô sự. Đừng hỏi con như vậy nữa được không mẹ.”

“Con đến nơi khi nào?”

“Con không rõ. Sáng sớm Thứ Tư thì phải.”

“Ai lái xe?”

“Anh ấy chứ ai,” cô gái đáp. “Và chớ có khích động lên như thế. Anh ấy lái đàng hoàng lắm. Thật con cũng không ngờ.”

Hắn mà lái xe hả? Muriel, con có hứa với mẹ rằng.. ”

“Mẹ à,” cô gái cắt lời, “Con vừa nói với mẹ rồi. Anh ấy lái rất đàng hoàng. Tốc độ dưới năm mươi suốt cả chặng đường.”

“Hắn có làm trò với mấy cái cây không?”

“Con đã nói là anh ấy lái xe rất đàng hoàng mà mẹ. Bây giờ làm ơn nghe con đây. Con có yêu cầu anh ấy phải chạy gần vạch trắng, và ảnh hiểu ý con, và ảnh làm theo y như lời. Ảnh còn không thèm nhìn đến mấy thân cây nữa là. Cha đã sửa xe xong chưa?”

“Chưa. Họ đòi đến bốn trăm đô, chỉ mới.. ”

“Mẹ, anh Seymour có nói với cha rằng anh sẽ lo phần ấy. Vậy thì không có lý do gì mà.. ”

“Được rồi để xem. Hắn cư xử như thế nào – trong xe và mọi nơi?”

“Tốt,” cô gái đáp.

“Hắn có còn gọi con cái thứ.. kinh khủng.. ”

“Không. Bây giờ anh ấy có thêm chuyện mới khác nữa.”

“Chuyện gì?”

“Ồ, có gì khác nhau đâu mẹ?”

“Muriel, mẹ muốn biết. Cha con.. ”

“Được rồi, được rồi. Ảnh gọi con là Hoa Hậu Lông Bông Tinh Thần của năm 1948,” cô gái vừa nói vừa cười khúc khích.

“Chuyện không có gì đáng cười Muriel à. Không có gì đáng cười cả. Thật kinh khủng. Thật là buồn, quả đúng như vậy. Khi mẹ nghĩ làm thế nào.. ”

“Mẹ,” cô gái cắt ngang, “nghe con nói đây. Mẹ có nhớ cuốn sách ảnh gửi cho con từ bên Đức không? Về thơ Đức đó mà. Con không nhớ để nó đâu nữa, con đã lục tìm.. ”

“Con cất nó chứ đâu.”

“Có thật không đó?” cô gái hỏi.

“Dĩ nhiên là mẹ đang giữ nó đây. Nó ở trong phòng thằng Freddy. Con để nó bên này nhưng mẹ không có chỗ để đặt trong.. Nhưng tại sao? Bộ hắn cần đến hả?”

“Không. Đó chỉ là ảnh hỏi con khi đang chạy xe trên đường. Ảnh muốn biết con đã đọc chưa.”

“Cuốn sách viết bằng tiếng Đức mà!”

“Đúng thế mẹ yêu quí. Nhưng có gì khác nhau đâu,” cô gái nói, hai chân xếp chéo nhau lại. “Ảnh nói mấy bài thơ được viết bởi một nhà thơ vĩ đại nhất thế kỷ. Ảnh nói con cần mua thứ gì đó để dịch. Hoặc học thứ tiếng đó, nếu mẹ bằng lòng.”

“Kinh khủng. Kinh khủng. Thật là buồn, quả đúng như vậy. Tối qua cha con nói.. ”

“Mẹ chờ con một chút,” cô gái nói. Nàng bước sang phía chỗ ngồi bên cửa sổ, lấy bao thuốc rồi châm một điếu, và trở về chỗ ngồi trên giường. “Mẹ còn đó không?” nàng nói trong khi thở ra làn khói.

LN_104

“Muriel, nào nghe mẹ nói đây.”

“Con đang nghe.”

“Cha con có nói chuyện với bác sĩ Sivetski.”

“Ồ thế sao?” cô gái nói.

“Cha con kể cho ổng nghe tất cả. Ít nhất, cha con nói là cha con đã làm thế.. con biết cha con rồi mà. Chuyện mấy cái cây. Chuyện về cái cửa sổ. Những điều kinh khủng mà hắn từng nói với bà nội về kế hoạch của bà khi lìa đời. Điều hắn đã làm với những hình ảnh yêu kiều đó từ Bermuda.. cha con kể hết tất cả.”

“Vậy thì đã sao?” cô gái nói.

“Được rồi. Trước hết bác sĩ nói, việc Lục Quân cho phép hắn được xuất viện là một tội hình sự – mẹ nói danh dự đó. Bác sĩ nói rất quả quyết với cha là có một cơ may – một cơ may lớn, ổng nói – rằng Seymour có thể hoàn toàn mất tự chủ. Mẹ nói danh dự đó.”

“Ở trong khách sạn này có một ông bác sĩ chuyên về tâm thần,” cô gái nói.

Ai? Ông ta tên gì?”

“Con không biết. Rieser hay gì gì đó. Ông có vẻ giỏi lắm.”

“Mẹ chưa hề nghe đến ông ấy.”

“Được rồi, nhưng đằng nào thì hình như ổng rất giỏi.”

“Muriel, chớ có khinh suất nữa được không. Cha mẹ rất lo lắng cho con. Tối qua cha con muốn đánh điện gọi con về ngay.”

“Con không muốn quay trở về ngay bây giờ. Mẹ cứ yên tâm đi.”

“Muriel. Mẹ nói danh dự. Bác sĩ Sivetski nói Seymour có thể bị hoàn toàn mất tự ch.. ”

“Con vừa mới đến đây mẹ à. Từ suốt nhiều năm nay, đây là chuyến đi nghỉ hè đầu tiên của con, con không thể khăn gói tất cả để trở về,” cô gái nói. “Hơn nữa bây giờ con không di chuyển nổi nữa. Con bỏng nắng đến nỗi không nhúc nhích được.”

“Con bị bỏng nắng nặng đến thế cơ à? Con có dùng đến lọ Bronze mẹ để trong hành lý đó không? Mẹ để ngay ở.. ”

“Con có dùng đến nhưng vẫn cứ bị bỏng.”

“Kinh khủng thật. Con bị bỏng ở chỗ nào?”

“Khắp nơi mẹ yêu dấu à, khắp mọi nơi.”

“Kinh khủng thật.”

“Con sẽ vẫn sống cho mà xem.”

“Nói cho mẹ nghe, con có nói chuyện với ông bác sĩ tâm thần chưa?”

“Dạ có,” cô gái đáp.

“Ông ấy nói gì? Khi con nói chuyện với ổng thì thằng Seymour ở đâu?”

“Ảnh chơi piano ngoài phòng Ocean Room. Ảnh chơi piano suốt hai đêm chúng con ở đây.”

“Vậy thì ông bác sĩ nói gì?”

“Ồ, chẳng có chi nhiều. Ổng bắt chuyện với con trước. Con đang ngồi gần bên ông ở chỗ chơi Bingo tối qua, và ổng hỏi con, có phải chồng con đang chơi piano ở phòng kế không. Con trả lời vâng, và ổng hỏi có phải anh Seymour đang bệnh gì đó không. Bởi thế con nói.. ”

“Vì sao ông ta lại hỏi như vậy?”

“Con không biết nữa mẹ à. Con đoán chắc ảnh trông có vẻ xanh thế thôi,” cô gái đáp. “Sau khi chơi Bingo xong, ổng và vợ ổng mời con cùng họ uống thứ gì đó. Con nhận lời. Bà vợ ổng thật kinh khủng. Mẹ có nhớ chiếc áo dạ tiệc chúng ta thấy bày trong cửa sổ tiệm Bonwit chứ? Chiếc áo mà mẹ nói mẹ muốn có một chút.. ”

“Màu lục phải không?”

“Bà ta mặc chiếc áo ấy. Bà cứ luôn miệng hỏi con, rằng anh Seymour có dây mơ rễ má gì với Suzanne Glass, người làm chủ tiệm trang phục phụ nữ nằm trên đường Madison không.”

“Vậy chứ ông bác sĩ đã nói gì với con?”

“Ồ. Chẳng có chi nhiều, thật đó mẹ. Bữa đó chúng con ngồi trong bar rượu, chung quanh hết sức ồn ào.”

“Ừ, nhưng mà – nhưng con có kể cho ổng nghe chuyện hắn đã làm gì với chiếc ghế của bà nội không?”

Không mẹ à. Con không đi sâu vào chi tiết nhiều,” cô gái đáp. “Chắc con cũng sẽ có dịp nói chuyện với ổng lần khác. Ổng ngồi trong bar rượu suốt cả ngày.”

“Ổng có nói ổng nghĩ hắn có cơ nguy làm điều.. nực cười hay đại loại như thế không? Gây điều gì đó cho con!”

“Không hẳn vậy,” cô gái nói. “Ổng cần phải có thêm dữ kiện cụ thể mẹ à. Người ta cần biết về thuở thơ ấu.. đại loại là thế. Con nói với mẹ rồi, chúng con không nói được gì nhiều vì trong đó ồn lắm.”

“Ờ. Các áo khoác xanh ra thế nào rồi?”

“Tốt. Con đã mướn người ta lấy hết mấy đồ lót ra.”

“Áo quần năm nay như thế nào?”

“Kinh khủng.”

“Phòng ốc con ở ra sao?”

“Tốt. Tốt thôi. Tụi con không lấy được căn phòng hồi trước chiến tranh,” cô gái đáp. “Mẹ nên thấy những gì cạnh bên tụi con trong phòng ăn. Ở bàn kế bên. Trông họ như ngồi trong xe tải.”

“Ừ, ở đâu cũng như vậy cả. Bộ đồ vũ ba lê của con như thế nào?”

“Nó quá dài đối với con. Con đã nói với mẹ là nó quá dài.”

“Muriel, mẹ chỉ hỏi con thêm lần nữa.. thật sự mọi sự đều tốt đẹp cả chứ?”

“Hết thảy đều tốt cả mẹ ạ,” cô gái đáp. “Con đã nói lần này là lần thứ mười chín.”

“Vậy là con chưa muốn về phải không?”

“Dạ không mẹ à.”

“Tối qua cha con nói ổng sẵn sàng trả tiền nếu con chịu đi chơi đâu đó một mình và suy nghĩ lại tất cả. Con nên đi một chuyến du thuyền. Cả mẹ và cha đều nghĩ.. ”

“Không, con cám ơn,” cô gái nói, mở hai cẳng chân bắt chéo ra. “Mẹ ạ, nói điện thoại như thế này tốn nhiều.. ”

“Khi mẹ hồi tưởng đến thời gian con phải chờ đợi cho cậu thanh niên đó qua hết cuộc chiến.. Ý mẹ muốn nói khi con nghĩ đến những người vợ trẻ điên rồ ấy phải.. ”

“Mẹ,” cô gái nói, “mình nên cúp máy đi mẹ. Anh Seymour có thể trở lại bất cứ lúc nào.”

“Hắn đi đâu rồi?”

“Ở ngoài bãi biển.”

“Ngoài bãi biển à? Một mình hắn thôi sao? Hắn có giữ ý giữ tứ ngoài đó không?”

“Mẹ ạ,” cô gái nói, “mẹ làm như ảnh là một tên điên khùng.. ”

“Mẹ không có ý nói như vậy, Muriel.”

“Có, cách nói của mẹ có ý là thế. Con muốn nói anh ấy ra nằm dài ngoài đó. Cái áo tắm choàng ngoài, ảnh vẫn mặc trên người.”

“Hắn không cởi áo ấy ra à? Vì sao vậy?”

“Con không biết. Con đoán vì ảnh trông xanh quá.”

“Trời đất thiên địa, hắn cần phải phơi nắng. Con không khuyên hắn sao?”

“Mẹ biết rõ anh Seymour rồi mà,” cô gái đáp, bắt chéo hai cẳng chân trở lại. “Ảnh nói ảnh không muốn để cho mấy lũ khùng nhìn vào mấy vết xâm của ảnh.”

“Hắn làm gì có xâm xiết gì! Không lẽ hắn xâm khi ở trong quân đội sao?”

“Không phải vậy đâu mẹ yêu quí,” cô gái nói, và đứng bật dậy. “Nghe con nè. Có thể mai con sẽ gọi lại mẹ.”

“Muriel. Bây giờ nghe mẹ nói đây.”

“Vâng mẹ,” cô gái nói, nàng đứng, dồn sức nặng về phía chân phải.

“Gọi mẹ ngay khi nào hắn có hành động hay lời nói nào nực cười.. con hiểu ý mẹ chứ. Con nghe mẹ nói không?”

“Mẹ, con nào có sợ chi Seymour đâu?”

“Muriel, mẹ muốn con hứa với mẹ.”

“Được rồi, con xin hứa. Tạm biệt mẹ,” cô gái nói. “Gửi lời trìu mến của con đến cha.” Đoạn nàng gát máy xuống.

*    *    *

“Mẹ có thấy thêm thủy tinh nào không,” Sybil Carpenter ở cùng khách sạn với bà mẹ, nói. “Mẹ có thấy thêm thủy tinh không mẹ?”

“Mèo cưng, thôi đừng nói thế nữa. Nó làm cho mẹ muốn điên lên luôn. Ngồi yên cho mẹ xem nào.”

Bà Carpenter đang bỏ dầu chống nắng lên vai con bé Sybil, rồi bôi xuống rộng khắp bả vai mềm mại của nó. Sybil đang ngồi không vững trên cái banh bự bơm đầy hơi, quay về phía biển. Nó đang mặc bộ đồ tắm hai mảnh màu vàng yến, mà một trong hai mảnh thật sự phải chín hay mười năm nữa nó mới cần đến.

“Chẳng qua đó chỉ là một cái khăn tay lụa bình thường – nhìn kỹ là thấy ngay,” người đàn bà ngồi trên chiếc ghế dùng để ngồi ngoài biển, cạnh bà Carpenter, nói. “Ước chi tôi biết được con bé cột dây như thế nào. Trông dễ thương thật đó.”

“Có vẻ dễ thương thật,” Bà Carpenter tán đồng. “Sybil, ngồi yên nào, con mèo cưng.”

“Mẹ có thấy thêm thủy tinh không?” Sybil hỏi.

Bà Carpenter thở dài. “Xong rồi,” bà nói, tay đóng cái nắp vào lọ dầu chống nắng. “Bây giờ chạy chơi đi, con mèo cưng. Mẹ quay trở lên khách sạn uống Martini với bà Hubbel. Mẹ sẽ mang olive xuống cho con.”

Được tự do, Sybil lập tức cắm đầu chạy xuống chỗ phẳng phiu của bãi biển, rồi bắt đầu đi bộ về hướng nhà hàng Fisherman’s Pavilion. Nó chỉ dừng lại để đặt bàn chân vào một lâu đài bằng cát đã đổ sụm. Không mấy chốc Sybil đã đi ra khỏi khu vực dành riêng cho khách của khách sạn.

Nó đi chừng một phần tư dặm rồi chợt chạy xéo về chỗ cát mềm của bãi biển. Nó dừng lại khi đến nơi có một người đàn ông đang nằm ngửa mặt lên trời.

“Anh có xuống nước để xem coi có thêm thủy tinh nữa không?” nó hỏi.

Người đàn ông luồn tay vào ve áo tắm khoác ngoài, rồi lật mình nằm sấp xuống, khiến chiếc khăn lông tuột khỏi mắt, và nheo mắt nhìn lên Sybil.

“Ê, chào Sybil.”

“Anh có xuống nước không vậy?”

“Anh đang chờ bé đây,” người đàn ông trẻ nói. “Có tin gì mới không?”

“Cái gì cơ?” Sybil hỏi lại.

“Có gì mới không? Chương trình như thế nào?”

“Cha ngày mai sẽ đến bằng máy bay,” Sybil nói, chân đá vào cát.

“Đừng đá vào mặt anh, bé con,” người đàn ông nói, đưa tay nắm lấy mắt cá chân của Sybil. “Ừ, đã đến lúc ông ấy phải đến đây. Anh trông ổng từng giờ, từng giờ.”

“Cô ấy đâu rồi vậy?” Sybil hỏi.

“Cô ấy?” Người đàn ông trẻ phủi cát dính trên mái tóc thưa. “Khó trả lời lắm Sybil à. Cổ có thể đang ở cả ngàn nơi nào đó. Tiệm tóc chẳng hạn, để nhuộm tóc. Hoặc đang ở trong phòng làm búp bê cho trẻ em nghèo.” Đang nằm sấp, gã nắm hai bàn tay lại và đặt chồng lên nhau, rồi kê cằm lên nắm tay phía trên. “Hỏi cái gì khác đi Sybil,” gã nói. “Bộ áo tắm bé đang mặc đẹp lắm. Nếu hỏi thích gì thì anh sẽ nói anh thích bộ màu xanh.”

Sybil nhìn chằm vào gã, rồi nhìn xuống cái bụng nhô lên của nó. “Bộ này màu vàng,” nó nói. “Bộ này màu vàng.”

“Vậy sao? Đến gần tí nữa xem nào?”

Sybil bước tới thêm một bước.

“Bé nói đúng hoàn toàn. Anh thật ngây ngô làm sao.”

“Anh có đi xuống nước không vậy?” Sybil hỏi.

“Anh đang nghĩ đến điều đó. Anh đang suy nghĩ rất nhiều về điều đó Sybil ạ, bé sẽ mừng khi biết anh đang nghĩ thế nào.”

Sybil thúc vào cái phao cao su người đàn ông trẻ dùng làm gối. “Cần phải bơm thêm cho nó,” Sybil nói.

“Bé nói đúng. Nó cần được bơm thêm hơn anh nghĩ đây.” Gã rút hai nắm tay ra và kê cằm xuống cát. “Sybil,” gã nói, “bé trông được đó. Gặp bé thật là vui. Kể chuyện về bé cho anh nghe đi nào.” Gã vói ra trước và nắm vào mắt cả của hai chân Sybil. “Anh tuổi capricorn,” gã nói. “Còn bé tuổi gì?”

“Con Sharon Lipschutz nói, anh để cho nó ngồi chung trên ghế piano với anh,” Sybil nói.

“Sharon Lipschutz nói vậy sao?”

Sybil hăng hái gật đầu.

Gã buông hai mắt cá chân của Sybil, rút tay lại, nghiêng mặt kê lên cánh tay phải và nói: “Chuyện xảy ra thế nào biết không Sybil. Anh đang ngồi đó, chơi đàn. Còn bé thì không thấy ở đó. Con nhỏ Sharon Lipschutz tiến lại ngồi xuống cạnh bên anh. Làm sao anh xô nó đi chỗ khác được, phải vậy không?”

“Vẫn được.”

“Ồ, không. Không, anh không làm thế được,” người đàn ông trẻ nói. “Thôi thì anh sẽ nói cho bé nghe anh đã làm gì.”

“Làm gì?”

“Anh cứ tảng lờ coi như nó chính là bé.”

Sybil lập tức cúi xuống, bới tay vào cát. “Chúng ta cùng xuống nước đi,” nó nói.

“Được rồi,” người đàn ông trẻ nói.

“Lần sau nhớ xô nó ra,” Sybil nói.

“Xô ai nhỉ?”

“Sharon Lipschutz.”

“À, Sharon Lipschutz,” người đàn ông trẻ nói. Gã chợt đứng dậy, nhìn ra biển. “Sybil,” gã nói, “anh sẽ cho bé biết chúng ta sẽ làm gì. Để xem chúng ta có bắt được một con cá chuối không.”

“Một con cá gì?”

“Một con cá chuối,” gã đáp, tay tháo dây lưng của chiếc áo choàng, rồi cởi ra. Vai gã trắng và hẹp, gã mặc chiếc quần tắm màu xanh dương. Gã xếp áo lại theo chiều dài trước, rồi gập làm ba đoạn. Gã mở tung chiếc khăn lông mà gã dùng để che lên mắt, đem trải lên cát, rồi đặt chiếc áo choàng xếp gọn lên trên. Gã cúi xuống, nhặt lấy cái phao, ghì chặt vào cánh tay, tay trái cầm lấy tay Sybil. Cả hai cùng bước xuống nước.

“Anh nghĩ cả đời bé cũng chưa được thấy cá chuối bao giờ,” người đàn ông trẻ nói.

Sybil lắc đầu.

“Chưa à? Vậy chứ bé ở đâu?”

“Không biết,” Sybil đáp.

“Chắc chắn là bé có biết. Bé phải biết. Sharon Lipschutz còn biết nó ở đâu nữa là, mà thì chỉ mới ba tuổi rưỡi.”

Sybil đứng dừng lại, giật tay khỏi tay gã. Nó lượm một vỏ sò, nhìn một cách thích thú, rồi ném xuống. “Whirly Wood, Connecticut,” nó nói, và bắt đầu bước, bụng ưỡn ra trước.

“Whirly Wood, Connecticut,” người đàn ông trẻ nói. “Ở đó có gần Whirly Wood, Connecticut chút nào không?”

Sybil nhìn gã. “Bé ở ngay đó,” nó nóng nảy đáp. “Bé ở Whirly Wood, Connecticut.” Nó chạy lên trước gã vài bước, chộp tay trái vào bàn chân trái, rồi nhảy cò hai, ba lần.

Sybil buông tay khỏi bàn chân. “Anh có đọc cuốn ‘Little Black Sambo’ chưa?” nó hỏi.

“Bé hỏi như vậy nghe thật tức cười,” gã nói. “Tình cờ anh mới đọc xong tối qua.” Gã vói tay xuống cầm lại tay Sybil. “Bé nghĩ gì về câu chuyện?” gã hỏi nó.

“Mấy con cọp có chạy quanh gốc cây không?”

“Anh nghĩ là chúng không bao giờ ngừng lại đâu. Chưa bao giờ anh thấy cọp lại nhiều như thế.”

“Chỉ sáu con thôi mà,” Sybil nói.

“Chỉ sáu con thôi!” người đàn ông trẻ nói. “Vậy mà bé gọi là chỉ thôi à?”

“Anh thích sáp không?” Sybil hỏi.

“Thích cái gì?” người đàn ông trẻ hỏi lại.

“Sáp.”

“Thích lắm chứ. Bé thì sao?”

“Sybil gật đầu. “Anh thích olive không?” nó hỏi.

“Olive à – có chứ. Olive và sáp. Anh chưa bao giờ đi đâu mà không mang theo cả hai.”

“Anh có thích con Sharon Lipschutz không?” Sybil hỏi.

“Có, có chứ,” người đàn ông trẻ đáp. “Điều anh đặc biệt thích về nó là nó không bao giờ tỏ ra ác với mấy con chó con trong khách sạn. Ví dụ con chó bull nhỏ như đồ chơi của cái bà từ Canada. Bé không tin chứ có mấy con bé thích cầm gậy làm bằng bong bóng gõ lên đầu con chó con. Sharon thì không làm vậy. Nó chưa bao giờ tỏ ra ác độc hoặc không tử tế cả. Đó là lý do tại sao anh rất mến nó.”

Sybil lặng thinh.

“Bé thích nhai đèn cầy,” cuối cùng nó nói.

“Ai lại không thích?” người đàn ông trẻ nói, nhúng chân cho ướt. “Ui chà! lạnh buốt.” Gã buông cái phao xuống lưng. “Không, đợi chút nào, Sybil. Đợi ra thêm một chút nữa đã.”

Cả hai tiến ra đến khi nước ngập đến hông của Sybil, rồi gã mới bế Sybil lên đặt nó nằm sấp lên phao.

“Có bao giờ bé mang nón trùm tóc hay đồ gì tựa như thế không?” gã hỏi.

“Chớ rời tay,” Sybil nói ra lệnh. “Bây giờ thì nhớ phải giữ chặt lấy bé đó.”

“Thưa cô Carpenter. Tôi biết việc của tôi,” người đàn ông trẻ nói. “Việc của cô là mở to mắt xem có thấy con cá chuối nào không. Đây là một ngày tuyệt diệu cho cá chuối.”

“Bé không thấy con nào cả,” Sybil nói.

“Điều đó dễ hiểu thôi. Chúng có thói quen rất đặc biệt. Rất đặc biệt.” Vừa nói gã vừa tiếp tục đẩy cái phao. Nước chưa cao đến ngực gã. “Chúng tự đưa đến một cuộc đời thê thảm,” gã nói. “Biết chúng làm gì không Sybil?”

Nó lắc đầu.

“Ờ, chúng bơi vào trong một cái lỗ nơi có thật nhiều chuối. Khi mới bơi vào thì chúng trông như con cá rất bình thường. Nhưng khi lọt vào bên trong, chúng trở nên như heo. Tại sao ư, theo anh biết thì một số cá chuối bơi vào trong một lỗ chuối và ăn đến bảy mươi tám trái chuối.” Gã nhích cái phao tí chút về hướng chân trời. “Lẽ tự nhiên là sau khi chúng no phình ra, chúng không ra khỏi lỗ được nữa. Không thể ra lọt cửa.”

“Đừng ra xa quá,” Sybil nói, “Rồi chuyện gì xảy ra cho chúng?”

“Cái gì xảy ra cho ai?”

“Cá chuối.”

“Ồ, bé muốn nói sau khi chúng ăn quá nhiều chuối rồi không ra khỏi lỗ chuối được chứ gì?”

“Phải,” Sybil trả lời.

“Chà, chuyện này anh ghét phải nói cho bé nghe, Sybil à. Chúng chết cả.”

“Vì sao?” Sybil hỏi.

“Có gì đâu, chúng bị lên cơn sốt chuối. Thật là một chứng bệnh kinh khủng.”

“Có sóng đang đổ tới kìa,” Sybil nói giọng lo lắng.

“Đừng có quan tâm. Chúng ta sẽ cỡi lên luôn,” người đàn ông trẻ nói. “Hai lần cỡi.” Gã nắm vào hai mắt cá chân Sybil, ấn xuống và đẩy tới trước. Cái phao ngẩng mũi lên trên ngọn sóng. Nước làm ướt mái tóc vàng của Sybil, nhưng tiếng thét của nó pha đầy sự thích thú.

Khi cái phao đã trở lại vị trí bằng trên mặt nước, Sybil lấy tay vẹt mớ tóc ướt trước mắt và nói, “Bé mới thấy một con.”

“Thấy con gì, hả bé cưng?”

“Một con cá chuối.”

“Ồ không, trời ơi!” người đàn ông trẻ nói. “Miệng nó có ngậm trái chuối nào không?”

“Có,” Sybil đáp. “Sáu trái.”

Người đàn ông trẻ bỗng nâng một bàn chân ướt của Sybil đang thòng ra ở cuối phao lên, và hôn vào chỗ lõm bàn chân.

“Ê!” chủ nhân cái bàn chân vừa kêu lên vừa xoay người lại.

“Nào! Chúng ta đi vào. Bé chơi chừng ấy đủ rồi chứ?”

“Không!”

“Rất tiếc,” gã nói, tay đẩy phao về hướng bờ cho đến khi Sybil có thể nhảy xuống. Gã kẹp phao đi tiếp lên cạn.

“Tạm biệt,” Sybil nói và chạy không chút tiếc nuối về hướng khách sạn.

*    *    *

Người đàn ông trẻ choàng chiếc áo tắm khoác ngoài vào, gập chặt ve áo lại, rồi nhét cái khăn lông vào trong túi. Gã nhặt cái phao ướt, cồng kềnh, lên và kẹp vào nách. Gã một mình bước trên cát nóng, mềm, hướng về phía khách sạn.

Tại tầng ngầm phía dưới tầng chính của khách sạn, nơi ban quản lý yêu cầu người đi bơi khi trở lên phải vào lối đó, một phụ nữ trên mũi có bôi lớp sáp bước vào thang máy cùng với người đàn ông trẻ.

“Tôi để ý thấy bà nhìn vào bàn chân tôi,” gã nói với người phụ nữ khi thang máy đang chạy.

“Xin lỗi ông nói gì?” người phụ nữ hỏi lại.

“Tôi nói là tôi để ý thấy bà nhìn vào bàn chân tôi.”

“Xin lỗi ông. Tôi nhìn xuống sàn mà vô tình nhìn thấy bàn chân ông đó thôi,” người phụ nữ nói, mắt nhìn về cửa thang máy.

“Nếu bà muốn nhìn chân tôi thì cứ nói ra,” người đàn ông trẻ nói. “Nhưng tuyệt đối đừng có nhìn lén.”

“Làm ơn cho tôi ra khỏi đây ngay đi,” người đàn bà nói nhanh với cô gái điều khiển thang máy.

Cửa mở, người phụ nữ bước ra, không hề ngoái lại.

“Tôi có hai bàn chân bình thường nhưng tôi đếch thấy một lý do gì mà người ta lại ưa chòng mắt vào chúng,” người đàn ông trẻ nói. “Làm ơn bấm cho tôi lên tầng năm.” Gã lấy chìa khóa phòng ra khỏi túi áo choàng.

Gã bước ra khỏi thang máy ở tầng năm, đi xuống hành lang, và bước vào phòng số 507. Căn phòng thơm mùi hành lý làm bằng da dê và mùi thuốc tẩy sơn móng tay.

Gã liếc nhìn về phía cô gái đang nằm ngủ trên một trong hai chiếc giường đôi. Rồi gã đến chỗ một chiếc hành lý, mở ra, dưới đống quần cụt lẫn với áo lót, gã lôi ra một khẩu Ortgies nòng 7.65 tự động. Gã lấy băng đạn ra, nhìn kỹ, rồi nhét lại vào súng. Gã lên cò. Kế đó bước lại chiếc giường trống, nhìn sang phía cô gái, nhắm khẩu súng, bắn một viên xuyên qua thái dương gã.

Advertisements

Thảo luận

3 thoughts on “Một ngày tuyệt diệu cho cá chuối – JD Salinger

  1. From:NguyenMinhNguyet
    Oct.11, 2015

    Ở bất cứ thời đại nào thì chiến tranh luôn tàn khốc và đáng ghét , những hậu họa của chiến tranh còn hằn ghi dấu ấn buồn thảm trong tâm hồn của những cựu chiến binh được sống sót trở về sau cuộc chiến từ thời xưa cũng như bây giờ( thỉnh thoảng chúng ta vẫn nghe được những tin tức buồn bả này ở khắp mọi nơi ).
    Cám ơn Lộc đã dịch một truyện ngắn hay và nổi tiếng nói về thảm trạng của một cựu chiến binh thời đệ nhị thế chiến.
    Lộc có nhắc đến một phim Pháp phỏng theo truyện ngắn này , Ng đã kiếm ra để coi , Ng gửi theo đây để các bạn nếu thích thì vào xem.Ng nghĩ đây chỉ là một phim rất ngắn( chưa tới 15 phút ) nên không diễn đạt được hết nét chính của truyện.
    MN.
    ** Film ” Un jour rêvé pour le poisson banane ”

    Số lượt thích

    Posted by NguyenMinhNguyet | Tháng Mười 11, 2015, 3:26 chiều
  2. From: Tống Mai
    Oct 13, 2015

    Đây là một truyện ngắn nỗi tiếng của nhà văn ẩn dật JD Salinger, thường xuất hiện trên danh sách của những truyện ngắn được đọc nhiều nhất. Lộc chọn đúng truyện này để dịch rất hay. Cam on Lộc.

    Một trong những tác phẩm bí ẩn tối tăm để lại những câu hỏi không có câu trả lời trong đầu người đọc. Dù những tác phẩm của ông không phải là “cup of tea” cho mình, nhưng đọc ông lúc nào Mai cũng bị chấn động xáo tung tâm trạng theo đời sống nội tâm phức tạp của những nhân vật. Đọc ông xong thì niềm tin vào sự tốt lành của con người thường bị lung lay.

    Bananafish là câu truyện của một người đàn ông bị khủng hoảng sau khi trờ về từ chiến trường WWII. Những hành động bất thường của ông đối với đứa bé gái, với người chung quanh là kết quả của những khốn khổ bị đè nén đến vỡ tan thành bi kịch. Bananafish, những con cá ăn chuối nhiều quá cho đến khi không hấp thụ thêm chuối được nữa thì nổ tung. Con người khi bị khốn khổ chồng chất thì có lúc cũng nổ tung như hành động cua Seymour trong đọan kết.

    Salinger có lối viết tài tình, chỉ một câu cuối để đột ngột chấm dứt câu truyện đã ném ta vào sửng sốt bàng hoàng.

    Mai phải đọc đến lần thứ ba mới chuyển được tâm trạng của mình từ bực bội khó chịu với nhân vật chính đến cảm thông và thương hại.

    Mai

    Số lượt thích

    Posted by TốngMai | Tháng Mười 13, 2015, 8:06 sáng

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: