//
you're reading...
Triệu Phong, Truyện Dịch

Cô Núi – Philippa Pearce

LN_104

Philippa Pearce (1920-2006)

Bà Philippa Pearce ra đời ngày 23 tháng Giêng, 1920, sau khi kết thúc Thế Chiến thứ nhất. Bà Pearce thích nói chuyện và lằng nghe trẻ con nên khi viết sách, bà cố đặt hết tâm trí của mình dưới nhãn quan của một đứa trẻ. Bà cũng yêu thiên nhiên và miền đồng quê; mọi cuốn sách của bà đều lấy bối cảnh của những nơi đẹp, những con sông, hay khu vườn của miền quê.

***

 

(Triệu Phong chuyển ngữ – 15 Feb 2005)

 

Ở nhà Nội, mọi nơi đều mang một vẻ thanh khiết của tiết Xuân, chỉ trừ phòng chứa đồ. Cụ bà Robinson sống trong một ngôi nhà chỉ có hai phòng ở lầu trên, ngoài phòng tắm ra; một là phòng ngủ của cụ; còn phòng kia là phòng chứa đồ. Phòng này lại là nơi ưa thích đối với Daisy và Jim, các cháu nội của cụ. Kích thước phòng cỡ 2 mét và 2 mét rưỡi, bên trong chất đầy cả mọi thứ đến nỗi chỉ nội muốn mở cửa vào cũng đã khó khăn rồi. Bạn có ráng hé một tí để nhìn vào cũng đủ thấy một núi đồ cao đụng trần, nào là những vali cũ kỉ, những đống thùng giấy đủ cở, đủ hình dáng, từng bó sách báo lâu đời, từng núi màn treo, và một hai cái ghế đã bị mối mọt.
Nội thường hay bị châm chọc về tình trạng của căn phòng đó nhưng cụ luôn luôn hùng hồn biện bác: “Coi vậy chứ chẳng có chi nhiều cả, chỉ vì các thứ ấy chất trên cái giường bỏ không nên thấy choán chỗ đó thôi. Thực ra đó là phòng dành riêng cho khách ở lại đêm. Nội tính hôm nào rãnh rổi sẽ dọn dẹp một phen.”
Thế là mọi người – Daisy, Jim, cha chúng, tức là con trai của Nội, và mẹ chúng, tức con dâu của cụ – đều phá ra cười. Nội cũng cười theo, mà cười thật nhiều nữa chứ, dẫu rằng cười chế diễu mình.
Nếu mọi người có nêu ý kiến giúp Nội một tay để dọn dẹp căn phòng thì Nội sẽ ngưng cười ngay mà đáp: “Được rồi, cám ơn tất cả. Tao thích làm lấy một mình thôi, để khi nào thong thả rồi tao làm.” Nhưng rồi thì chẳng bao giờ thấy Nội thư thả cả.
Trong các cụ cỡ tuổi Nội, cụ là người dễ thương nhất: hồng hào phương phi, tròn trĩnh, lạc quan yêu đời. Cụ chìu cháu hết mình. Daisy và Jim ở phía góc đường, một khu đang phát triển, rất gần nhà Nội nên hai bên thường hay lui tới thăm nhau.
Thế rồi đột nhiên mọi sự đều thay đổi.
Số là người cha của hai đứa trẻ vì đổi việc làm phải dọn đến ở một khu vực khác xa hẳn nhà Nội.
“Thật ơn phước cho tau!” Nội nói, khi nào cũng tỏ ra vui vẻ. “Đã tận thế đâu mà lo, tao tới thăm ban ngày được mà.”
“Làm gì mà ban ngày thôi,” Cô Robinson trẻ trung, người rất yêu quí bà mẹ chồng mình, đáp. “Mẹ phải thường xuyên tới chơi và ở lại nữa.”
“Ừ, mà tụi nhỏ cũng phải qua ở chơi với tao luôn.” Nội nói.
Jim liền hỏi. “Tụi cháu ngủ đâu?”
“Thì lo dọn phòng chứa đồ đi mới có chỗ ngủ được chứ,” Daisy đáp.
“Đúng đó, dĩ nhiên là vậy rồi,” Nội nói ngay, nhưng một chốc sau cụ tỏ ra hối tiếc đã quá mau miệng vì đã nói mà không nghĩ trước. Mà đúng ra thì phòng chứa đồ cũng nên được dọn dẹp từ nhiều, nhiều năm trước.
Nội lại nói Nội thích một mình dọn lấy nhưng lần này thì mọi người cứ nằng nặc bảo rằng đồ nhiều thế cụ đâu có làm một mình nổi. Cuối cùng thì cụ đồng ý để Daisy và Jim phụ một tay. Có lẽ cụ nghĩ dầu sao tụi nó cũng dễ nghe lời mà làm theo ý cụ hơn là cha mẹ chúng.
Phòng chứa đồ chứa được bao nhiêu thứ là một việc kỳ thú; tất cả phải được đưa ra ngoài hết và bắt đầu lọc kỹ từng món. Nhiều thứ đi thẳng ngay vô sọt rác, những thứ như mấy bó sách báo và màn treo cũ thì đem cho nhà thờ để bán gây quỹ; mấy cái ghế thì để làm gỗ chụm lò sưởi. Nội đích thân coi mấy đồ trong những vali và quyết định đem quăng hết; chỉ vali là chừa lại để cất mấy thứ cần thiết. Phần mấy thùng giấy cát-tông, Nội nói khó lòng mà ngồi coi kỹ từng thứ trong đó nên tạm đem chất một góc trong phòng Nội.
Họ làm việc thế mà cũng hết mất nhiều ngày. Dưới núi đồ đó quả nhiên là chiếc giường hẹp, vừa rộng đủ cho Daisy (nó là người lớn tuổi hơn và bự hơn Jim), trên giường có sẵn nệm, gối và cả mấy cái chăn nữa (chỉ một cái vì bị mối mọt ăn nhiều quá nên cho vào thùng rác). Nội lập tức mở rương lấy vải giường ra trải và áo gối ra thay ngay.
“Đó thấy chưa!” Nội nói. “Phòng dành cho khách khứa của Nội như vậy đó!”
Daisy và Jim thích căn phòng lắm. Trông nó có vẻ nhỏ nhắn và riêng biệt, giấy dán tường kiễu thời xa xưa, chắc có cả trước khi Nội dọn đến ở đây. Cửa sổ nhìn ra phía sân và tiếp nhận toàn nắng mai (Dĩ nhiên, như vậy có nghĩa là lúc xế chiều phòng này sẽ tối trước tiên.)
Việc kế đến là thanh toán nốt mấy thùng cát-tông vẫn còn y nguyên bên phòng Nội. Cụ bảo là chiều đến cụ sẽ làm một mình sau khi đám trẻ đã về nhà hết rồi. Daisy thì ái ngại nghĩ rằng Nội đã bắt đầu mệt rồi, yêu cầu Nội ngồi yên trên ghế để hai đứa soạn từng món trong mấy thùng ra thay cụ. “Tụi cháu sẽ lấy ra từng cái để Nội coi,” Daisy nói.
Cụ bà đành thở dài một tiếng.
Trong nửa giờ đầu tiên, cái nào lấy ra cũng đều được cho vào thùng rác, cả thùng lẫn đồ trong thùng, nào là giấy chứng nhận, các tờ chương trình cũ rích, cartes-postales và những đồ kỷ niệm linh tinh. Kế đến là mấy hộp đựng ảnh cũ, có mấy cái được lộng kiếng hẵn hòi. Tới phần này thì tụi nhỏ chậm lại.
“Daisy coi nè!” Jim nói. “Con bé này mập dữ chưa!”
“Lại nó nữa nè,” đến phiên Daisy nói. “Tấm này nó trông già dặn hơn nhưng còn mập hơn nữa.”
“Nội đó chứ ai,” bà cụ lên tiếng rồi chồm khỏi ghế vươn tay tới giữa hai đứa nhỏ chụp lấy mấy tấm hình rồi xé toạc làm đôi.
“Đừng bà Nội!” Tụi nhỏ phản đối nhưng quá đã trễ.
Chúng lại lấy ra một khung hình chụp đám cưới, trong đó có mấy người đàn ông mặc đồ lớn cài nút cao, còn quí bà thì mặc váy dài, đầu đội nón có gắn lông chim, hoa, trái cây và cả nơ nữa.
“Đám cưới của Nội phải không?”
Bà cụ đáp, “Nội đâu có được lớn dữ vậy. Hồi đó có ai biết đến Nội đâu. Đó là đám cưới của ba má Nội.”
Hai đứa chăm chú nhìn. “Vậy đây là ông bà cố của tụi cháu.”
“Cả hai bà cô tụi bây làm phụ dâu nữa đó,” Cụ bà cười khẩy rồi tìm ra tấm hình đám cưới của cụ mà trong đó ai trông cũng lạ lùng và ăn mặc thì cổ xưa nhưng rõ ràng là Nội đâu có nghĩ vậy.
Tụi nhỏ cho là tấm hình đám cưới ông bà cố hợp với cái phòng con. Được sự đồng ý của cụ, chúng đem sang treo bên đó. Tất cả những hình khác đều đi vào sọt rác.
Thùng giấy cuối cùng, hơi vuông vuông, từ trong đó Daisy lôi ra một cái thẫu có hình dáng của một chum rượu. Mặt dát bên ngoài và cả mấy dãi viền đều bằng thứ kim loại mờ đục.
Bà cụ nói: “Thẫu đựng bánh lạt đó.”
“Bằng bạc thật phải không Nội?” Daisy hỏi.
“Phải,” cụ đáp.
“Ghê quá nhỉ!” Jim buột miệng.
“Ừ, quí giá lắm.” Nội tiếp lời.
Daisy thận trọng đặt xuống sàn để hai đứa cùng ngắm.
“Nó có từ thời Nội còn con nít,” bà cụ nói. “Không bao giờ Nội ưa nó nổi.”
“Có chữ H với nét uốn lượn được dát bên ngoài nữa kìa,” Jim buột miệng.
“Đó là viết tắt từ chữ Hill,” Nội cắt nghĩa. “Là tên họ của gia tộc mình. Nhưng Nội ghét cay cái thẫu này. Nội chỉ nghĩ đến dịp để tống nó đi khuất mắt cho rồi.”
“Đừng mà bà Nội!” Daisy nhao nhao. “Nội đặt trên tủ kệ phía dưới cầu thang trông được đó Nội. Cháu sẽ đánh cho ánh bạc sáng lên.” Bà cụ vẫn chăm chú nhìn món đồ với vẻ bất khoan nhượng. “Nghĩ lại đi, Nội đựng bánh trong đó mỗi khi tụi cháu đến đây ở lại được mà. Loại bánh mà tụi cháu thích. Cháu thích nhất là bánh súc-cù-là.”
“Cháu thì thích bánh kẹp màu hồng có đường,” Jim góp lời.
“Hứa đừng quăng nghe Nội. Để đó mà đựng bánh của tụi cháu,” Daisy nói.
Bà cụ không nhìn cái thẫu nữa mà ngước qua nhìn hai đứa cháu. Đột nhiên cụ nhảy bỗ đến ôm chầm lấy hai đứa. “Được, được rồi!” Cụ nói. “Bởi lẽ rồi ra Nội là kẻ may mắn. Thật, thật may mắn. Giờ thì Nội có căn phòng dành cho khách và hai đứa cháu sẽ đến đây ở lại chơi với Nội!”
Căn phòng của khách nho nhỏ, thật nhỏ và riêng tư, nay đã sẳn sàng chờ vị khách đầu tiên đến ở lại.
Người khách đầu tiên đó là Jim. Đúng ra Daisy trước mới phải vì nó lớn tuổi hơn nhưng vì trong lúc đang dọn nhà sự hiện diện của Jim chỉ gây thêm cản trở. Bởi thế đêm đầu trước khi dọn ra và đêm đầu trước khi dọn vào nhà mới Jim phải ngủ lại phòng dành cho khách ở nhà bà Nội. Sau đó ba nó trở lại đón nó về nhà mới.
Ở nhà mới, mọi người lo khiêng dọn, mệt, dễ nổi cáu nếu bị Jim quậy. Nhưng Jim lại đâm ra ít nói hơn thường lệ. Hỏi ở bên Nội có gì vui. Có, Nội dẫn nó đi phố và mua cho nó cây bút viết được nhiều màu; nó còn có pháo xẹt để ra đốt ngoài trời lúc trời tối nữa; bữa ăn tối nó được ăn thêm đào; và Nội cũng có bánh kẹp màu hồng có đường, thứ mà nó thích, dành riêng cho nó.
“Con may mắn mà có được người như Nội,” Mẹ nó nói.
“Nghe mà nhớ đến bà Nội của ba,” ba nó tiếp, “bà cố của con cũng là người rất tốt bụng.”
Đêm đó, Daisy và Jim, hai đứa tạm ngủ chung một phòng vì phòng riêng của Daisy chưa sơn sửa xong. Jim đi ngủ trước nhưng đòi mẹ để đèn sáng ở cầu thang và để hé cửa phòng nó. “Mẹ tưởng đâu con hết đòi vậy rồi chứ,” bà nói. “Con bây giờ lớn rồi biết không.” Nói thì nói thế nhưng bà chìu theo ý Jim.
Sau đó, Daisy lên ngủ và Jim vẫn còn thức.
Daisy lên tiếng: “Tối mai tao về ngủ riêng bên phòng tau.”
“Chị muốn ngủ chung thì cứ ngủ, em không có thắc mắc.”
Daisy chui vào giường mình.
“Chị Daisy…”
“Cái gì?”
“Tối mai em không muốn nằm đây một mình.”
“Nhưng,..nhưng từ hồi nào mày vẫn thường ngủ một mình mà Jim!” Giường bên kia không có tiếng trả lời. “Mày đâm ra ngớ ngẩn đi mất!”
Vẫn không có tiếng trả lời; nhưng lại có tiếng gì đó rất khẻ. Daisy cố lắng nghe; Jim đang thổn thức.
Daisy bước ra khỏi giường đi sang phía Jim hỏi. “Có chuyện chi vậy?”
“Không gì cả.”
“Chắc chắn phải có chuyện.”
“Không, đã bảo là không mà.”
Daisy rành Jim quá. Thằng nhóc là tổ sư lì. Chắc nó sẽ không bao giờ hé môi nói đó là chuyện chi.
“Nói cho tao nghe đi rồi mày sẽ thấy nhẹ nhõm cho coi.”
“Không, em không nói.”
Nó khóc dữ quá đến nỗi Daisy phải choàng tay qua ôm lấy. Jim run người bần bật làm cho Daisy thêm xúc động.
“Mày bị lạnh hả Jim?”
“Không.”
“Vậy sao mày run quá vậy? Chắc mày sợ cái gì đó thì phải?”
Để trả lời, Jim làm miệng như há hốc. “Để người ta yên được không.”
Daisy phần thì tức phần thì tò mò muốn biết. “Nói, nói đi. Mày không nói tao không để mày yên.”
Jim vẫn không nói ra; và rồi Daisy thêm vào: “Nếu mày nói chút chút tao sẽ không tranh luận với mày – tao sẽ về giường tao và để cho mày yên. Mày phải nói gì gì đó – gì gì đó tức là gì gì đó thôi.”
Jim tự trấn tĩnh lại rồi dè dặt nói: “Em sẽ không bao giờ ngủ lại đêm bên nhà Nội nữa.” Vừa nói nó vừa quay mặt vào trong tường, xây lưng về phía Daisy.
Daisy nhìn Jim chằm chặp, mồm mở há hốc; rồi chợt nhớ lời mình đã hứa với Jim, nó không hỏi nữa và quay về giường mình, nằm xuống, nghĩ ngợi miên man. Nó cố hình dung xem điều gì đã xảy ra lúc Jim sang bên Nội đến nỗi bây giờ nó đến nông nổi như vậy. Nó phải tìm cho ra vì rồi ra đến lượt nó sẽ sang đó ngủ …
Jim kỳ cục thì có. Làm gì mà phải sợ nếu được ngủ lại đêm ở nhà một người vui vẻ, hồng hào phương phi và tròn trĩnh như Nội.
Một lát sau thì Daisy đã thiếp đi, nó thấy nó đang đứng trước hiên nhà Nội, tay cầm vali. Gõ cửa xong, cửa mở ra như lệ thường, Nội đứng đó như thường lệ. Nhưng không, không giống như lệ thường. Nội nhìn Daisy bằng vẻ nhìn của một kẻ xa lạ. Nó lên tiếng. “Dạ thưa, cháu là Daisy Robinson, cháu là cháu của Nội. Cháu sang đây ngủ lại chơi với Nội.” Không một lời, bà nội nó bước né sang một bên để nó đi vào. Daisy lập tức dọt lên cầu thang hướng về căn phòng nhỏ dành cho khách. Nó thấy cửa để hé chờ nó. Sau lưng nó, dưới lầu, nó nghe tiếng Nội đang đóng cửa lại, cài then, khóa xích lại như vẫn thường làm lúc về đêm. Daisy nghe tiếng bà nội nó cười khe khẻ và chặc lưỡi một mình.
Phần còn lại của giấc mơ – có chăng thì cũng đã nhạt nhòa khi nó tĩnh giấc vào lúc bình minh. Nó sung sướng là nó không nhớ gì ráo.
Daisy không kể cho ai nghe về chuyện của Jim vì có gì đâu để mà nói. Dầu sao thì coi bộ nó cũng đã bình thường lại rồi. Chiều hôm ấy, các phòng ngủ đều đã hoàn tất nên Jim phải ngủ một mình bên phòng nó. Không phản đối một lời, nó leo lên giường ngủ. Thật vậy, đang đêm khuya Jim la hét đến nỗi mẹ nó phải chạy sang, nhưng con nít ai lại không có ác mộng. Qua đêm sau, nó trở lại giấc ngủ bình thường.
Daisy tự kết luận rằng quả là Jim phịa chuyện không đâu, những sản phẩm tưởng tượng xuất phát từ trong đầu nó – cốt để gây hoang mang cho Daisy – bây giờ nó đâu có nghĩ tới nữa vì nay nó đã yên ổn xa hẳn căn phòng dành cho khách bên nhà Nội.
Nội sang chơi nhà mới và ở lại. Cụ vẫn vui vẻ hoạt bát, ai cũng thích thú có cụ đến chơi; Jim có vẻ lăng xăng gần cụ như xưa. Thế rồi trước khi về cụ lên tiếng, “Nào, bây giờ đến phiên đứa nào qua ngủ trong phòng dành cho khách quí?”
Jim đáp ngay, “Phiên của chị Daisy.”
“Tụi bây công bình với nhau lắm, giỏi đó Jim,” Mẹ chúng nói vẻ tán đồng. Daisy nhìn nó nhưng Jim đã bướng bỉnh tãng lờ ngó đi chổ khác. Daisy biết chắc như bắp là dù có trời sập thằng nhỏ cũng nhất định không qua đó nữa mà.
Vài tuần lễ sau thì Daisy khăn gói qua nhà Nội.
Hành lý trên tay, Daisy đứng trước hiên nhà Nội. Hai lần đưa tay lên định gõ, hai lần nó hạ tay xuống. Đến lần thứ ba nó mới dám hành động. Nó nghe tiếng chân đang bước đến phía cửa. Rồi cánh cửa mở ra, và kia là Nội, mọi cảm giác bất an trong trí Daisy đều tan đi ngay trong mây khói. Bà nội nó cười hả hê vì thấy nó đến, cả căn nhà nữa cũng rộn ràng vui vẻ đón nó. Từ cửa nhìn vào nó đã thấy tuy trong nhà không lên đèn nhưng ở nơi lò sưởi lửa đang tí tách reo vui; cạnh đó có kê một chiếc bàn, bên trên nào là chén đĩa muỗng nĩa sáng ngời bên ánh lửa. Xa hơn nữa, chiếc tủ kệ sáng sủa ngăn nắp với những đồ chưng rực rỡ.
Đến giờ ăn tối, hai cụ cháu ăn món trứng luộc trộn xà-lách.
“Cháu có thích gì nữa không, Daisy yêu quí của Nội?”
Daisy quay sang phía tủ kệ, nhìn cái thẫu bánh lạt và nói, “Cháu ăn bánh kẹp màu hồng có đường được không Nội?”
“Lạ quá hè!” Bà cụ nói. “Đây đâu phải thứ cháu thích!”
Daisy bước thẳng tới thẫu bánh, vói tay vào bên trong. “Thấy gì cứ việc lấy đi cháu, lấy mấy tùy thích. Nội thích tự tay cháu lấy như vậy thôi.”
Daisy lấy ra bánh súc-cù-là. “Nội ơi, Nội thật tuyệt vời! Nội chu đáo quá.”
Bà cụ thở dài. “Có khi Nội cũng muốn mình được dễ quên một tí.”
Daisy vừa cười vừa múm miệng nhai ngồm ngoàm.
Sau đó thì cả hai chuẩn bị đi ngủ. Họ đứng bên nhau nhìn vào căn phòng nhỏ. Màn cửa sổ được kéo lại hẳn hòi, căn phòng nay ánh lên một màu hồng ấm áp từ cây đèn ngủ, căn phòng trông cũng dễ chịu và nồng ấm như Nội nó. “Mong rằng cháu ngủ được ngon giấc,” Bà cụ lên tiếng, cụ nói cho Daisy biết cụ để sẵn bao nhiêu chăn, bao nhiêu gối, và lúc về đêm có thể có tiếng ồn bên lối xóm vì thỉnh thoảng người ta có tiệc tùng khuya khoắc.
“Mấy người bên đó có bao giờ gây khó chịu cho Jim không?” Daisy bất chợt hỏi.
“Làm gì có,” bà nội nó đáp. “đúng ra thằng nhỏ cỡ tuổi đó coi như thuộc loại khó ngủ. Phải không? Ở đây nó ngủ ngon lắm.”
Daisy liếc nhìn xem thái độ bà cụ ra sao khi bà nói như vậy, nó bắt gặp cụ đang liếc sang phía nó. Cả hai cùng nhìn lảng sang nơi khác một lượt, làm như không có chuyện gì xảy ra.
“Nhớ nghe,” cuối cùng cụ nói, “cần chi thì có Nội ngủ ở phòng phía bên kia hành lang.” Cụ cúi hôn tạm biệt Daisy.
Daisy nhất định không nghĩ tới cái liếc xéo khó hiểu vừa qua nữa. Nó leo lên giường, chìm sâu xuống ngay vào giấc ngủ.
Hình như có cái gì làm nó tỉnh giấc. Daisy không chắc là vừa có một tiếng động nào đó nhưng ắt phải có chứ không phải không. Nó nằm thật êm, mắt mở thao láo, hai tai vễnh lên để nghe ngóng. Trước khi ngủ nó đã không quên kéo màn ra để ngày mai nó sẽ thức giấc lúc ánh dương lên: bây giờ đang đêm hôm khuya khoắc, trời không trăng, không sao, và những ánh đèn bên nhà lối xóm nay đã tắt ngúm.
Nó nằm chờ để nghe lập lại tiếng ban nảy nhưng tuyệt nhiên không có gì. Nó biết nó đang chờ cái thứ âm thanh gì đó, là tiếng kẻo kẹt nơi cầu thang. Vẫn không có chi cả nhưng Daisy vẫn đoan chắc là hình như có ai đi xuống cầu thang.
Có thể, có thể là bà nội đi xuống để làm gì đó. Chắc cụ cố đi thật khẽ vì sợ làm Daisy mất giấc ngủ. Nhưng cụ có thể khe khẽ tới độ như vậy sao?
Mà có phải là Nội hay không thì lúc này kẻ ấy phải xuống tới bên dưới rồi chứ. Vẫn không có tiếng nào.
Chắc không phải Nội rồi; nhưng Daisy lại chắc đó là Nội; rồi nó lại cảm thấy đó không phải là cụ.
Nó phải biết thực hư là gì. Daisy lên tiếng “Bà Nội!” Nó cố cất giọng lớn để người dưới lầu có thể nghe được nó nhưng âm thanh từ miệng nó thoát ra nghe như tiếng la thất thanh.
Ngay lập tức, Daisy nghe tiếng cửa bên phòng bà nội mở ra, rồi liền ngay là tiếng chân của cụ bước sang phía phòng nó.
“Có Nội đây cháu!”
“Hình như cháu có nghe – có phải Nội vừa đi xuống lầu không?”
Bà cụ có vẻ hơi khích động nói. “Ờ, cháu có nghe thật à? Đôi khi khát nước, Nội cũng có đi xuống pha nước uống.”
“Nhưng đó không phải là Nội, Nội từ bên phòng đi qua chứ đâu phải từ dưới cầu thang đi lên.”
“Cháu của bà sao mà thính quá!”
“Nói cho đúng thì không chắc là cháu có nghe tiếng ai đi xuống lầu cả.” Daisy nói chầm chậm.”
“Vậy là nghe lầm. Không có gì phải không cháu?”
Làm sao mà lầm được; nghe như tiếng lạo xạo thì có, Daisy nghĩ vậy, nhưng một lần nữa nó để bà nội hôn tạm biệt để đi ngủ. Đèn tắt, bà cụ quay trở về phòng. Trong nhà thật yên lặng: không những không có động tĩnh gì khác thường mà cũng chẳng có cảm giác gì bất tường nữa. Daisy làm thẳng một giấc tới khi mặt trời lên.
Ban ngày Nội tỏ ra làm cho Daisy cảm thấy dễ chịu cũng như đối với Jim vậy. Nhưng rồi chiều đến, và tối cũng đến; đêm nay thì còn tệ hơn đêm qua nữa.
Daisy lại thức giấc, và nằm yên nghe ngóng, nó biết có kẻ lại đang khe khẽ đi xuống cầu thang. Nhưng chắc là mình tưởng tượng thôi, nó tự nhủ; làm chi mình biết được chuyện gì một khi mình không hề nghe gì cả?
Ai mà xuống cầu thang đi về phía phòng khách. Lúc đi ngủ Nội có khép cửa ở phòng khách lại không? Mắc mớ chi mình phải thắc mắc chuyện đó. Có ai đó đi vào phòng khách, bước về hướng cái tủ kệ.
Chuyện gì dưới đó vậy, trong đêm đen và trong lặng lẽ.
Bỗng nhiên sự yên lặng tan biến đi. Từ dưới vọng lên tiếng thét thê lương, kế đó chuyển qua tiếng khóc rồi tiếng sụt sùi, nghe hãi hùng làm sao.
Không ý thức được mình đang làm gì, Daisy bước ra khỏi giường tự hồi nào, nó ra khỏi phòng đi băng qua hành lang về hướng phòng của Nội. Cửa phòng đóng, nó đợi một lát rồi mới mở ra, bấy giờ nó mới để ý là tiếng khóc dưới lầu không còn nữa.
Daisy đứng trong phòng bà nội nó. Đèn đầu giường đang sáng và Nội thì đang ngồi trên giường , có vẻ lúng túng. Daisy nói: “Tiếng khóc đó là!”
“Là Nội đó,” bà nội nó đáp.
“Ồ, không, không, không, không!” Daisy phủ nhận lời Nội một cách quyết liệt. Nó nhìn bà nó bằng vẻ tức giận lẫn hãi hùng: bà nội dễ thương nhất trần gian hình như đang muốn che giấu một điều gì với nó, đang dối gạt nó. Bà Nội mình là loại cụ bà gì đây: quỷ quyệt; xảo trá? hay đồi bại ác độc?
Vừa nhìn lên mặt Daisy xong, bà cụ lại co mình vào đống gối. Cụ lấy hai tay ôm mặt lại. Giữa những kẻ tay, Daisy nhìn thấy những dòng nước mắt lăn dài trên làn da nhăn nheo. Nội đang khóc, với những cơn nấc nghẹn, tiếng khóc không khác với tiếng khóc nghe ở dưới lầu là bao nhưng có vẻ lặng lẽ hơn.
Giữa cơn khóc, Nội cố nói điều gì, “Ồ, Daisy cưng của Nội!” cụ dang tay về phía đứa cháu vẻ van lơn.
Daisy nhìn cụ, vẻ thăm dò sợ sệt; rồi mắt cụ bắt gặp ánh mắt nó. Daisy nắm lấy hai bàn tay đang chìa ra và vỗ nhè nhẹ. Nó tự thấy trấn tĩnh lại trong khi đang trấn an bà nội nó. “Để cháu xuống pha bình trà mang lên đây bà cháu mình uống nghe Nội.” Daisy nói.
“Đừng cháu,” bà cụ nói chận lại. “Để Nội xuống. Mình cùng xuống dưới đó để uống cũng được, Nội sẽ kể cho cháu nghe – Nội kể hết – “ Cụ lại bắt đầu khóc rưng rức.
Daisy không còn sợ gì nữa hết. Nó xuống lầu, đi thẳng vào bếp để bắt ấm nước. Trong khi đi, nó không quên đưa tay bật đèn phòng khách lên, mở luôn lò sưởi điện. Mọi sự vẫn y như cũ. Cửa phòng khách cũng khép lại rồi.
Từ bên dưới, Daisy nghe tiếng Nội ngồi dậy khỏi giường rồi bước ra khỏi phòng ngủ. Cụ chưa xuống cầu thang, Daisy nghe cụ bước thẳng qua bên phòng của nó, ở trong đó một chốc rồi mới đi xuống.
Daisy mang khay trà đi vào phòng khách; nó lấy thẫu bánh xuống khỏi kệ tủ rồi đặt lên khay trà, phòng khi bà Nội có muốn ăn cái gì đó lúc uống trà. Nội đã có dưới đó rồi đang đợi nó. Cụ có mang xuống theo, khung hình đám cưới treo trên phòng Daisy ngủ, rồi đặt ở một nơi mà cả hai đều dễ nhìn thấy. Daisy không hỏi gì cả.
Họ ngồi với nhau và bắt đầu nhâm nhi. Daisy lải rải gặm bánh; khi nó chìa thẫu bánh qua mời bà nội thì cụ lắc đầu và nhún vai.
“Bây giờ thì Nội kể cho cháu nghe đây,” Bà cụ lên tiếng; rồi lại ngưng. “Nội mang theo hình chụp đám cưới xuống đây là cốt để chỉ cho cháu thấy.”
Cụ lại ngưng, lần này lâu hơn; và Daisy nhảy vào, “Mẹ của Nội làm cô dâu đẹp nhỉ.”
“Nội có biết gì về bà đâu,” bà cụ tiếp. “Bà mất khi Nội còn rất bé.”
Daisy liền nói, “Nhưng ba cháu biết về bà cố! Ba cháu có kể về bà ấy.”
“Đó là mẹ ghẻ của Nội; tức là bà ngoại ghẻ của ba cháu.”
Giờ thì Daisy có vẻ hiểu chuyện hơn. “Mẹ ghẻ à – tội nghiệp bà Nội quá!”
“Không đâu,” Nội của Daisy nói. “Hoàn toàn không như cháu nghĩ đâu. Mẹ ghẻ của Nội – có điều là Nội không bao giờ coi bả như mẹ ghẻ mà là như mẹ ruột – bà là một con người hiền dịu.”
“Như thế là -?”
“Trong hình đều có cả hai người,” bà cụ tiếp. “Mẹ ruột của Nội là cô dâu. Mẹ ghẻ lúc ấy là một trong hai phụ dâu. Hai phụ dâu là hai bà cô của Nội: một người là em của mẹ của Nội, còn người kia là em gái của ba Nội.”
Daisy nhìn kỹ tấm hình. Bây giờ thì nó mới hiểu là một trong hai phụ dâu là em gái của cô dâu, không cần hỏi cũng biết là người nào rồi: người này cũng có nét tròn trĩnh và xinh đẹp như Nội.
Cô phụ dâu kia thì lỏng khỏng và gầy, vẻ mặt ủ rũ cau có. Nét người này hao hao giống chú rễ nhưng chưa đến nỗi y hệt.
“Khi mẹ của Nội qua đời,” bà cụ nói, “Nội còn rất nhỏ, còn trẻ con lắm. Ba Nội cần có người coi sóc Nội và quán xuyến việc nhà. Ổng bận công việc, phải ở chỗ làm suốt ngày. Ổng mới đề nghị cô em tới ở lại nhà, tức là cô phụ dâu kia đó.”
Daisy nhìn chăm chú cô phụ dâu gầy gò với vẻ kinh ngạc.
“Cô ấy quí ba Nội lắm, Nội tin là Cổ không ưa ba Nội lấy vợ. Đến khi mẹ của Nội mất hẳn là Cổ mừng lắm; nếu Nội đừng sinh ra chắc Cổ còn mừng hơn nữa. Cổ chỉ muốn chỉ có ba Nội với Cổ thôi. Cô ấy ghét Nội.”
“Chao ôi bà Nội!”
“Phải, Cổ ghét cay Nội. Hồi đó Nội cũng không hiểu tại sao. Nội chỉ nghĩ là chắc tại mình đâm ra ngờ nghệch, không biết vâng lời và ăn mặc bẩn thĩu các thứ khiến ai thấy đều không ưa. Nội tự nhủ là thà làm một đứa trẻ con hư hỏng mà hơn, rồi Nội biến thành như thế. Chuyện ghê gớm nhất là – “
“Nói tiếp đi Nội.”
“Đối với cháu thì không có ghê gớm đâu. Cháu nghe qua sẽ cười cho coi. Bà cô thường hay chế diễu Nội, mà cứ mỗi lần như thế Nội càng làm già hơn.”
“Mà chuyện gì hả Nội?”
“Chuyện ăn uống của Nội đó mà…”
“Thì có gì là…”
“Hễ có cơ hội là Nội ăn. Không những Nội ăn nhiều ở bữa ăn chính, mà Nội cũng ăn giữa buổi nữa. Bà cô thường mách với ba Nội về chuyện đó; rồi mỗi lần ngồi vào bàn ăn, Cổ lấy thước dây đo vòng quanh bụng Nội, bảo là không được ăn lớn hơn cỡ như vầy, như vầy. Nội khi nào cũng tròn trĩnh như mọi người phía bên ngoại. Rồi cứ thế Nội ngày càng mập – mập khủng khiếp.
“Tên họ của gia đình mình là Đồi (Hill). Trong nhà hồi đó có đến hai Cô Đồi, bà cô và Nội. Bà cô nói không thể để cho có sự lẫn lộn như vậy tiếp tục được và từ đây Cổ vẫn là Cô Đồi, còn Nội gọi là Cô Núi (Mountain). Thế là Cổ cứ gọi Nội như thế khi nào ba Nội không có nhà. Mỗi lần viết giấy để lại cho Nội là bà cô cứ bắt đầu bằng chữ Cô Núi. Một hôm ba Nội bắt được mẫu giấy, thấy vậy ổng hỏi bà cô; Cổ tãng lờ mà lý sự rằng hai đứa chỉ đùa với nhau thôi. Nhưng nào có phải chuyện đùa đâu – mà có đùa chăng cũng là thứ đùa dai, cay độc.”
“Bộ Nội không ăn ít lại được sao? Để cho gầy lại; thế là bà ấy quê độ hết chọc được Nội.” Daisy hỏi.
“Cháu chưa hiểu. Hễ bà cô càng chọc là Nội càng ăn nhiều hơn. Riết rồi Nội đổi sang tính ăn chùng. Sau bữa thịnh soạn tối Chủ Nhật, Nội lẽn xuống tủ đồ ăn xé mấy khúc mỡ trên tảng thịt nướng còn ấm ra ăn thêm. Có khi Nội lại lục tủ để ăn chùng nho khô, hoặc rình cơ hội để xẽo mấy lát phô mai; một lát bánh mì cũng nên nếu không có chi khác để ăn. Có lần Nội ăn cả đồ ăn dành riêng cho chó nữa.
“Dĩ nhiên là sớm muộn bà cô cũng sẽ nghi. Cổ thích rình bắt quả tang mới hả dạ. Nếu như không bắt được thì Cổ lại tìm cách phòng ngừa. Ban đêm bà cô khóa cửa bếp lại vì biết Nội sẽ mò xuống mấy tủ đồ ăn. Thế là Nội khám phá ra thẫu bánh lạt.”
“Đúng ngay thẫu này phải không Nội?”
“Phải, khi nào nó cũng nằm trên kệ tủ dưới cầu thang, ở trong toàn là bánh lạt để ăn với phô mai. Có phô mai hay không Nội cóc cần; đêm đêm Nội lẽn xuống bốc một hai lát thôi.”
“Ở ngôi nhà này luôn hả Nội?”
“Không phải, nhà đó ở cách đây cả trăm dặm, theo Nội biết thì nay nhà đó người ta đã kéo sập rồi.
“Trở lại câu chuyện, như Nội đã nói là Nội thường lẽn xuống lầu lúc đêm khuya nhưng mà nào có dám mở đèn, trong khi Nội thì sợ bóng đêm muốn chết. Nội mò mẫm đi vào phòng khách, lần theo cái tủ kệ kê sát tường. Tủ này khá lớn, trên đó có một tấm kiếng, mấy đồ nhà bếp đều chưng trên đó cả, nào là bình pha sữa, một cặp chân đèn bằng bạc, thớt cắt bánh mì viền bạc với dao cắt cán bạc luôn. Nội cứ thế mà đưa tay mò cho đến khi rờ trúng thẫu bánh. Việc kế đến là một tay dỡ nắp và một tay thọc vào trong.”
Cụ ngưng lại.
“Nói tiếp đi Nội.”
“Nội làm thế được một lần, hai lần, có lẽ được ba lần là thuận buồm xuôi gió. Lần thứ ba hay tư gì đó Nội cũng diễn lại tuồng xưa tích cũ. Lần nào cũng như lần nào, Nội run như cầy sấy phần vì mặc cảm tội lỗi, phần vì sợ bóng tối. Rờ trúng thẫu bánh rồi, theo thường lệ Nội dở nắp và với tay phải, Nội cẩn thận vói vào trong. Nội đinh ninh bánh lạt nằm ngay trên mặt nhưng lại không sờ thấy, thế là phải vói xuống sâu hơn, sâu hơn và sâu hơn – sau cùng thì ngón tay chạm phải vật gì đó, rồi lập tức vật gì đó…Nội thấy như một cơn nổ bùng! – cái gì không biết nó kẹp mấy ngón tay Nội cái bốp, kẹp chặt cứng làm Nội thấy đau đớn lắm, nhưng lúc ấy thì nỗi hãi hùng còn vượt qua cả cơn đau nữa. Nội la, Nội hét, Nội thút thít, Nội khóc.
“Có tiếng chân dồn dập xuống cầu thang, đồng thời đèn sáng lên. Mọi người đổ xô vào phía phòng khách nơi có Nội đang đứng chết trân. Ba Nội, bà cô, người hầu gái trố mắt nhìn Nội, một con bé mập trong bộ đồ ngủ đang đứng la thất thanh, tay phải thì đang chìa ra đằng trước, trên đó một cái bẫy chuột đang dính lủng lẵng trên đầu mấy ngón tay.
“Cả ba Nội lẫn người hầu đều lộ vẻ ngạc nhiên ra mặt, duy chỉ bà cô là tĩnh bơ. Cổ chỉ mong có vậy thôi mà. Bây giờ thì bà cô buột miệng cười hô hố. Nội không chịu nỗi nữa. Tay trái Nội chụp ngay lấy cái dao bánh mì có cán bạc và tiến thẳng về phía bà cô.”
“Nội tính giết cổ hả?”
“Không, dĩ nhiên là không. Lúc ấy Nội chỉ mang tâm trạng hoang mang trong cơn la hét và than khóc, con dao thì trên tay trái nên bà cô bước né sang một bên, trong khi ba Nội nhảy bỗ vào tước lấy con dao. Kế đến ổng nạy cái bẫy chuột ra cho Nội.
“Suốt buỗi đó Nội khóc không dứt. Nội nghĩ là mình cứ việc khóc cho phát bịnh luôn. Trong lúc khóc, Nội nghe ba Nội nói gì đó với bà cô, ba Nội thắc mắc làm sao cái bẫy chuột lại vào nằm trong thẫu bánh.
“Ngày hôm sau chả biết Nội ngã bịnh thiệt hay giả bộ – nói cho cùng, chuyện đó có gì khác đâu. Nội nằm lì suốt ngày trong phòng, màn cửa kéo kín lại. Người hầu mang sữa và bánh vào cho Nội. Bà cô không thèm qua thăm. Ba Nội thì vào trưóc khi đi làm và lúc về đến nhà. Lần nào ổng vào Nội cũng giả bộ ngủ mê.
Ngày hôm sau Nội ngồi dậy. Mấy ngón tay nơi bàn tay phải vẫn còn đỏ, Nội bèn chà mạnh để cho càng đỏ thêm. Nội không muốn chúng lành. Nội chỉ cho người hầu thấy. Mấy ngón tay không những đỏ mà các móng đang chuyển sang đen bầm. Người hầu gái liền gọi ba Nội vào ngay khi ông đang chuẩn bị rời nhà đi làm. Ông nói cần cho bác sĩ khám – chiều đó người hầu sẽ dẫn Nội đi bằng bộ vì vận động tốt cho Nội hơn. Ổng nhìn Nội như định nói gì nhưng lại thôi. Ba Nội cũng không đề cập tới việc đáng lẽ bà cô sẽ là người đưa Nội đi khám như lệ thường – mà quả nhiên chả thấy tăm dạng Cổ đâu.
“Người hầu đưa Nội đi. Bác sĩ nói mấy ngón tay bị kẹp bẫy chuột thế là nặng đó nhưng không có chi nghiêm trọng. Các móng sẽ mọc lại như thường. Nghe thế Nội thấy vô cùng thất vọng. Nội chỉ mong sao mấy xương ngón tay đều gãy, còn mấy móng thì rụng hết. Có vậy mới được chuyển qua bệnh viện. Nội không muốn về rồi lành trở lại rồi về với cuộc sống bình thường: vẫn là Cô Núi như ngày nào. Nội với người hầu gái đi trở về. Lúc về gần nhà thì Nội vừa thấp thoáng thấy một người đàn bà đang đi vào cổng trước. Theo đến cổng thì người ấy đang bước về phía cửa. Nội có nói là Nội chưa biết gì về mẹ của Nội, nhưng nhớ lại là nhìn phía sau người đàn bà trẻ đó – vẻ chậm chạp nặng nề của một người mập mạp – Nội thấy giống y như mẹ của Nội vậy. Không nghĩ ngợi chi thêm, Nội chạy bổ về phía người đó, hết sức nhanh để bắt kịp; vừa lúc bà ta vừa bước đến cửa thì Nội đã nhào vào người bà. Mất thăng bằng, bà kêu lên một tiếng và bật lên cười, rồi đột nhiên ngồi bệch xuống thềm cửa; Nội nhoài lên người của bà ta, và cảm thấy bà đang quàng tay ôm lấy Nội. Nội vẫn còn nhớ cảm giác khi chạm phải da thịt tròn trĩnh mềm mại và ấm áp của người ấy lúc đó, thật êm ái làm sao. Nội khóc, khóc vì sung sướng, và bà ta ôm lấy Nội.
“Đó là bà cô khác của Nội, cô phụ dâu thứ hai đó – tức là em của mẹ Nội. Chính ba Nội đã gọi điện triệu bà từ đầu kia nước Anh đến đây, và thế là bà vội tức tốc đến ngay. Bà cô kia thì đã khăn gói ra đi rồi – Nội không bao giờ thấy lại Cổ nữa. Bà cô tròn trĩnh nay đến ở với vai trò quản gia; từ đó nhà Nội vang cả tiếng cười và sự đầm ấm, lẫn yêu thương tràn đầy. Trong năm đó, ba Nội cưới bả. Bả không có con riêng với ổng, bởi thế Nội được coi như là đứa con độc nhất trong nhà. Bả thương Nội và Nội cũng thương bả không kém.”
“Nội có bao giờ thử cho bớt mập đi không?” Daisy dịu dàng hỏi.
“Hẳn là phải có rồi. Nội bỏ được tật ăn chùng. Không thấy thẫu bánh trên kệ tủ nữa – mẹ mới của Nội sau khi nghe câu chuyện liền đem dẹp nó đi. Xa mặt thì cách lòng, dần dần Nội không nhớ tới nó nữa. Nhưng hễ thấy lại là Nội lại nhớ rõ mồn một.”
“Cháu thường nghe người ta kể về những căn nhà bị ma ám,” Daisy tư lự nói. “nhưng chưa hề nghe nói đến chuyện thẫu bánh có ma. Cháu nghĩ nếu Nội không thấy nó để mà nghĩ đến thì ma cũng không còn.”
“Chắc là vậy rồi.”
“Nội có tính quăng nó đi không? Bằng không Jim sẽ không bao giờ dám qua ngủ lại đây; còn cháu thì – thì –“
“Cháu không nghĩ là Nội cũng muốn dẹp nó đi sao?” Bà cụ khóc. “Có điều là ông Nội cháu không chịu nếu không có lời giải thích rõ ràng. Nhưng đời nào mà Nội chịu nói ra, và thế là Nội phải ôm ấp mãi trong lòng, và phải chịu dính liền định mệnh mình với nó. Bây giờ thì Nội đã kể ra hết rồi, Nội thấy tự do hoàn toàn, Đã đến lúc cho nó ra đi.”
“Nội có bán nó đi không? Chắc được khá tiền đó.”
“Hẳn nhiên rồi.”
“Không biết Nội sẽ bán được bao nhiêu, và lấy tiền ấy để xài gì cho hết…”
Bà cụ không trả lời.
Sáng hôm sau, Daisy thức giấc lúc nắng lên, nó nghe tiếng Nội đã dậy rồi và đang ở dưới lầu. Nó tức tốc thay đồ thật lẹ rồi đi xuống. Cửa trước mở toang, còn Nội nó thì đang đứng bên ngoài, trên bậc thềm, nhìn về cái gì đó ở đầu đường. Có tiếng xe nặng nề chầm chậm tiến xa dần.
Daisy đến đứng bên Nội trên bậc thềm và nhìn về hướng đó. Chiếc xe lấy rác đã đến đầu đường, nơi đó những thùng rác của dân ở quanh vùng mang ra để sẵn từ đêm trước hoặc lúc sáng sớm. Người phu vừa đổ xong thùng cuối cùng vào xe. Hai hàng răng sắt khổng lồ ngoặm lấy tất cả một cách tàn nhẫn rồi bắt đầu ngậm lại.
Bấy giờ Nội mới nói, “Thế là xong”; và lập tức Daisy hiểu ngay vậy nghĩa là gì rồi. “Nội cho vô chung với mớ tạp nhạp gồm cả chai lọ, lon, thùng giấy, vỏ trứng..Được việc đấy chứ.” Chiếc xe bắt đầu quay qua đường khác. “Nội ghét cái thẫu đó lắm,” bà cụ nói. “Bây giờ thì nó đã nát thành muôn mảnh. Nát như tương.” Cụ gằn tiếng nói làm Daisy liên tưởng đến hình ảnh cô bé cầm cây dao bánh mì trên tay.
Bà cụ quàng tay qua vai Daisy và cười hả hê. Cụ nói: “Daisy, cháu nên nhớ rằng người ta vẫn có thể đựng bánh súc-cù-là và bánh kẹp màu hồng có đường trong hộp thiếc.”

Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: