//
you're reading...
Liêu Trai, Triệu Phong, Truyện Dịch

Thằng Bé nhập hồn Dế – Bồ Tùng Linh * Triệu Phong dịch

.

(Triệu Phong dịch theo bản Anh ngữ của Lâm Ngữ Đường, từ bản tiếng Hoa của truyện ngắn Liaotsai, tức Liễu Tài của Bồ Tùng Linh)

 

LN_100

Bồ Tùng Linh (1640-1715)

 

Bồ Tùng Linh là một văn thi sĩ sống dưới triều đại nhà Thanh, nổi danh với bộ Liêu Trai Chí Dị. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo ở huyện Truy Xuyên (nay là Truy Bác) tỉnh Sơn Đông. Năm 19 tuổi ông đổ tú tài nhưng đến 71 tuổi, tức vào năm Khang Hy thứ 50, ông mới được cấp bằng cống sinh nhờ tài năng về văn chương thay vì phải thi cử. Hầu hết cuộc đời ông sống bằng nghề dạy tư và sưu tầm những câu chuyện cho tác phẩm Liêu Trai Chí Dị, bao gồm 16 quyển, chia làm 431 truyện chính và 17 truyện phụ. Bộ này được coi là kỳ tuyệt trong thể loại truyện ngắn cổ điển Trung Hoa.

Về tiểu thuyết có bộ Liêu Trai Văn Tập gồm 16 quyển. Về thơ cũng có bộ Liêu Trai Thi Tập gồm 6 quyển với hơn 1000 bài, 170 bài từ, 14 vở ca khúc dân gian và 3 vở tạp kịch. Ngoài ra một số nhà phê bình văn học cho rằng tác phẩm tiểu thuyết Tình Thế Nhân Duyên cũng do ông sáng tác.

*   *   *

 

LN_101

Lâm Ngữ Đường (1895-1976)

 

Lâm Ngữ Đường là một nhà văn, dịch giả, nhà ngôn ngữ học và nhà phát minh. Lối hành văn tiếng Hoa và tiếng Anh của ông không chính thống nhưng trau chuốt khiến ông được xem là một trong các nhà văn có nhiều ảnh hưởng nhất trong thế hệ ông. Công trình biên dịch các tác phẩm cổ điển của Trung Hoa sang Anh ngữ đều trở thành sách bán chạy nhất ở Phương Tây. Ông còn hoạt động tích cực trong việc hệ thống hóa tiếng Phổ Thông sang kiểu chữ Latin.

Ông ra đời ở Ban Từ thuộc Chương Châu, tỉnh Phúc Kiến. Vùng núi non của nơi sinh quán gây một ấn tượng sâu đậm nơi ông, đến nỗi về sau ông tự xem như là đứa con của sơn khê. Cha ông là một mục sư đạo Cơ Đốc. Cuộc hành trình về niềm tin tôn giáo của ông đi từ Cơ Đốc sang Lão Giáo rồi Phật Giáo, và vào cuối đời trở lại với Cơ Đốc, phản ảnh trong cuốn From Pagan to Christian (Từ Ngoại Giáo đến Cơ Đốc) xuất bản năm 1959.

Ông lấy bằng cử nhân tại trường đại học Saint John ở Thượng Hải rồi được học bổng bán phần để tiếp tục học lấy bằng tiến sĩ tại Harvard Univerity. Nửa chừng ông bỏ sang Đức và lấy xong bằng tiến sĩ triết học Trung Hoa tại trường đại học Leipzig. Sau đó về nước dạy văn chương Anh tại Bắc Kinh Đại Học Đường. Sau 1935 ông sống hầu hết ở Hoa Kỳ. Những tác phẩm của ông gồm My Country and My People (1935), The Importance of Living (1937), Between Tears and Laughter (1943), The Importance of Understanding (1960), The Chinese Theory of Art (1967), Moment in Peking (1939), và The Vermilion Gate (1953). Nhiều tác phẩm của ông là một phần trong nỗ lực nối liền hai nền văn hóa Đông Tây. Trong thập niên 1970, ông nhiều lần được đề cử giải Nobel Văn Chương.

*   *   *

 

cricket boy

 

Kiti, thằng bé mười một tuổi, cùng cha trở về sau một ngày tìm bắt châu chấu. Cuộc săn tuy không có kết quả nhưng đối với Kiti lại hết sức tuyệt diệu vì nó khám phá nơi cha mình một người bạn để nó có thể chơi chung. Kiti là một đứa trẻ hết sức nhạy cảm. Có một lần lúc mới lên năm, khi cha nó cầm trên tay một cây gậy định dùng để phạt nó về điều gì đó, mặt nó bỗng trở nên xám ngắt với nỗi sợ hãi khiến cha nó phải lập tức buông cây gậy xuống. Nó luôn luôn khiếp sợ cha nó, một người đàn ông lầm lì ít nói, tuổi chừng bốn mươi lăm.

Kiti nhỏ con so với tuổi, vóc dáng nó chỉ bằng những đứa trẻ khác lên chín hoặc mười, và cái áo khoác ngoài mẹ nó may rộng hồi năm trước, với ý nghĩ nó sẽ lớn nhanh, nay có vẻ vẫn còn rộng và dài. Cái thân mảnh dẻ của nó lại còn nổi bật thêm bởi cái đầu lớn quá khổ và một cặp mắt to đen, linh hoạt, cùng đôi má bầu bĩnh. Nó thích chạy nhảy thay vì bước đi bình thường và cảm xúc của nó vẫn còn hoàn toàn như một đứa trẻ nít. Anh của Kiti hồi bằng tuổi nó hiện thời, khác hẳn với nó vì đã từng giúp đỡ cho mẹ chúng rất nhiều. Giờ đây anh nó đã chết, còn người chị duy nhất của nó lại bị đem gả cho một gia đình ở một thị trấn khác. Kiti có lẽ được mẹ, một người đàn bà u sầu nhưng cứng rắn nuông chìu, một người chỉ có sự đùa nghịch khác thường của nó mới làm cho bà cười được. Từ cách nhìn đến cách cười của Kiti vẫn còn mang nhiều lối trẻ con, kể cả trong nỗi vui buồn quá độ của nó.

Kiti mê thích dế như mọi đứa con trai, và với sự nhiệt tình sâu sắc và tưởng tượng phong phú của trẻ con, nó nhận thấy nơi cái vẻ đẹp và sự thanh tú của loài côn trùng này một cái gì đó hết sức toàn hảo, cao quý và mạnh mẽ. Kiti ngưỡng mộ bộ hàm cầu kỳ của con vật và nghĩ rằng không có một con vật nào to lớn hơn trên thế giới có được cái thân và cặp cẳng được bọc với bộ giáp bóng chuốt như vậy. Nó suy tưởng có thể có con vật nào lớn bằng con chó hay con heo có được bộ dạng đẹp đẽ như vậy chăng, không, không có con vật nào có thể sánh được. Dế là đam mê của Kiti từ lúc nó còn rất nhỏ. Như mọi trẻ con ở làng quê, nó chơi với dế và hiểu được cái giá trị của chúng qua tiếng kêu rả rích, cái dáng vẻ bề thế và cái góc xếp của đôi cẳng, cùng với tỉ lệ và hình đáng của cái đầu và cái thân. Phòng của nó có một cửa sổ nhìn về hướng Bắc, cạnh với vườn sau. Khi nằm trên giường lắng nghe bài ca của bầy dế, với nó đây là thứ âm nhạc du dương nhất trần gian. Bài học về lời dạy của Khổng Tử và Mạnh Tử nó tiếp thu thật nhanh từ thầy dạy học, nay là chính cha nó, nhưng cũng dễ quên nhanh không kém; thế mà bài ca của dế thì nó hiểu rõ và nhớ mãi. Kiti chất một đống gạch đá bên dưới cửa sổ để lôi kéo dế đến. Không người khôn lớn nào hiểu được việc làm của nó, kể cả người cha lạnh lùng và nghiêm nghị của Kiti. Nhưng hôm nay, lần đầu tiên ông ta cùng Kiti đi ra khỏi nhà và chạy lên sườn núi để cùng nó tìm dế.

Có một sự kiện Kiti không thể quên xảy ra vào lúc nó mới lên sáu. Khi đi học nó có mang theo một con dế, sau đó bị thầy giáo phát giác và đập chết. Kiti quá điên tiết đến nỗi lúc thầy giáo vừa quay lưng, nó liền nhảy tọt khỏi ghế, cưỡi lên lưng ông, giáng hết sức vào người ông với đôi tay nhỏ bé cho đến khi ông thầy gạt nó xuống. Hành động của nó khiến cho lũ học trò được một phen thích thú.

Sau chiều hôm ấy, Kiti đứng nhìn cha nó im lặng cắm cúi làm một cái vợt bắt dế có cán bằng tre. Khi làm xong, cha nó bảo, “Kiti, cầm theo cái giỏ tre. Chúng ta sẽ lên mấy ngọn đồi ở bên phía Nam.” Ngụ ý rằng nó sắp được đi bắt dế và Kiti hiểu rất rõ điều ấy. Nó ra đi với cha, cảm tưởng hôm đó đối với nó vui không khác một ngày Tết. Đây chẳng khác gì câu trả lời cho lời cầu nguyện của một đứa trẻ. Kiti từng ra khỏi nhà để bắt dế nhưng chưa bao giờ nó hưởng được cái thú xa hoa có thêm một cái giỏ đựng dế. Hơn nữa nó không được phép lên mấy ngọn đồi kia vì chúng cách xa nhà cả một dặm rưỡi mặc dù biết rằng trên đó có thật nhiều dế.

Ngày Tháng Bảy trời thật nóng. Hai cha con vợt cầm trên tay cùng chạy khắp mấy dốc đồi, xuyên qua mấy rừng cây, nhảy qua hố, lật từng tảng đá để nhìn kỹ bên dưới, tai lắng nghe cái âm thanh vô cùng quan trọng đối với họ, đó là tiếng rúc trong trẻo và thanh sắc như kim loại của loài côn trùng này. Họ không bắt gặp con nào nhưng tìm thấy giữa họ một tình bạn đồng hành. Đó là một cảm xúc tuyệt vời mới mẻ đối với Kiti. Nó trông thấy đôi mắt của cha nó rực sáng khi cả hai cùng nghe cái âm điệu cao vút và trong trẻo, rồi tiếng cha nó nguyền rủa qua hơi thở hổn hển khi để xổng mất một con vào dưới bụi cây. Trên đường trở về cha nó vẫn còn thở dài tiếc nuối vì bắt hụt một con tuyệt đẹp. Lần đầu tiên Kiti nhận thấy cái nhân tính nơi cha nó và từ đó nó bắt đầu yêu thương ông.

Cha của Kiti không màng đến việc giải thích vì sao ông lại đột nhiên thích dế, và Kiti, mặc dù thích thú trong lòng nhưng không thấy có lý do gì để đặt câu hỏi ấy. Nhưng khi vừa về đến nhà thì nó trông thấy mẹ đang đứng bên cửa chờ cả hai về ăn tối.

“Có bắt được con nào không?” Bà nôn nóng hỏi.

“Không!” Câu trả lời của người cha đầy vẻ trịnh trọng pha lẫn sự thất vọng não nề.

Điều này Kiti tỏ ra hết sức kinh ngạc. Đêm ấy khi chỉ có riêng hai người, Kiti hỏi mẹ, “Nói cho con nghe đi mẹ, có phải cha cũng thích dế không? Con cứ nghĩ chỉ một mình con mới như vậy chứ.”

“Không phải vậy đâu. Nhưng đó là việc ổng phải làm.”

“Tại sao? Cho ai?”

“Cho hoàng đế. Cha con làm xã trưởng. Ông được lệnh quan phải tìm bắt một con dế đá thật hay. Ai dám cãi lệnh hoàng đế chứ?”

“Con không hiểu.” Kiti càng thấy rối mù thêm.

“Mẹ cũng vậy con ạ. Hạn trong mười ngày tới cha con phải làm sao bắt cho được một con đá hay, nếu không ông sẽ mất chức và còn bị phạt nữa. Chúng ta quá nghèo lấy tiền đâu mà đóng phạt, cha cũng có thể phải ngồi tù nữa đó.”

Kiti bỏ cuộc không muốn tìm hiểu nữa và không hỏi thêm câu nào khác. Nó chỉ biết rằng có điều gì đó hết sức quan trọng đang xảy ra.

Thuở ấy mấy bà trong triều mê như điếu đổ môn chơi đá dế cá độ, và cao điểm của môn này diễn ra vào kỳ tranh chức vô địch hằng năm vào giữa mùa Thu. Đây có lẽ là một truyền thống ở triều đình, vì hồi trước quan tể tướng cuối cùng của triều đại Nhà Tống nghe nói ngồi xem đá dế khi quân của Thành Cát Tư Hãn đang tiến vào kinh đô. Huyện Hoa Ngân nơi ông Thành sống, chưa bao giờ nghe có sản xuất được con dế cừ khôi nào cả, nhưng cách đây một năm, một vị quan tỉnh có được một con quán quân nên tiến cử vào cung. Sau đó một ông hoàng tử viết thư cho quan tổng trấn đòi ông phải gửi thêm mấy con cừ khôi khác vào cung cho kịp kỳ thi đấu hằng năm vào dịp Trung Thu. Thế là quan tổng trấn gửi cáo thị xuống các quan huyện, ra lệnh mang nộp lên những con tuyển chọn nhất. Một đòi hỏi riêng tư của một hoàng tử nay trở thành một chỉ dụ của hoàng đế truyền đến cho mọi thần dân. Giá của những con đá hay bỗng lên như diều, một quan huyện nghe nói chịu trả một số tiền lớn cho một con cừ khôi. Chơi đá dế cũng trở thành một môn chơi tiêu khiển phổ thông trong dân gian, và ai có được những con quán quân phải bằng mọi giá đem dâng chúng lên quan.

Một số xã trưởng nhân cơ hội này bắt dân đóng tiền mua dế dâng lên hoàng đế, gọi tiền này là “thuế dế.” Đối với ông Thành, sau khi thu tiền ông có thể bỏ túi hết một nửa rồi dùng nửa còn lại để lên phố mua dế. Tuy nhiên ông không làm như vậy. Nếu nhiệm vụ ông phải tìm dế đá hay để nộp thì chính ông phải đích thân đi bắt lấy.

Kiti chia sẻ niềm âu lo của cha và cảm thấy quan trọng vì thú tiêu khiển trẻ con của nó nay không những trở thành việc làm của người lớn mà còn cao quí nữa. Nó chăm chú nhìn vẻ mặt của cha khi cả hai ngồi nghỉ dưới bóng cây. Cha nó lấy ra một ống điếu, châm lửa hút, và đôi lông mày của ông khẽ rung rung khi ông bặp bặp rít vào. Hình như ông định nói gì nhưng lại thôi rồi bặp tiếp. Ông khẽ há miệng, ngưng rồi lại bặp. Cuối cùng ông nói với vẻ mặc cảm tội lỗi, “Kiti, con giúp bắt cho cha một con dế cừ khôi. Nó đáng cả khối tiền đó con biết không.”

“Thế là sao hả cha?”

“Nghe đây, có một cuộc tranh chức vô địch toàn quốc tại hoàng cung vào dịp lễ Trung Thu. Dế của ai thắng người đó sẽ được hoàng đế trọng thưởng.”

“Thật vậy sao – do chính hoàng đế thưởng à?” Kiti buột miệng nói. “Hoàng đế cũng thích dế sao?”

“Phải,” người cha miễn cưỡng trả lời, như một lời thú tội vừa tuôn ra từ đôi môi ông.

“Cha ơi, chúng ta sẽ bắt được một con thật chiến và sẽ giật được giải vô địch toàn quốc!” Kiti hết sức hào hứng hỏi. “Rồi cha có được thấy hoàng đế không?”

“Không, cha sẽ dâng con dế đó lên quan huyện, nếu xét thấy được ông ta sẽ chuyển lên quan tổng trấn. Bắt buộc nó phải là con thật chiến. Chủ nhân con thắng cuộc sẽ được thưởng nhiều nén bạc.”

“Cha, chúng ta sẽ bắt được con đó và chúng ta sẽ giàu có!” Thằng bé háo hức không kềm được nỗi nhiệt tình. Người cha đã trót thổ lộ cho nó biết một bí mật quan trọng khiến sự việc càng có vẻ nghiêm trọng thêm. Họ đứng dậy và tiếp tục tìm kiếm. Giờ đây Kiti cảm tưởng mình có trách nhiệm phải bắt giúp cha nó một con chiến đấu cừ nhất, mà cũng để giúp cho mẹ nó nữa vì nó vẫn thường nghe bà than thở về tình cảnh nghèo túng của gia đình.

“Con sẽ tìm được con dế vô địch. Nó sẽ tỷ thí và tỷ thí cho đến khi chúng ta chiến thắng,” thằng bé nói.

Người cha giờ đây cảm thấy sung sướng vì Kiti biết rất nhiều về dế và nó có thể giúp đỡ ông. Trong suốt ba ngày họ không tìm được một con nào khá cả, nhưng đến ngày thứ tư thì vận may vụt đến. Họ lên đến đỉnh rồi đi xuống ở mặt phía bên kia đồi, nơi có lùm cây và bụi rậm. Họ có thể nhìn thấy rõ mãi tận dưới dốc có một ngôi cổ mộ với đường biên bên ngoài dài hơn mười sáu mét. Kiti đưa ý kiến nên đi xuống khu mộ nơi có thể tìm thấy nhiều dế đá hay, đặc biệt vì cát ở đó có màu đo đỏ vàng. Họ men theo một khe nước nhỏ và đến được địa điểm nơi nhiều phiến đá xếp thành đường biên của cổ mộ. Kỳ vọng của họ quả không sai. Tiếng dế đang reo ca vào buổi chiều Tháng Bảy ấy, không phải vài con, mà có đến hàng chục đang cùng hòa âm. Linh cảm của Kiti quả thật nhạy bén. Một con ếch từ bãi cỏ dưới chân nó chợt nhảy qua rồi biến mất vào trong một cái lỗ, từ đó phóng ra một con dế to đẹp, nhảy đi những bước dài và mạnh. Con dế to lại biến vào một cái hang ngầm dưới đất, bị mấy phiến đá che khuất. Hai cha con khom người xuống, nín thở lắng nghe tiếng rúc phong phú và rền vang của loài côn trùng này. Kiti ngắt một cọng cỏ dài, cố ngoáy để con vật trở ra nhưng con vật chợt nín thinh. Bây giờ thì họ biết chắc là con dế quí giá đang ở trong cái hang đó, tiếc rằng khe nứt nhỏ còn hơn bàn tay của một đứa con nít, Kiti không thể thò vào được. Người cha thử thổi khói vào cho nó ra nhưng không thành công. Thế rồi Kiti đi lấy nước để đổ vào, trong khi cha nó cầm vợt chờ sẵn.

Chỉ trong vài giây, con dế nhảy gọn vào trong vợt. Nó thật đẹp, thuộc loại “cổ đen,” với cặp hàm rộng, thân mảnh mai, và đôi cẳng khỏe mạnh xếp lại thành góc dựng lên. Toàn thân nó được bọc với lớp màu đo đỏ nâu bóng chuốt, sậm và rực rỡ. Công khó của hai cha con quả là xứng đáng.

Họ quay về với nỗi hân hoan và đặt chiến lợi phẩm vào một cái lọ đất nằm trên bàn ở trong phòng người cha. Ông Thành cẩn thận phủ bên ngoài lọ bằng một tấm lưới đồng, dự định vào ngày hôm sau ông sẽ mang lên dâng cho quan huyện. Ông căn dặn vợ phải trông chừng mèo của hàng xóm đừng để chúng vào nhà, rồi đi ra ngoài kiếm hạt dẻ cho dế ăn. Ông ra lệnh không ai được phép đụng vào cái lọ trong khi ông đi vắng.

Kiti háo hức đến tột độ. Nó không thể kềm lòng mà không bước vào phòng để lắng nghe tiếng rúc của con bọ và được ngắm nghía thỏa thích.

Thế rồi tai họa xảy đến. Sau một lúc không nghe một thanh âm nào phát ra từ trong lọ, Kiti gõ lên thành lọ nhưng vẫn không thấy có một dấu hiệu chuyển động nào. Rõ ràng là con dế đã sổng mất. Vì không thế nhìn thấu vào chỗ tối bên trong lọ, nó mang lọ đến gần cửa sổ rồi từ từ kéo tấm lưới ra để nhìn thì cũng là lúc con dế nhảy tọt ra ngoài, đáp xuống trên kệ sách. Kiti cảm thấy tuyệt vọng. Nó vội đóng ngay cửa sổ lại và bắt đầu rượt bắt con vật khắp phòng. Trong cơn xao động nó quên việc dùng đến chiếc vợt, và khi vồ được con dế dưới lòng bàn tay, Kiti đã làm gãy cổ và một cẳng của con bọ.

Mặt Kiti tái ngắt vì sợ hãi. Miệng nó đắng nghét, mắt khô ráo không có giọt lệ. Nó đã làm hỏng điều hứa hẹn là phải lấy về được chức vô địch toàn quốc.

“Mầy mang nợ cả mười đời!” mẹ nó mắng. “Mầy sắp chết đến nơi! Khi cha mầy về, tao không biết cha mầy sẽ xử sự với mầy ra sao!”

Mặt Kiti trắng bệt. Cuối cùng thì nó òa khóc rồi chạy ra khỏi nhà.

Đến giờ ăn tối Kiti vẫn chưa về. Cha nó dằn vặt lẫn điên tiết, ông dọa sẽ đánh cho nó một trận nên thân. Hai vợ chồng nghĩ nó đang trốn đâu đó vì sợ không dám về nhưng tin là khi đói nó sẽ quay lại.

Đến mười giờ đêm vẫn không có dấu hiệu nào của Kiti và cơn giận của họ biến thành nỗi âu lo. Họ cầm đèn lồng bước ra bóng đêm để tìm nó; đến nửa khuya họ tìm thấy thân thể Kiti dưới đáy một cái giếng.

Khi thằng bé được đưa ra ngoài, nó hoàn toàn vô hồn. Đầu nó có một vết thương lớn, máu tươi vẫn còn ọc ra ở trán. Đây tuy là một cái giếng cạn nhưng toàn thân nó đều ướt sũng. Họ lau khô cho nó, băng bó vết thương, đưa về nhà rồi đặt lên giường, sung sướng khi nhận thấy tim nó vẫn còn đập. Một hơi thở nhẹ là chỉ dấu duy nhất cho thấy thằng bé vẫn còn sống. Cú sốc quá lớn đến nỗi Kiti mê man suốt cả ngày, nửa mê nửa tỉnh. Tối đó họ nghe nó lầm bầm trong giấc ngủ, “Con làm chết con dế vô địch rồi, con cổ đen, con cổ đen!”

Sáng hôm sau, Kiti có thể ăn được một ít cháo, nhưng nó trở thành một đứa trẻ khác lạ. Mọi cuộc sống hình như rời khỏi nó. Nó không còn nhận ra cha mẹ nó. Chị nó nghe tin cũng đến thăm, và nó không tỏ vẻ gì là nhận ra nốt. Một thầy lang già nói với cả nhà rằng đó là do nó quá sợ hãi và rằng chứng bệnh này quá trầm trọng không chữa bằng thuốc được. Lời nói duy nhất của nó được xem có mạch lạc là, “Con lỡ tay làm nó chết rồi!”

Sung sướng rằng ít nhất Kiti vẫn còn sống và hy vọng nó sẽ hồi phục dần, ông Thành nhớ lại mình còn hạn bốn ngày nữa phải bắt cho được một con dế đá hay khác. Ông hy vọng mong manh rằng nếu bắt được một con và đem khoe với Kiti, may ra Kiti sẽ lành bệnh, hơn nữa ở ngôi mộ cổ vẫn còn nhiều dế lắm mà. Ông thiu thiu ngủ. Đến lúc rạng đông ông nghe có tiếng dế rúc trong nhà. Ông ngồi dậy và lần theo tiếng dế vào nhà bếp, trông thấy một con dế nhỏ đứng yên trên tường cao.

Bây giờ thì một chuyện lạ xảy ra. Trong khi người cha đứng nhìn, nghĩ rằng con dế này mới nhỏ làm sao và chắc là vô dụng với tiếng kêu to như thế. Tuy nhiên kêu được ba tiếng thì con vật nhỏ xíu vụt nhảy xuống đứng trên tay áo ông như có ý mời ông hãy bắt nó.

Người cha chộp lấy rồi từ từ ngắm nghía. Đây là một con dế cổ dài với đôi cánh có hình cánh hoa mận. Con này có thể đá hay nhưng tiếc rằng nhỏ quá. Ông không dám nghĩ đem dâng nó cho quan huyện.

Một ông hàng xóm trẻ tuổi có một con dế cừ khôi, từng thắng trong mọi cuộc đọ sức trong làng. Ông này ra giá bán nó nhưng chưa tìm được người muốn mua, bởi vậy ông ta mang nó sang nhà ông Thành để gạ.

Khi ông Thành đề nghị cho hai con đá nhau, người đàn ông trẻ nhìn con dế nhỏ che miệng cười. Hai con vật được đặt vào bên trong một cái lồng, ông Thành cảm thấy xấu hổ cho con dế của mình và muốn rút lui. Người đàn ông trẻ nhất quyết cho chúng đấu để tỏ sức mạnh của con vật của mình, và ông Thành nghĩ lại mình cũng chẳng mất mát gì mấy nếu con dế nhỏ lỡ có chết hoặc bị đui què, nên đồng ý. Bây giờ thì hai con đứng đối diện nhau dưới một chỗ trũng. Con dế nhỏ đứng yên trong khi con bự nhe nanh, mặt bừng lên như muốn xông trận. Người đàn ông trẻ dùng sợi lông heo chọc vào con dế nhỏ để khiêu khích nó nhưng nó vẫn cứ bất động. Một lần nữa, ông này lại liên tục chọc vào con vật, rồi đột nhiên con dế nhỏ bắt đầu hành động, và hai con vật nhảy bổ vào nhau. Trong một tích tắc, họ thấy con dế nhỏ nghiêng đuôi, râu chìa lên, rồi với một cái nhảy mạnh mẽ, hàm của nó cắm phập ngay vào cổ đối phương. Người đàn ông trẻ vội nhấc lồng lên, đòi ngưng đấu với hy vọng cứu lấy con vật cưng của mình. Con dế nhỏ ngước đầu lên và rúc lên tiếng kêu chiến thắng.

Ông Thành hết sức hài lòng lẫn kinh ngạc, nhưng trong khi ông đang ngồi trầm trồ trước khám phá mới của mình cùng với gia đình, thì một con trống chợt xuất hiện mà không ai để ý và mổ vào con dế nhỏ. Con dế nhỏ nhảy đi nơi khác và bị rượt theo, rồi lập tức rơi ngay trong vòng nanh vuốt của nó. Ông Thành nghĩ phen này chắc là mất tiêu cả rồi. Thế rồi ông lại thấy con trống lắc đầu liên tục và thấy rằng con dế con đã ở vị thế an toàn trên cổ của đối phương và cứ thế mà tấn công. Cả nhà được một phen ngạc nhiên và thích thú.

Quá tin tưởng vào sức chiến đấu của dế nhỏ, ông Thành quyết định đem nó nộp cho quan huyện, kể cho ông nghe câu chuyện. Quan huyện không chút cảm kích và hết sức hoài nghi nhưng bằng lòng để con vật thử tài. Dế nhỏ thắng mọi trận so tài với những con người ta đem nộp về huyện đường. Quan huyện thử một lần nữa với một con trống, và con vật nhỏ với “đôi cánh hình hoa mận” này xử dụng cùng chiêu thức cũ bằng cách nhảy lên cổ của đối phương, trước sự kinh ngạc của mọi người. Hài lòng với con dế vô địch toàn huyện, quan huyện bèn đặt nó trong chiếc lồng bọc lưới đồng đem gửi lên quan tổng trấn. Hôm đó nhằm vào ngày cuối Tháng Bảy và quan huyện cho gửi lên tỉnh bằng ngựa.

Người cha chờ đợi và hy vọng; một con dế làm con ông bị bệnh, một con khác có thể chữa lành nó. Rồi ông nghe tin dế nhỏ nay đoạt giải vô địch toàn tỉnh và hy vọng của ông lại tăng thêm. Chắc phải chờ hết một tháng ông mới biết được kết quả của cuộc thi đấu toàn quốc.

“Hừ!” Mẹ của Kiti nói với chồng khi nghe kể về chiến thuật tấn công của dế nhỏ. “Như vậy có khác gì Kiti khi nó nhảy lên lưng ông thầy và đấm ông túi bụi từ phía sau?”

Kiti vẫn chưa hồi phục từ cơn sốc. Suốt ngày nó chỉ ngủ và mẹ nó phải lấy muỗng đưa thức ăn vào miệng cho nó. Trong mấy ngày đầu, bắp thịt nó co rút và mồ hôi ra đầm đìa. Thầy lang ghé lại thăm mạch cho nó, bảo rằng Kiti bị vỡ túi mật vì quá sợ hãi, ngoài ra hệ thống nội tiết âm dương cũng bị đảo lộn. Ba hồn bảy vía của nó thì bay mất hết. Cần phải chữa trị từ từ và lâu mới phục hồi sinh lực được.

Ba ngày sau, Kiti lại lên cơn lần nữa. Rồi đầu óc nó có vẻ sáng sủa hơn. Hôm đó nhằm ngày cuối Tháng Bảy, mẹ nó còn nhớ rất rõ, Kiti nở nụ cười khi nói với bà, “Con mới thắng!” trong khi mắt nhìn vào khoảng không xa xăm.

“Con thắng cái gì?”

“Con vừa mới thắng.”

“Thắng cái gì?”

“Con không biết. Con phải thắng.” Nó có vẻ như còn trong cơn mê sảng.

Thế rồi hồn vía của nó lại rời đi mất, nó rơi vào trạng thái hôn mê trong suốt nửa tháng.

Vào rạng đông ngày mười tám Tháng Tám, mẹ của Kiti chợt nghe tiếng nó gọi, “Mẹ ơi, con đói bụng!”

Từ khi xảy ra tai nạn, đây là lần đầu tiên Kiti gọi mẹ nó. Bà nhảy tót ra khỏi giường, gọi chồng, cả hai cùng bước vào phòng xem đứa con trai của họ.

“Con đói bụng mẹ à.”

“Con thân yêu của mẹ, con khỏe lại rồi!” Người mẹ dùng vạt áo quẹt lên mắt.

“Con cảm thấy sao con?” Người cha hỏi.

“Con thấy khỏe cha à.”

“Con đã ngủ thật là lâu.”

“Vậy sao? Bao lâu?”

“Khoảng ba tuần lễ. Con làm cha mẹ phát hoảng.”

“Bộ lâu vậy sao? Con không biết gì cả. Cha ơi, con không có ý làm hại con dế cừ khôi đó. Cũng tại con cố bắt lại nó cho cha mà thôi.” Giọng nói nó hoàn toàn rất bình thường, nó nói như chuyện chỉ mới xảy ra một ngày trước.

“Con đừng lo Kiti,” người cha nói. “Lúc con bệnh, cha có bắt được một con dế còn hay hơn nữa. Con này nhỏ nhưng chiến đấu thì hết sức tuyệt. Quan huyện chấp nhận nó và gửi nó lên quan tổng trấn. Cha nghe là trận nào nó cũng thắng cả.”

“Vậy là cha tha lỗi cho con chứ?”

“Dĩ nhiên rồi. Con đừng có lo chi cả con trai. Con dế nhỏ can trường đó có thể là vô địch toàn quốc. Bây giờ con cho tâm trí nghỉ ngơi đi, rồi con sẽ sớm đứng dậy được thôi.”

Cả nhà một lần nữa lại cảm thấy hạnh phúc. Kiti ăn uống ngon miệng, chỉ than một điều là đôi bắp chân của nó sao mà ê ẩm quá.

“Chuyện đó rất là lạ,” mẹ Kiti nói.

“Mẹ à, con thấy như mình vừa mới chạy nhảy cả hằng trăm dặm.”

Mẹ nó xoa bóp chân cho nó trong khi Kiti cứ tiếp tục than bắp chân nó như cứng đơ.

Trong một ngày, Kiti có thể đứng dậy và bước được vài bước. Sau khi hồi phục được ba ngày, ba mẹ con ngồi ăn hạt dẻ dưới ngọn đèn dầu sau khi dùng cơm tối xong.

“Hạt dẻ này giống thứ con được ăn ở hoàng cung,” Kiti chợt nhận xét.

“Ở đâu hả con?”

“Ở trong hoàng cung,” Kiti trả lời, không để ý rằng lời nói của nó nghe lạ tai thế nào đối với cha mẹ nó.

“Chắc con mơ phải không?”

“Không đâu mẹ, con ở đó thật mà. Bây giờ thì con nhớ rồi. Khi ra khỏi cái lồng bằng vàng, con thấy tất cả mấy bà cung phi đều mặc đồ đỏ, xanh, vàng.”

“Con mơ thấy như vậy lúc con bệnh phải không?”

“Không, thật đó mà. Tin con đi mẹ, con có ở tại đó.”

“Con thấy gì nào?”

“Có mấy ông râu dài và một người con đoán là hoàng đế. Họ đến để xem con. Con chỉ nghĩ đến cha và tự nhủ rằng mình phải thắng mới được. Khi con được cho ra khỏi lồng, con thấy một gã bự con. Hắn có mấy bộ lông tu rất dài khiến con thấy sợ cho đến khi cuộc đấu bắt đầu. Đêm từng đêm, con chiến đấu với ý tưởng duy nhất là phải mang về chiến thắng cho cha. Vào đêm cuối, con gặp một tên đầu đỏ. Con sợ khiếp không dám nhìn hắn. Khi hết sợ rồi, con tiến tới, nhưng khi hắn tiến đến phía con, con nhảy đi chỗ khác. Thân thể con được một điều là gọn, nhẹ và con thật cảnh giác. Con cắn rách đuôi hắn và cạp lìa hai cẳng trước của hắn. Hắn nổi khùng, miệng nhe nanh nhào về phía con. Con nghĩ chắc đời tàn rồi nhưng con cắn được vào đâu đó nơi hắn. Rồi hắn đâm ra loạng choạng. Con thấy mắt hắn chảy máu. Con nhảy ngay lên cổ hắn và dứt điểm.”

Kiti tả rất chân thực đến nỗi cha mẹ nó chỉ biết im lặng lắng nghe, hiểu rằng con mình hoàn toàn thành thực khi kể lại điều nó thấy được trong giấc mơ.

“Vậy là con đoạt được giải vô địch toàn quốc phải không?” người cha hỏi.

“Con nghĩ là con chiến thắng. Con muốn được như vậy vô cùng. Con chỉ nghĩ đến cha thôi cha à.”

Hai vợ chồng không biết có tin được vào câu chuyện của con mình hay không. Thằng bé không phịa chuyện, họ biết rõ như vậy. Họ chỉ việc chờ xem sao.

Dế nhỏ được gửi đi trong một chiếc lồng vàng theo hệ thống triều đình và đến kinh đô chỉ một ngày trước khi cuộc thi đấu bắt đầu. Quan tổng đốc vô cùng liều lĩnh mới dám đem nộp lên hoàng tử một con dế nhỏ đến như vậy. Nếu nó thắng thì chẳng có gì phải nói, nhưng ngược lại, chắc ông sẽ bị giễu cợt là lão già lẩm cẩm. Ông thấy run khi nghĩ đến điều ấy. Bản văn tự chính thức viết ba ngàn chữ kèm theo với cái lồng dế là cả một sự bất thường, nội dung vừa tạ lỗi vừa khoa trương.

“Ông bạn tôi chắc điên mất rồi,” hoàng tử nói khi vừa đọc xong lá thư.

“Sao không cho nó thử một phen đi?” công chúa vợ của ông hoàng đề nghị.

Con vật bé nhỏ can trường chiến đấu bằng sức lực của một con dế siêu đẳng. Như họ đều thấy, nó không tỏ ra chút sợ sệt khi được đặt đối diện với những con vô địch toàn tỉnh khác.

Sau đêm đầu tiên mà nó hạ được một con vô địch có vóc dáng lớn gấp đôi, con vật bé nhỏ có cánh hình hoa mận được đánh giá là kỳ diệu và trở thành đề tài bàn tán trong triều.

Đêm này sang đêm khác, đêm nào dế nhỏ cũng giành được chiến thắng. Quả thật là nó có được cái lợi thế nhẹ và nhanh lẹ. Trong khi không con vô địch nào rớ tới nó được, nó lại luôn luôn quấy rối đối phương to lớn hơn bằng những cuộc tấn công thần tốc, cắn đối thủ hết chỗ này đến chỗ khác trước khi dứt điểm bằng một cái ngoạm thật chính xác. Thành tích của nó thực hết sức lạ thường.

Cuộc tỷ thí kéo dài năm ngày từ mười bốn đến mười tám Tháng Tám. Vào đêm cuối cùng, nó trở thành kẻ vô địch. Sáng hôm sau tay quán quân tí hon hoàn toàn biến mất khỏi chiếc lồng.

Khi tin này đến với gia đình Kiti, người cha bật khóc, cả nhà vui mừng tột độ. Người cha mặc bộ đồ đẹp nhất và dẫn Kiti theo lên huyện đường. Người ta cho ông biết ông được làm hội viên danh dự của trường quốc tử giám trong tỉnh với tiền cấp dưỡng hằng tháng để giúp đỡ ông.

Vận may đổi thay đến với gia đình, Kiti đồng thời được theo học ở quốc tử giám. Kiti không những thấy ngượng ngùng khi bị bắt kể lại về câu chuyện của mình, nó còn thôi không muốn xem đá dế nữa vì nó không có thể chịu nổi.

Về sau Kiti trở nên một viện sĩ và có thể giúp đỡ cha mẹ an dưỡng tuổi già. Ông Thành giờ đây là một ông nội với đầy vẻ tự hào, không bao giờ cảm thấy chán khi kể lại câu chuyện của con trai mình, và ngày một súc tích thêm, và ông luôn kết thúc với câu, “Có nhiều cách để tỏ lòng hiếu thảo đối với cha mẹ. Khi tâm ta thiện, trời đất sẽ mang lại may mắn cho kẻ biết yêu thương cha mẹ.”

 

 

 

 

 

Thảo luận

One thought on “Thằng Bé nhập hồn Dế – Bồ Tùng Linh * Triệu Phong dịch

  1. Không biết có phải là thuộc loại truyện ” Liêu trai chí dị ” không nhưng truyện hay và ý nghĩa với chủ đích nâng cao đề tài “trung , hiếu , tiết , nghĩa ” và kết quả có hậu.Có lẻ hàm ý khuyên con người nên sống đúng với đạo nghĩa, trung thực với đời , hiếu kính với cha mẹ sẽ được hưởng phúc về sau.
    Cám ơn Triệu Phong.
    MN.

    Số lượt thích

    Posted by NguyenMinhNguyet | Tháng Ba 4, 2015, 12:24 chiều

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: