//
you're reading...
chuyện kinh dị, Triệu Phong, Truyện Dịch

Bộ mặt trăng rằm – Jack London * Triệu Phong dịch

London in 1914. (Wikipedia)

Jack London (1876-1916) là nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động Hoa Kỳ. Là người tiên phong trong tiểu thuyết thương mãi và tạp chí Mỹ, ông là một trong những tác giả Mỹ đầu tiên trở nên nổi tiếng trên thế giới và kiếm được khối tài sản lớn từ việc viết lách.

London là thành viên của nhóm văn học cấp tiến “The Crowd” ở San Francisco và là người ủng hộ nhiệt tình cho quyền lợi động vật, quyền của người lao động và chủ nghĩa xã hội. London đã viết một số tác phẩm đề cập đến những chủ đề này, chẳng hạn như cuốn tiểu thuyết đen tối The Iron Heel, tác phẩm phi hư cấu The People of the Abyss, War of the Class Before Adam.

Các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông bao gồm The Call of the Wild (Tiếng gọi nơi hoang dã) và White Fang (Nanh trắng), cả hai đều lấy bối cảnh ở Alaska và Yukon trong Cơn sốt vàng Klondike, cũng như các truyện ngắn To Build a Fire, An Odyssey of the NorthLove of Life. Ông cũng viết về Nam Thái Bình Dương trong những câu chuyện như The Pearls of ParlayThe Heathen.

(Theo Wikipedia)

Truyện đọc dưới đây được dịch từ nguyên tác truyện ngắn Moon-Face của Jack London, đăng trong tuyển tập Masterpieces of Terror and the Supernatural, của Nxb Doubleday & Company, Inc. 1985. (TP)

John Claverhouse là người đàn ông có bộ mặt hình trăng rằm. Bạn biết kiểu người đó mà, gò má rộng, cằm và trán hòa quyện với đôi gò má, tạo nên một khuôn mặt tròn trịa hoàn hảo, còn chiếc mũi thì rộng bè và mũm mĩm, nằm cách đều chu vi khuôn mặt, áp dẹt ngay chính giữa, tựa như một khối bột nhão dính trên trần nhà. Có lẽ đó là lý do tại sao tôi ghét hắn, quả thực, hắn đã trở thành một cái gai trong mắt tôi. Tôi tin rằng Trái Đất đang trĩu nặng bởi sự hiện diện của hắn. Có lẽ mẹ tôi đã tin vào những điều mê tín về mặt trăng, và đã nhìn ngắm nó qua sai vai vào sai thời điểm.

Dù sao đi nữa, tôi đã ghét John Claverhouse. Chẳng phải vì hắn gây cho tôi điều mà xã hội cho là sai trái hay là một việc làm xấu. Còn hơn thế nữa. Cái xấu ác ấy thuộc về một dạng thức sâu sắc tinh tế hơn—vô cùng khó nắm bắt, vô hình đến nỗi thách thức mọi sự phân tích rõ ràng, rành mạch bằng ngôn từ. Chúng ta từng trải nghiệm những điều như thế vào một thời kỳ nào đó trong đời. Chúng ta gặp một cá nhân nào đó lần đầu tiên, kẻ mà phút chốc trước đó chúng ta không hề mơ có hiện hữu; đã vậy mà ngay giây phút đầu tiên mới chạm trán, chúng ta nói ngay, “Tôi không ưa con người đó.” Tại sao chúng ta không ưa nổi hắn? Chà, chúng ta chẳng rõ tại sao; chúng ta chỉ biết rằng chúng ta không rõ. Chúng ta đã nảy sinh ác cảm — chỉ vậy thôi. Và tôi cũng vậy đối với hắn.

Một kẻ như vậy có quyền gì mà được hạnh phúc? Thế mà hắn lại là kẻ lạc quan yêu đời mới chết chứ. Hắn luôn thơ thới, hân hoan và tươi cười. Mọi sự với hắn bao giờ cũng tốt đẹp, khốn thật! Chao ôi! Tâm can tôi bị cào cấu biết bao trước việc hắn quá đổi sung sướng như vậy! Những người khác có thể cười nhạo, và điều đó chẳng làm tôi bận tâm. Ngay cả tôi cũng thường cười chính bản thân trước khi tôi gặp John Claverhouse.

Nhưng than ôi tiếng cười của hắn! Nó làm tôi, bực tức, điên tiết lên, như thể không gì khác dưới ánh mặt trời có thể làm tôi nổi đóa như vậy. Tiếng cười ấy ám ảnh tôi, bám chặt lấy tôi, quyết không buông. Ấy là thứ tiếng cười lớn oang oang. Đang đi hay đang ngủ, nó vẫn luôn canh cánh bên tôi, rít lên tiếng chói tai, vo ve xuyên suốt tim tôi nghe như tiếng rít dữ dội. Khi ánh dương vừa ló dạng, hắn đã cười hú vang khắp cánh đồng làm hỏng mất giấc mơ buổi sáng dễ chịu của tôi. Rồi dưới cái ánh nắng chói chang gay gắt giữa trưa, trong khi hoa lá xanh tươi đều khum rũ xuống, chim chóc tìm vào ẩn trong rừng sâu, và toàn cả thiên nhiên chìm vào giấc ngủ, thì tiếng “Ha! Ha!” và “Hô! Hô!” đinh tai của hắn lại vươn lên tận trời và thách thức mặt trời. Rồi đến lúc nửa đêm tối đen, từ chỗ giao lộ lẻ loi, nơi hắn vừa từ dưới phố chạy quành vào nơi hắn ở, vọng lên tiếng rền rỉ ghê tởm của hắn làm vực tôi dậy từ giấc ngủ, khiến tôi phải nén cơn tức bằng cách nắm chặt hai bàn tay.

Vào lúc nửa khuya, tôi lén lùa đám gia súc của hắn ra ngoài đồng, vậy mà sáng hôm sau tôi đã nghe vang dội tiếng cười sảng khoái của hắn khi hắn lùa chúng ra trở lại. “Chả có sao cả,” hắn nói; “không nên đổ tội cho đám súc vật đáng thương vì đã đi lạc sang đồng cỏ tươi tốt hơn.”

Hắn có nuôi một con chó tên là Mars, đây là một con vật to lớn, oai vệ, lai giữa hai loại chó săn deerhound và bloodhound, và có vẻ ngoài giống cả hai. Mars là niềm vui lớn của hắn, vì thế họ luôn khắng khít bên nhau.

Tôi kiên nhẫn chờ đợi thời cơ, và rồi một ngày nọ, khi cơ hội đã chín muồi, tôi dụ con vật đi nơi khác và kết liễu nó bằng món thịt bò bít-tết tẩm thuốc độc strychnine. Sự kiện ấy đã không để lại ấn tượng nào nơi John Claverhouse. Tiếng cười của hắn vẫn sảng khoái và thường xuyên như mọi khi, và bộ mặt hắn vẫn như trăng rằm như độ nào.

Thế rồi tôi bèn nổi lửa đốt kho thóc và chuồng ngựa của hắn. Nhưng sáng hôm sau, đúng vào ngày Chủ nhật, hắn bước đi vẫn đầy vẻ thơ thới.

“Bác đi đâu vậy?” Tôi hỏi khi hắn đi ngang qua ngã tư.

“Câu cá hồi,” hắn đáp, mặt rạng rỡ như trăng rằm. “Tôi cực kỳ mê món cá hồi suối.”

Đã bao giờ có một kẻ bất trị như thế chưa chứ! Tất cả thu hoạch của hắn đã tiêu vong theo với kho thóc và chuồng ngựa. Tôi biết chúng không hề được bảo hiểm. Đã vậy trước tình trạng đói kém và mùa đông khắc nghiệt sắp tới mà hắn vẫn hớn hở lên đường đi bắt cá hồi, mả thực vậy, bởi lẽ hắn “mê tơi” món cá này!

Giá như chỉ chút nỗi u sầu tiêu vong tài sản thoáng qua mặt hắn chứ không cần phải kéo dài và nặng nề—hay mang chút vẻ lạnh lẽo tựa ánh trăng—hoặc giả hắn chỉ cần một lần gỡ bỏ nụ cười kia khỏi gương mặt, thì tôi tin chắc rằng tôi đã có thể tha thứ cho sự hiện diện của hắn.

Nhưng không, hắn chỉ càng trở nên hân hoan thơ thới hơn mỗi khi gặp phải nghịch cảnh.

Tôi xúc phạm hắn nhưng hắn nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên, chậm rãi mỉm cười.

“Tôi đối đầu với bác ư? Tại sao chứ?” hắn từ tốn hỏi. Rồi hắn bật cười. “Bác thật tức cười! Hô! Hô! Bác sẽ hại tôi chết mất! Hê! Hê! Hê! Hô! Hô! Hô!”

Bạn muốn sao nữa đây? Chuyện đó đã vượt quá sức chịu đựng của tôi rồi. Thề có máu của Judas, tôi căm ghét hắn biết chừng nào. Rồi còn cái tên Claverhouse đó nữa. Cái tên ghê khiếp! Claverhouse, chẳng phải nó thật nực cười sao? Lạy Chúa lòng lành, tại sao lại là Claverhouse? Thắc mắc mà tôi cứ tự hỏi lập đi lập lại mãi. Tôi không quan tâm với những tên như Smith, hay Brown, hoặc Jones – nhưng với cái tên Claverhouse!..Tôi dành cho bạn đó. Bạn tự lập lại cái tên Claverhouse thử đi. Hãy thử nghe cái âm thanh nực cười Claverhouse của nó mà xem. Liệu một người đàn ông có nên mang một cái tên như vậy được không? Tôi hỏi bạn. – “Không,” bạn đáp. Và – “không,” tôi trả lời.

Tôi chợt nhớ đến khoản thế chấp của hắn. Với việc mùa màng và kho thóc đều đã bị phá hủy, tôi biết chắc hắn sẽ không còn khả năng chi trả. Thế là tôi nhờ một tay cho vay tiền khôn ngoan, kín tiếng và keo kiệt đứng ra nhận chuyển nhượng khoản thế chấp đó. Tôi không trực tiếp ra mặt, nhưng thông qua người đại diện này, tôi đã ép buộc việc tịch biên tài sản. John Claverhouse chỉ có vỏn vẹn vài ngày (tin tôi đi, không hề quá thời hạn luật định) để dọn đồ đạc và tài sản của mình khỏi nơi đó. Rồi tôi tà tà đi xuống để xem hắn đón nhận chuyện đó ra sao, bởi hắn đã sống ở đó hơn hai mươi năm rồi. Nhưng hắn đón tôi với đôi mắt to tròn long lanh, cùng ánh sáng rạng ngời đang bừng lên và lan tỏa dần trên gương mặt đến khi thành vầng trăng tròn vạnh.

“Ha! Ha! Ha!” Hắn cười, “Đứa nhóc nhà tôi đúng là một cục cưng hài hước. Đã bao giờ bác nghe thấy chuyện gì như thế chưa? Để tôi kể bác nghe. Nó xuống chơi dưới gần mép sông và khi ấy một mảnh bờ sụp xuống làm bắn nước lên người nó. Nó kêu lên, “Papa! một vũng nước to bắn tung lên, tạt vào người con đó papa.”

Hắn ngừng lại, đợi tôi cùng nhập chung với hắn sự hả hê đầy ma quái của hắn.

“Tôi chả thấy có gì đáng cười cả,” Tôi đáp gọn lỏn, và tôi biết vẻ mặt mình đã trở nên cau có.

Hắn nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên, và rồi cái ánh sáng khốn kiếp ấy xuất hiện, long lanh và lan tỏa, như tôi đã từng tả, đến khi khuôn mặt hắn tỏa sáng dịu và ấm như ánh trăng hè, và rồi tiếng cười – “Ha! Ha! Tức cười thật! Bác không thấy à? Hê! Hê! Hô! Hô! Hô! Bác ấy không thấy kìa! Tại sao vậy, bác hãy xem đây. Bác biết không một vũng nước..”

Nhưng tôi đã quay gót bỏ đi. Đó là lần cuối. Tôi hết chịu nổi nữa rồi. Mọi chuyện phải kết thúc ngay tại đây, tôi nghĩ thầm, nguyền rủa hắn. Trái đất nên được giải thoát khỏi hắn. Rồi trong khi tôi đi lên đồi, tôi có thể nghe tiếng cười ma quái của hắn vang vọng cả bầu trời.

Giờ đây, tôi tự hào về việc làm mọi thứ một cách gọn gàng, chỉn chu và khi tôi quyết định giết John Claverhouse tôi đã định thực hiện việc đó theo cách mà sau này nhìn lại, tôi sẽ không cảm thấy hổ thẹn. Tôi ghét sự vụng về, làm hỏng việc, tôi ghét sự tàn bạo. Với tôi có cái gì đó đáng ghê tởm khi chỉ việc sử dụng nắm đấm để đánh một người, thật đáng tởm! Vì thế, biện pháp đâm, đánh bằng gậy hay bắn John Claverhouse (ôi cái tên!) đều chẳng hề hấp dẫn tôi tí nào. Tôi không những cảm thấy thôi thúc phải làm việc đó một cách chỉn chu và một cách có nghệ thuật, nhưng đồng thời cũng phải làm sao để sau đó không dấy lên dù chỉ là chút nghi ngờ nhỏ nhất nhắm vào mình.

Để đạt được mục đích này, tôi đã dồn hết trí lực, và sau một tuần ấp ủ sâu sắc, tôi đã vạch ra một kế hoạch. Rồi tôi bắt tay ngay vào việc. Tôi mua một con chó săn nước, năm tháng tuổi, và dồn hết sự chú ý vào việc huấn luyện nó. Nếu có ai tò mò muốn theo dõi tôi, họ hẳn sẽ nhận thấy rằng cuộc huấn luyện này chỉ bao gồm một việc duy nhất – đó là tìm lấy về.

Tôi dạy cho con chó tôi đặt tên Bellona đi lượm về những cây gậy tôi ném xuống nước, không chỉ đi tìm thôi mà còn phải tìm tha về ngay lập tức mà không được dùng miệng để đùa chơi một hồi trước khi mang về. Vấn đề là nó không được dừng lại vì bất cứ điều gì, mà phải gấp rút giao lại cho bằng được chiếc gậy. Tôi tạo một cuộc tập dượt bằng cách bỏ chạy để nó, miệng ngậm cây gậy, rượt theo cho đến khi bắt kịp tôi. Nó là con vật thông minh và tham gia trò chơi với cả nhiệt huyết, và chẳng bao lâu sau tôi đã thấy hài lòng.

Sau đó, vào một dịp tình cờ đầu tiên, tôi giới thiệu con Bellona với John Claverhouse. Tôi biết rõ mình đang làm gì, bởi tôi nắm được một điểm yếu nhỏ của hắn cũng như một thói hư tật xấu thầm kín mà hắn thường xuyên và không thể nào bỏ được.

“Đừng,” hắn nói khi tôi đặt đầu sợi dây dắt chó vào tay hắn. “Đừng, bác không thực sự có ý đó đâu.” Miệng hắn mở to và nhe ​​răng cười toe toét trên khuôn mặt trăng tròn đáng ghét của mình.

“Tôi.. tôi đã nghĩ là.. một cách nào đó.. bác không ưa tôi,” hắn giải thích. “Chẳng phải thật buồn cười khi tôi mắc một sai lầm như vậy sao?” Và khi nghĩ đến điều đó, hắn ôm bụng cười ngặt nghẽo.

“Nó tên gì?” Hắn cố gắng hỏi giữa những cơn cười bùng phát dữ dội.

“Bellona,” tôi đáp.

“Hê! Hê!” Hắn cười khúc khích. “Một cái tên thật nực cười!”

Tôi nghiến chặt răng, vì vẻ cợt nhả của hắn khiến họ trở nên căng thẳng, và những lời nói gay gắt bất chợt nổ ra giữa họ. “Nó là vợ của con Mars đó, bác có biết không chứ.”

Rồi ánh trăng rằm lại bắt đầu lan ra trên khuôn mặt hắn, cho đến khi hắn bùng nổ với câu nói, “Đó là con chó còn lại của tôi. Chà, chắc giờ nó thành góa phụ rồi. Hô! Hô! Hê! Hê! Hô! Hô!” Hắn hét vọng theo về hướng tôi, còn tôi thì quay lưng, chạy vọt lẹ lên đồi.

Tuần lễ trôi qua, rồi vào một chiều tối thứ Bảy, tôi hỏi hắn, “Thứ Hai bác đi xa phải không?”

Hắn cười gật đầu.

“Vậy là bác hết cơ hội để bắt được mớ cá hồi suối mà bác cực kỳ mê mẩn đó nữa rồi.”

Nhưng hắn không chú ý đến lời chế nhạo ấy. “Ồ, tôi không biết,” hắn chặt lưỡi. “Ngày mai tôi sẽ lên đó và sẽ cố thử hết sức xem sao.”

Vậy là sự bảo đảm càng thêm phần chắc chắn, và tôi trở về nhà, lòng lâng lâng sung sướng.

Sáng sớm hôm sau tôi thấy hắn đi ngang qua, mang theo vợt lưới và bao tải, còn Bellona thì lẻo đẻo theo bén gót. Tôi biết hắn đang đi về phía đồng cỏ phía sau, trèo xuyên qua những lùm bụi thấp để lên đến đỉnh núi. Thận trọng không để hắn thấy, tôi men theo đường sống núi suốt vài dặm để đến một lòng chảo tự nhiên giữa những ngọn đồi, nơi con sông nhỏ cuồn cuộn chảy ra từ một hẻm núi rồi dừng lại nghỉ lấy hơi bên một hồ nước rộng và tĩnh lặng, bao quanh là những vách đá. Đó chính là địa điểm lý tưởng. Tôi ngồi xuống phần sườn núi nhô ra, nơi có thể quan sát được mọi chuyện đang diễn ra, rồi châm tẩu thuốc hút.

Chưa đầy vài phút trôi qua John Claverhouse đã xuất hiện bì bõm bước ngược lên lòng suối. Bellona thong thả chạy quanh hắn; cả hai đều đang hân hoan, phấn chấn. Những tiếng sủa ngắn, đanh gọn của con Bellona hòa lẫn với những âm thanh trầm ấm từ lồng ngực hắn. Đến bên hồ, hắn quăng mớ vợt lưới và bao tải xuống rồi rút ra từ túi sau quần vật trông giống như một cây đèn cầy to mập. Nhưng tôi biết đó là một thanh cây “khủng”, vì đó chính là cách hắn dùng để bắt cá hồi. Hắn đánh bắt chúng bằng thuốc nổ. Hắn gắn dây cháy chậm vào bằng cách quấn chặt thanh “khủng” đó trong một miếng bông gòn, rồi hắn đốt dây cháy chậm và ném chất nổ xuống hồ.

Nhanh như một làn chớp, Bellona đã nhảy tòm vào trong hồ, tìm đuổi theo. Tôi những muốn hét to vì sung sướng còn Claverhouse thì vội la chận nó lại nhưng vô ích. Hắn ném theo hàng loạt đá về phía con vật nhưng nó vẫn bơi đều đặn cho đến khi ngoạm được thanh “khủng”, xong mới quay đầu bơi về phía bờ. Thế rồi lần đầu tiên hắn nhận thức được mối hiểm nguy và bắt đầu cắm đầu chạy. Như tôi đã tiên liệu và hoạch định trước, con vật sau khi lên đến bờ liền chạy đuổi theo hắn. Ồ, tôi cho bạn hay rằng nó thật tuyệt vời! Như tôi đã nói, cái hồ nằm bên trong một lòng chảo. Ở cả trên và dưới, dòng suối có thể vượt qua được bằng những bậc đá. Vòng quanh và vòng quanh, lên và xuống, và băng qua những tảng đá, bày ra cuộc đua giữa hắn và con Bellona. Tôi không bao giờ có thể tin rằng một người đàn ông vô duyên như vậy lại có thể chạy nhanh đến thế. Nhưng hắn đã chạy, Bellona nhanh chân rượt theo và bắt kịp. Thế rồi ngay khi nó vừa đuổi kịp, hắn sải bước thật nhanh và nó lao tới, mũi ngang tầm đầu gối hắn, thì chợt có một tia chớp lóe, một cụm khói bùng lên, một vụ nổ khủng khiếp, và nơi người đàn ông và con chó tíc tắc trước đây còn đó thì nay không còn thấy gì, ngoại trừ một lỗ lớn trên mặt đất.

“Tử vong do tai nạn trong khi đánh cá trái phép” là phán quyết của bồi thẩm đoàn điều tra, và đó là tại sao tôi tự hãnh diện về kế hoạch trừ khử Claverhouse một cách gọn gàng, chỉn chu, và có nghệ thuật. Không có sự vụng về, không có sự tàn bạo, không có gì đáng xấu hổ trong toàn bộ, như tôi đã bảo đảm là bạn sẽ đồng ý. Từ nay không còn tiếng cười ma quái của hắn vang vọng trên các ngọn đồi nữa, không còn bộ mặt trăng rằm mũm mĩm của hắn nhô lên làm tôi khó chịu nữa. Ngày của tôi bây giờ thật yên bình, và giấc ngủ của tôi thật sâu.

Thảo luận

Không có bình luận

Bình luận về bài viết này

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Thư viện

Chuyên mục