//
you're reading...
góp nhặt cát đá, Truyện Dịch

Anna mặt trắng * Heinrich Böll – Lê Quang dịch

Heinrich Böll (1917-1985, Giải thưởng Nobel Văn chương 1972) là một trong những cây bút Đức xuất sắc nhất sau Thế chiến II. Năm 1939 ông bị vào lính, năm 1945 bị bắt làm tù binh. Những trải nghiệm thời ấy được ông ghi lại trong hai tập thư gửi người thân.

Böll nổi tiếng nhất với rất nhiều truyện ngắn mang chất Hemingway, tả cảnh tàn phá và đói khát của những người sống sót, cũng như sự vỡ mộng của những người hồi hương từ địa ngục.

Một số tác phẩm đã ra mắt ở Việt Nam: Lạc lối vềThợ cườiCái mặt buồn của tôiDanh dự đã mất của Katharina BlumĐêm thánh vô cùng. Nhưng các tác phẩm này đều không được văn đàn Đức coi là tiêu biểu của Böll, mà là các tiểu thuyết như Billard um halb zehn (Ván bi-a lúc 9 rưỡi), Ansichten eines Clowns (Quan điểm của một gã hề), Gruppenbild mit Dame (Bức chân dung tập thể với một quý bà)…

Mãi đến mùa xuân 1950 tôi mới từ chiến trường trở về, và tôi không gặp được người quen nào nữa. Tôi may mắn được cha mẹ để lại chút tiền. Tôi thuê một căn phòng ở thành phố. Tôi nằm trên giường, hút thuốc, chờ đợi mà không rõ đợi gì.

Đi làm thì tôi không có hứng. Tôi đưa tiền cho bà chủ nhà để bà ấy mua mọi thứ và nấu ăn cho tôi. Mỗi lần đem cà phê hay thức ăn vào phòng, bà nán lại lâu hơn tôi muốn. Con trai bà hy sinh ở làng Kalinovka, và cứ vào phòng là bà đặt cái khay lên bàn và đi tới góc phòng âm u nơi tôi kê giường. Tôi nằm nghĩ vẩn vơ ở đó, dụi đọt thuốc lên tường, khiến bức tường cạnh giường đầy những vết bẩn. Bà chủ nhà hom hem và nhợt nhạt, và khi bà đứng đó trong ánh sáng nhập nhoạng, mặt bà phía trên mặt tôi, tôi thấy sợ bà. Thoạt tiên tôi tưởng bà bị điên, vì mắt bà rất sáng và to, và lúc nào bà cũng hỏi tôi về con trai bà. “Cậu có chắc là cậu không biết nó không? Cái làng ấy tên là Kalinovka – cậu chưa ở đó bao giờ ư?”.

Quả thực tôi chưa từng nghe tên làng Kalinovka, và lần nào tôi cũng quay mặt vào tường: “Không ạ, chắc chắn là không, cháu không biết”.

Bà chủ nhà tôi không điên, bà là một người rất chỉn chu, và câu hỏi của bà làm tôi rất đau lòng. Bà hỏi đi hỏi lại, mỗi ngày vài bận, và mỗi khi ra bếp thì tôi phải ngắm nghía bức hình con trai bà, một bức ảnh màu phía trên sofa. Hình một chàng trai tóc vàng tươi cười, mặc bộ quân phục ngày lễ.

“Ảnh chụp ở nơi đóng quân đấy – bà chủ nhà nói – Trước khi ra trận”.

Bức hình chụp từ ngực trở lên. Chàng trai đội mũ sắt, đứng trước một mô hình lâu đài đổ nát, có dây nho giả viền quanh.

“Nó làm nghề bán vé tàu điện – bà chủ nhà nói – Chăm chỉ lắm”. Và lần nào bà cũng lôi ra một hộp bìa cứng đầy ảnh đặt giữa đống vải vụn và chỉ trên bàn máy khâu. Tôi buộc phải cầm lên rất nhiều ảnh con bà: ảnh chụp cả lớp hồi đi học, bao giờ ở hàng đầu cũng có một đứa ngồi giữa, dựng tấm bảng đen trên đùi có viết chữ VI, có ảnh viết chữ VII, sau cùng là một tấm với chữ VIII. Riêng một xấp chằng dây thun đỏ là ảnh Lễ Ban Thánh thể: một cậu bé mỉm cười trong bộ áo tế, tay cầm cây nến khổng lồ, đứng trước phông vải vẽ hình Chén Thánh vàng. Kế đó là ảnh chụp cậu học sinh học nghề cơ khí đứng trước cỗ máy tiện, tay nắm chặt cái giũa.

“Công việc vất vả quá – bà chủ nhà nói – không hợp với nó”. Rồi bà cho tôi xem bức hình cuối cùng của cậu trước khi vào lính: trong bộ đồng phục nhân viên soát vé, cậu đứng cạnh toa xe của tuyến số 9 ở ga cuối, nơi tàu điện chạy một vòng tròn quay đầu, và tôi nhận ra chiếc xe buýt bán nước ngọt mà tôi thường đến mua thuốc lá hồi trước chiến tranh, tôi cũng nhận ra hàng cây dương hôm nay vẫn còn đó, cái biệt thự có đôi sư tử vàng trước cửa nay đã mất, rồi trong đầu tôi bật lên hình ảnh cô bé mà tôi hay nghĩ đến trong chiến tranh: một cô gái xinh đẹp, xanh xao, mắt bé, thường lên tàu ở cuối tuyến số 9.

Lần nào tôi cũng ngắm nghía khá lâu bức hình con trai bà chủ nhà ở ga cuối tuyến số 9, và tôi nhớ ra nhiều chuyện: tôi nhớ cô gái và nhà máy xà phòng, nơi tôi từng làm việc, tôi nghe tiếng ken két của bánh tàu điện, tôi nhìn thấy món nước ngọt màu đỏ mà tôi hay uống mùa hè, mấy tấm quảng cáo thuốc lá, và lại nhớ đến cô gái.

“Có thể ngày xưa cậu biết con trai tôi đấy”, bà chủ nhà nói. Tôi lắc đầu và đặt tấm ảnh trở lại hộp bìa cứng: nước ảnh sáng bóng, trông như mới, dù đã tám năm trôi qua. “Không, không ạ – tôi nói – Cháu cũng không biết cái làng Kalinovka”.

Tôi hay phải ra bếp, và bà hay phải vào phòng tôi, từ sáng đến tối tôi buộc phải nghĩ đến điều mà tôi chỉ muốn quên đi: chiến tranh! Và tôi gẩy tàn thuốc xuống mép giường, dụi tắt điếu thuốc lên tường.

Thỉnh thoảng, khi nằm trên giường, tôi nghe bước chân một cô gái bên kia bức tường, nghe tiếng gã người Nam Tư ở phòng cạnh bếp văng tục khi tìm nút bật đèn trước khi về phòng mình.

Chỉ khi đã ở đây được ba tuần, khi đã phải ngắm ảnh Karl dễ tới năm chục lần, tôi mới nhận ra toa tàu điện sau lưng cậu ta không hề trống. Lần đầu tiên tôi nhìn thật kỹ bức ảnh và nhận ra trong ảnh có cả một cô gái mỉm cười trong toa. Đó là cô gái xinh đẹp mà tôi thường nghĩ tới trong chiến tranh. Bà chủ nhà tiến lại, nhìn thẳng vào mặt tôi và nói: “Bây giờ cậu nhận ra nó rồi, đúng không?”. Rồi bà vòng ra sau lưng tôi, nhìn qua vai tôi đến bức ảnh, và từ tạp dề của bà phả ngược lên lưng tôi mùi đỗ tươi.

“Không ạ, nhưng cháu nhận ra cô gái này”.

“Con bé này á? Vợ chưa cưới của nó đấy. Nhưng có khi nó không nhìn thấy con bé ấy nữa thì hơn…”.

“Tại sao ạ?”.

Bà không đáp, lẳng lặng tránh tôi ra, ngồi xuống ghế cạnh cửa sổ và tiếp tục bóc vỏ đỗ. Bà nói, mắt không nhìn tôi: “Cậu biết con bé à?”.

Tôi nắm chặt bức ảnh, nhìn bà và kể về nhà máy xà phòng, bến cuối tuyến xe điện số 9 và cô gái xinh đẹp hay lên xe ở đó.

“Chỉ có thế thôi?”.

“Vâng”, tôi nói, và bà thả nắm đỗ, mở máy nước, tôi chỉ thấy tấm lưng nhỏ thó của bà.

“Khi nào gặp lại nó, cậu sẽ biết vì sao con trai tôi không nhìn thấy nó nữa thì hơn…”.

“Gặp lại?”, tôi hỏi.

Bà lau tay vào tạp dề, tiến lại phía tôi và nhẹ nhàng lấy bức ảnh từ tay tôi. Khuôn mặt bà dường như quắt lại hơn, ánh mắt bà tránh tôi ra, nhưng bà đặt tay lên tay tôi: “Anna, con bé ấy ở cạnh phòng cậu. Bọn tôi cứ hay gọi là Anna mặt trắng, vì nó trắng lắm. Câu chưa thấy mặt nó thật à?”.

“Không ạ – tôi nói – Cháu chưa gặp cô ấy bao giờ, có lẽ chỉ nghe tiếng vài lần. Cô ấy có chuyện gì ạ?”.

“Lẽ ra tôi không nói ra, nhưng cậu nên biết thì hơn. Mặt nó bị hủy hoại hoàn toàn, sẹo chằng chịt – sau khi nó bị hơi bom ném vào một tấm kính. Cậu sẽ không nhận ra nó đâu”.

Tối hôm đó tôi đợi một lát lâu mới nghe tiếng chân ngoài hành lang, nhưng lần đầu thì nhầm: đó là gã người Nam Tư cao ngồng, sửng sốt thấy tôi lao bổ ra hành lang. Tôi ấp úng chào rồi trở về phòng mình.

Tôi cố hình dung ra khuôn mặt đầy sẹo của cô gái, nhưng không thành, mà lần nào cũng chỉ thấy khuôn mặt xinh đẹp có sẹo. Tôi nghĩ đến nhà máy xà phòng, nghĩ đến cha mẹ và một cô gái khác mà tôi hay đưa đi phố. Cô ấy tên Elizabeth, nhưng thích được gọi là Mutz, và khi tôi hôn cô thì cô luôn cười. Hồi ở mặt trận tôi gửi nhiều bưu thiếp cho cô, và cô gửi cho tôi bánh quy tự làm lấy, nhận được thì đã vỡ vụn. Cô gửi cả thuốc lá và báo, trong một lá thư cô viết: “Các anh sẽ chiến thắng, và em tự hào biết anh góp tay”.

Tôi thì không hề thấy tự hào vì đã góp tay, và khi được nghỉ phép thì tôi không báo cho cô biết, mà đi với con gái một gã buôn thuốc lá ở cùng tòa nhà. Tôi cho cô này xà phòng được nhà máy tặng, còn cô cho tôi thuốc lá, và hai chúng tôi cùng đi xem phim, khiêu vũ. Có lần bố mẹ vắng nhà, cô đưa tôi lên nhà. Phòng tối mò khi tôi đẩy cô xuống sofa, nhưng khi tôi cúi xuống cô thì cô bật đèn, nở nụ cười rất ma mãnh với tôi, và trong ánh đèn chói chang tôi thấy ảnh Hitler treo trên tường, ảnh màu, trên nền giấy dán tường màu hồng, viền xung quanh là ảnh những người đàn ông vẻ mặt sắt đá ghép thành hình trái tim, bưu thiếp ghim trên tường, những người đàn ông đội mũ sắt cắt ra từ họa báo. Tôi để mặc cô ta nằm trên sofa, châm điếu thuốc và bỏ ra ngoài. Sau này cả hai cô đều gửi bưu thiếp cho tôi ngoài mặt trận, trách tôi xử sự tồi tệ, nhưng tôi không trả lời…

Tôi đợi Anna rất lâu, hút thuốc liên tục trong màn đêm, nghĩ đủ mọi chuyện, nhưng khi có tiếng chìa khóa tra vào ổ thì tôi quá sợ hãi để đứng dậy và nhìn thấy mặt cô. Tôi nghe thấy cô mở khóa phòng, vừa hát líu lo vừa đi đi lại lại trong phòng. Lát sau tôi dậy và đợi ngoài hành lang. Chợt tiếng động tắt ngấm trong phòng, cô không đi lại nữa, cũng thôi hát, và tôi không dám gõ cửa. Tôi nghe tiếng gã Nam Tư cao ngồng lầu bầu đi lại trong phòng, nghe tiếng nước sôi lục bục trong bếp bà chủ nhà. Nhưng phòng Anna im ắng, và ánh sáng lọt qua cửa phòng tôi làm hiện rõ vô số vết bẩn do đọt thuốc lá dụi vào.

Gã Nam Tư cao lớn đã lên giường, tôi không nghe tiếng chân gã nữa, chỉ có tiếng lầu bầu, và ấm nước trong bếp bà chủ nhà cũng hết sôi, và tôi nghe tiếng lạch cạch khi bà đậy nắp lên ấm cà phê. Phòng Anna vẫn im lặng. Sau này cô sẽ kể hết là đã nghĩ gì khi tôi đứng ngoài cửa phòng cô. Sau này cô sẽ kể hết.

Tôi trân trối nhìn tấm hình treo cạnh khung cửa phòng cô: một hồ nước lấp lánh ánh bạc, với nàng tiên cá tóc vàng ướt rượt trồi lên, mỉm cười với cậu bé mục đồng nấp trong bụi cây xanh ngắt. Tôi có thể thấy nửa vú bên trái của nàng, cổ nàng trắng ngần, hơi cao quá.

Tôi không nhớ vào lúc nào tôi đặt tay lên nắm đấm cửa, nhưng trước khi ấn xuống và khẽ đẩy cửa ra thì tôi biết đã chinh phục được Anna: khuôn mặt cô chằng chịt những vết sẹo lờ mờ xanh, mùi nấm xào trong chảo bay ra tận cửa, và tôi đẩy hẳn cửa ra, đặt tay lên vai Anna, gượng cười.

(Theo Tuổi Trẻ Cuối Tuần)

(Nguồn : vanhocsaigon.com)

Thảo luận

Không có bình luận

Bình luận về bài viết này

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Thư viện

Chuyên mục