//
you're reading...
góp nhặt cát đá, Nhân vật, Thơ

Phạm Thiên Thư, tục lụy và giải thoát – Nguyễn Viện

Nhà thơ Phạm Thiên Thư (1940 – 2026) vừa qua đời vào chiều 7/5 tại Sài Gòn. “Những phương trời viễn mộng”, nói theo cách của Tuệ Sĩ không chỉ cho Tô Đông Pha mà còn là một Phạm Thiên Thư của những “động hoa vàng”, đã khép lại.

Ảnh: Gia đình cung cấp.

Những năm còn là sinh viên, tôi đã bắt gặp Phạm Thiên Thư trên Tập san Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh. Và tôi đã rất thích thơ ông bởi những mỹ từ như ngọc, lấp lánh thiền vị.

Rồi những ca khúc do Phạm Duy phổ nhạc thơ ông như Ngày xưa Hoàng thịĐưa em tìm động hoa vàng… đã làm cho tuổi trẻ chúng tôi thời ấy mê đắm và “ngủ quên” cuộc chiến tranh khốc liệt đang tung tóe trên khắp quê hương. Đặc biệt, 10 bài đạo ca cũng do Phạm Duy phổ nhạc thơ ông, càng khiến cho chúng tôi “viễn mộng” khỏi binh đao khói lửa.

Thời ấy, ở Đại học Vạn Hạnh có những tài năng trẻ như thầy Tuệ Sỹ, triết gia Phạm Công Thiện và nhà thơ Phạm Thiên Thư rất được Thượng tọa Viện trưởng Thích Minh Châu trọng vọng và công chúng yêu mến. Mỗi người một độc đáo khác cho đến tận bây giờ.

Sau 1975, cảm quan về nghệ thuật của tôi thay đổi. Không còn thích hoa mỹ, không còn thích thoát tục bởi thực tế cuộc sống quá khắc nghiệt. Cơm áo gạo tiền “không đùa với khách thơ”. Đoạn trường vô thanh của Phạm Thiên Thư ầm ĩ một thời trở thành vô vị.

Bản thân Phạm Thiên Thư cũng phải kiếm ăn với đầy những âm thanh hỗn độn của cuộc sống, bằng việc mở quán cà phê Hoa Vàng trong Cư xá Sĩ quan Chí Hòa cũ. Tại đây, ông còn hành nghề chữa bệnh.

Có một ngày tôi đến chỗ ông để nhờ chữa bệnh bao tử. Ông lấy một lọ dầu do chính ông bào chế, xoa xoa trên bụng tôi rồi bảo “xong rồi”. Lúc về ông tặng tôi lọ dầu mà sau này tôi biết được ông sử dụng để chữa… bá bệnh.

Ông cũng tặng tôi mấy tập thơ, trong đó có tập Tự điển cười dày cả ngàn trang.

Một lần khác ngồi cà phê, Phạm Thiên Thư bảo: “Đau đâu rờ đấy, bệnh gì cũng khỏi.”

Cũng vui thôi. Tôi quen nhà thơ Mai Trinh Đỗ Thị, vợ (cũ) của ông, trước khi quen ông. Và tôi cũng quen con trai ông, Phạm Thiên Văn, nữa.

Sinh thời, chị Mai Trinh Đỗ Thị hay ngồi nhậu ở 81 Trần Quốc Thảo cùng đám giang hồ văn nghệ. Mai Trinh và Thảo Phương là hai nhà thơ nữ vừa làm thơ hay vừa nhậu giỏi luôn có mặt. Những ngày ấy thật vui. Dân văn nghệ Sài Gòn chẳng ai là chưa từng lê la ở đó.

Trở lại với Phạm Thiên Thư. Có lần nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm, nhà văn Nguyễn Đức Minh rủ tôi cà phê. Anh Phạm Thiên Thư cũng có mặt. Tai ông nghễnh ngãng và ít nói hơn. Phạm Thiên Thư ngồi hiền lành như đất. Cái hình ảnh một nhà thơ tài hoa, một hành giả sâu sắc đã lặn sâu vào cõi tịnh.

Giữa một danh tiếng lẫy lừng với dòng thi ca hoa mỹ và lãng mạn còn hơn cả tiền chiến, một Phạm Thiên Thư còn lại trước mặt tôi lúc ấy chỉ là một ông già lắt lẻo:

Lòng như bát ngát mây xanh

Thân như sương tụ trên cành tâm mai

(thơ Phạm Thiên Thư)

Sương tụ rồi sương tan. Phạm Thiên Thư có đó rồi Phạm Thiên Thư trở thành hư vô. Nhưng những lời hát như Ngày xưa Hoàng thịĐưa em tìm động hoa vàngEm lễ chùa này… tôi tin sẽ còn được hát rất lâu.

Với riêng tôi, Đạo ca 4 tức Quán Thế Âm mới chính là Phạm Thiên Thư bản lai diện mục.

Nhưng nếu nói về sự nghiệp của Phạm Thiên Thư thì không thể không nhắc đến cái kỳ công thi hóa Kinh Kim cang, cũng như trường ca Đoạn trường vô thanh (3.290 câu lục bát) đã được trao giải văn chương toàn quốc năm 1973 của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Tình ca và đạo ca, hay nói cách khác, thi sĩ và đạo sĩ nơi Phạm Thiên Thư đã chan hòa làm một. Một phẩm chất mà sự hoa mỹ của ngôn từ không phàm tục hóa ngưỡng vọng giải thoát cái “tâm mai”. Mà ngược lại, mĩ từ của Phạm Thiên Thư đã quyến rũ chúng sinh vào đại nguyện từ bi trong tục lụy và hóa thân độ lượng trong đại ngã.

Một nén tâm nhang cho Phạm Thiên Thư, cũng như cho những “động hoa vàng” đã khuất nẻo trong thời gian.

Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Sài Gòn 8/5/2026

(Nguồn : bbc.com/vietnamese)

Nhớ Phạm Thiên Thư

thơ anh như đời
thơ anh như đạo
biết đâu là tình
biết đâu là kinh

một mình quán cóc
ngỡ Động Hoa Vàng
giọt thơ thật nhẹ
tiễn gã từ quan

Em Lễ Chùa Này
gác chuông chim đậu
tan trường lối Ngọ
tình rụng nơi đâu

Như Chùm Hạ Hoa
Tưởng Em Tóc Rũ
tâm thiền nghe lạ
thi hóa lời kinh

Đoạn Trường Vô Thanh
thân giữa cõi mù
tìm Vết Chim Bay
nhỏ lệ thiên thu…

anh về yên ngủ
Lều Cỏ Chân Trời
mấy lời đưa tiễn
nhớ người trong thơ…

thy an , 08-05-2026

(Nguồn : vietbao.com)

Giã biệt thi sĩ Phạm Thiên Thư, đóa hoa thiền trong vườn thơ Việt Nam

Ảnh: Gia đình cung cấp

Tin thi sĩ Phạm Thiên Thư qua đời vào chiều ngày 7 Tháng Năm, hưởng thọ 86 tuổi tại Sài Gòn được báo chí trong nước loan tải và lan truyền khắp nơi.

Ông tên thật là Phạm Kim Long, sinh năm 1940 tại tỉnh Thái Bình, di cư vào Nam năm 1954 và cư ngụ tại Sài Gòn cho đến khi mất. Ông từng xuất gia đi tu và hoàn tục, nhờ những năm tháng ở cửa Phật, thấm nhuần tư tưởng đạo này nên thơ của Phạm Thiên Thư bàng bạc hương vị thiền.

Năm 1973, tập thơ “Đoạn Trường Vô Thanh” của thi sĩ Phạm Thiên Thư đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc của Việt Nam Cộng Hòa. Tập thơ dài 3,290 câu lục bát. Ban giám khảo nhận xét rằng đây là tác phẩm Việt hóa và thiền hóa truyện Kiều thi vị.

Mở đầu tập thơ với mấy câu:

“Mười con nhạn trắng về tha.
Như Lai thường trụ trên tà áo Xuân.
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền.
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm.
Xe lên bụi quán hoa đường.
Qua sương trắng dậm phố phường úa Thu.”

Kết thúc tập thơ với mấy câu:

“Lớn lên giữa núi xanh rì.
Cỏ hoa như thể tứ chi cận kề.
Sao ta biền biệt chưa về.
Lưng đồi sim tím bốn bề chim ca.
Dù muôn dặm có bao xa.
Mà trong gang tấc vẫn là thiên thu.”

Khi nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc một số bài thơ của Phạm Thiên Thư thành ca khúc và phổ biến qua các giọng hát nổi tiếng thì công chúng biết nhiều đến thơ của ông.

Ca khúc “Ngày Xưa Hoàng Thị” với tiếng hát Thái Thanh đầu thập niên 1970 được giới học sinh sinh viên đón nhận nồng nhiệt. Thuở học trò, các chàng trai ai mà không có một lần theo đếm bước chân cô nữ sinh tan trường:

“Em tan trường về.
Đường mưa nho nhỏ…
Mười năm rồi Ngọ.
Tình cờ qua đây.
Cây xưa vẫn gầy.
Phơi nghiêng dáng đỏ.”

Thi sĩ cho biết đó là kỷ niệm đẹp, lãng mạn thời trai trẻ với một cô nữ sinh tên là Ngọ. Tựa đề bài thơ là “Ngày Xưa Hoàng Thị” nên người ta đoán rằng cô ấy có họ là Hoàng Thị. Ông sinh năm 1940 tức tuổi Canh Thìn, cô gái ấy chắc là tuổi Nhâm Ngọ sinh năm 1942. Mấy chục năm sau, có một số nhân vật tự nhận mình là cô Ngọ năm xưa, tạo nên sự đồn đoán cũng vui.

Nếu đọc nguyên tác bài thơ và so sánh với lời cả bài “Ngày Xưa Hoàng Thị” thì thấy rằng nhạc sĩ đã lấy ý thơ và sửa đổi khá nhiều.

Kế tiếp, Phạm Duy phổ thêm các bài “Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng,” bắt đầu với

“Rằng xưa có gã từ quan.
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say…”

Trong bài hát thì chữ “ngủ say” đổi thành “nhớ nhau.”

Bài “Em Lễ Chùa Này” thì nguyên tác bài thơ được giữ nguyên.

“Đầu mùa Xuân cùng em đi lễ.
Lễ chùa này vườn nắng tung bay.
Mùa Hạ qua cùng em đi lễ.
Trái mơ ngon đồi gió mơn man.
Rồi mùa Thu cùng em đi lễ.
Có con chim đậu dưới gác chuông.
Vào mùa Đông cùng em đi lễ.
Lễ chùa này một thoáng mưa bay.
Và ngoài sân vài cành khô gãy.
Gió lung lay một nhánh lan gầy…”

Sau đó thì người em qua đời để lại nỗi tiếc thương cho chàng trai.

Nhạc sĩ Phạm Duy viết 10 bài “Đạo Ca” dựa vào thơ của thi sĩ Phạm Thiên Thư với tiếng hát Thái Thanh. Đây cũng là các nhạc phẩm đặc biệt trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam.

Thử đọc vài lời ca trong bài “Đạo Ca” là “Pháp Thân:”

“Xưa em làm kiếp chim.
Chết mục trên đường nhỏ.
Anh làm cội băng mai.
Để tang em, chờ mấy thuở.”

Sau năm 1975, thi sĩ Phạm Thiên Thư vẫn sống an nhiên tại Sài Gòn và tiếp tục làm thơ. Ông viết tập thơ “Ru Con Bằng Sử Việt” với mấy ngàn câu thơ lục bát kể từ thời Hồng Bàng và kết thúc với trận chiến thắng Đống Đa 1789 của vua Quang Trung, với cảm giác hào hùng còn đọng lại.

Mở đầu là :

“À ơi! cho cháu lời ru.
Cất từ cái thuở sương mù cha ông.
Chim Hồng chim Lạc qua song.
Bay qua Việt sử từng dòng là thơ.”

Mấy câu thơ tả về Hai Bà Trưng:

“Mình voi hai vị nữ vương.
Uy nghi giáp bạc giáp vàng như hoa.
Giáo gươm nhật nguyệt sáng lòa.
Điều quân toàn tướng đàn bà ngựa dong.”

Mấy câu tả về sự truyền bá Phật Giáo ở Việt Nam:

“Đạo theo những cánh buồm cao.
Du tăng Đông Độ ghé vào Giao Châu.
Tạo nên nề nếp ban đầu.
Càng yêu dân tộc càng sâu sức thiền.”

Ông còn viết cuốn “Tự Điển Cười” khoảng năm 2007 với 24,000 câu thơ tứ tuyệt, bạn bè được nghe ông đọc, nhưng chưa xuất bản.

Công việc đặc biệt của thi sĩ Phạm Thiên Thư là chuyển kinh Phật thành thơ. Ông đã viết cuốn “Kinh Ngọc,” “Kinh Thơ,” “Kinh Hiền,” “Kinh Hiếu,”…

Mấy câu thơ trong “Kinh Hiền:”

“Phật rằng kiếm cũng như lời.
Một câu một nhát hại người như chơi.
Kiếm thì hủy một thân thôi.
Lời sai hại đến muôn đời mai sau.”

Mời đọc một đoạn văn Phạm Thiên Thư viết trong phần phụ lục tập thơ “Kinh Ngọc” để biết thêm tư duy của ông trong những lúc làm thơ: “Sự chết không phải là sự trở về mà là sự ra đi đột biến, sự vượt cầu vào mây khói. Cây cầu lửng như là dấu nối ngắn ngủi giữa hai đầu của sự vô cùng – là một ảo giác hiện nổi lên giữa vô cùng tím ngắt cỏ hoa. Cỏ hoa là hiện thân của vô cùng vi diệu. Kẻ yêu cỏ hoa là kẻ đi vào vô cùng. Tình yêu là chân tướng của vô cùng – chim non trong hốc cây – Mẹ dậy tiếng hót trìu mến.”

Theo nhận xét của giới phê bình văn học thì thi sĩ Phạm Thiên Thư là một đóa hoa thiền trong vườn thi ca Việt Nam. Ông đưa chất thiền Phật Giáo vào thơ một cách tài tình. Thơ của ông vừa thiền vừa tình, ông lãng mạn hóa thiền và thăng hoa tình với chất thiền.

Có thể đối với giới luật của Phật Giáo thì tình sẽ tạo nên nghiệp chướng, nhưng đối với người thường thì tình yêu thăng hoa cũng làm đẹp cuộc sống trần tục. Do đó, thơ của Phạm Thiên Thư là món ăn tinh thần đặc biệt cho giới thưởng ngoạn.

Thơ của Phạm Thiên Thư đạt cả hai điều là phẩm và lượng. Bên cạnh những câu thơ lục bát mang vẻ mới mẻ thập niên 1970, ông còn viết nhiều đề tài khác với tổng cộng mấy chục ngàn câu thơ. Sức sáng tác của ông thật bền bỉ.

Giã biệt thi sĩ Phạm Thiên Thư, thế hệ học sinh sinh viên đầu thập niên 1970 ở Sài Gòn đã từng nghe và yêu thích các bài hát do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ thơ của ông như “Ngày Xưa Hoàng Thị,” “Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng,”… mà lòng bồi hồi tưởng niệm ông.

Xin ghi lại hai câu thơ cung kính tiễn biệt ông:

“Mai anh chết dưới cội đào.
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu.”

Trần Chí Phúc

(Nguồn : nguoi-viet.com)

Thảo luận

Không có bình luận

Bình luận về bài viết này

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Thư viện

Chuyên mục