Colnav Nguyen
Tiếp theo kỳ (6) và hết
Sau buổi ăn trưa là cuộc viếng thăm Senso-ji, ngôi chùa cổ thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, nổi tiếng nhất ở Tokyo. Chùa Senso-ji được xem là địa điểm tôn giáo được nhiều người viếng thăm nhất thế giới với trên 30 triệu người hằng năm. Chiều dài lịch sử của chùa có đến cả 1.400 năm.
Khi chùa mới thành lập, khu vực Asakusa không tấp nập như ngày nay mà là một nơi hoang vu đầy cỏ dại và thưa thớt người sinh sống. Tuy nhiên nhờ có Senso-ji mà vùng Asakusa trở thành một trung tâm thương mãi và hành hương sinh động.
Chùa Senso-ji nói chung gồm Chánh điện, Tháp 5 tầng, hai cổng lớn, Kaminarimon Gate (giáp mặt đường) và Hozomon Gate (gần chánh điện), và dãy phố Nakamise-dori. Tất cả bị thiêu hủy vào ngày 10 tháng Ba 1945 trong các cuộc oanh tạc bằng bom lửa vào thủ đô Tokyo trong Thế Chiến II. Chánh điện được xây lại vào thập niên 1950, Cổng Kaminarimon (1960), Cổng Hōzōmon (1964), và Tháp 5 tầng (1973).
Trước kia chùa Senso-ji thuộc tông phái Tendai nhưng sau chiến tranh thì trở nên độc lập cho đến ngày nay.



Lồng đèn giấy khổng lồ tại cổng Kaminarimon được sơn đỏ, ở mặt trước có vẽ hai chữ 雷門 màu đen thật lớn có nghĩa là “Cổng Sấm Sét”, và bên trên đèn có tấm biển ghi ba chữ “Sơn Long Thiền”. Hai bên cổng có tượng của hai vị thần gió và sấm. Cổng được xây lần đầu vào năm 942 nhưng bị cháy rụi nhiều lần. Sau lần bị thiêu hủy cuối cùng vào năm 1865 thì không ai đụng đến trong suốt 95 năm, mãi đến 1960 cả cổng lẫn tượng mới được phục hồi trở lại hoàn toàn nhờ sự đóng góp của Konosuku Matsushita, người sáng lập công ty Panasonic. Đèn lồng khổng lồ tại cổng nầy cao 3,9 m, rộng 3,3 m và nặng 700 kg, có thể xếp dẹp lại được. Kể từ 1960, đèn được thay mới 5 lần, và lần cuối vào năm 2003, phụ trách là những nhà chuyên môn ở Kyoto.




Ngay từ thuở xưa, chùa Senso-ji đã là một trung tâm hành hương tấp nập, các hàng quán hiện diện ở đây góp tay vào việc cung cấp thức ăn và thức uống cho khách thập phương. Năm 1885, con đường mua sắm được hiện đại hóa với các quán cũ được xây lại bằng gạch đỏ thông dụng vào thời ấy. Đáng buồn thay, những công trình này bị hủy hoại hoàn toàn bởi trận động đất Great Kanto Earthquake vào năm 1923. Sau đó các quán lại được tái xây bằng bê tông hai lần, một lần sau 1923 và một lần sau trận bom lửa của Thế Chiến II. Ngày nay các quán vẫn giữ vẻ bề ngoài truyền thống, được tô điểm sặc sỡ thêm với đèn treo và mái ngói màu xanh lục.


Hozomon được dựng lần đầu vào năm 942 nhưng bị cháy rụi nhiều lần. Cổng ngày nay được làm lại từ năm 1964 và làm bằng chất liệu chống cháy, do vậy nơi đây được dùng để lưu trữ những đồ quí giá nhất của chùa. Ở tầng trên được dùng làm nơi tàng trữ kinh sách, trong đó có bộ Liên Hoa Kinh, được xem như báu vật quốc gia.
Hai bên trái phải cổng có tượng của hai vị hộ pháp mặt hướng về phía nam, vì thế trước khi có tên ngày nay cổng từng lấy tên theo các vị hộ pháp (nio) gọi là Niomon.
Bên trong cổng có treo ba đèn lồng lớn, cái giữa lớn nhất, cao 3,75 m, rộng 2,7 m, và nặng 450 kg. Đèn lồng nầy có ghi chữ 小舟町 (Kobunacho) là tên của quận ở Tokyo mà cư dân địa phương đã cúng dường nó vào năm 2014.

Chánh điện Hondo còn gọi là Kannon-do vì ở đây thờ tượng Quan Âm, tuy nhiên bức tượng lại không được trưng bày cho công chúng xem. Nguồn gốc là bức tượng được hai anh em ngư dân tên Hinokuma Hamnari và Hinokuma Takenari tìm thấy và vớt lên từ dưới đáy sông Sumida vào năm 628. Bấy giờ ông trưởng làng Hajino Nakamoto cho là linh vật nên sửa sang lại nhà mình làm nơi thờ tượng luôn, dân làng có thể đến để chiêm bái. Ngôi chùa đầu tiên được xây vào năm 645 khiến nơi đây trở thành ngôi chùa cổ nhất Tokyo. Từ đó người ta xem tượng như báu vật linh thiêng và được cất giữ thật kín. Có vẻ như mỗi lần có ai muốn tìm cách xem bức tượng thì thực sự có điều chẳng lành xảy ra, cho nên tốt nhất là đem cất thật kỹ. Tuy nhiên cũng có một tượng khác để thay thế do vị sư tên Ennin tạc vào năm 857, và tượng này được trưng bày cho công chúng xem chỉ một lần mỗi năm vào ngày 31/12 vào lúc 2 giờ trưa. Cả hai bức tượng đều thoát khỏi trận bom lửa năm 1945.
Sau thế chiến, Chánh điện được xây lại trong thời gian 1951-58, và được người dân Nhật xem việc làm này như là một biểu tượng của sự tái sinh và hòa bình.
Chánh điện cũng được xây theo phong cách của các cổng kia nhưng với chất liệu hiện đại kiên cố hơn như bê tông cốt sắt, và vào năm 2010, mái ngói truyền thống nặng nề được lợp lại bằng loại ngói titanium bền và nhẹ hơn nhiều mà vẫn giữ đường nét cổ kính.

Tháp 5 tầng ngày nay được xây lại vào năm 1973, cao 53,32 m, vẫn giữ đường nét cũ nhưng cấu trúc bằng thép hiện đại và bê tông cốt sắt. Điều đáng ghi nhận là vị trí tháp ngày xưa nằm phía bên phải Chính điện từ ngoài nhìn vào chứ không phải bên trái như ngày nay. Tháp được xây theo lối xây tháp stupa truyền thống của người Ấn để thờ xá lợi Phật. Tháp hiện nay có một ít tro xá lợi Phật thờ trên tầng cao nhất, do Chùa Isurumuniya ở Sri Lanka tặng vào năm 1966.











Tháp Tokyo Skytree chủ yếu là địa điểm truyền thông lẫn truyền hình của khu vực Kanto, trong khi tháp Tokyo Tower cũ hơn, không còn đảm nhận các chức năng đó nữa vì nay trở nên thấp hơn các nhà cao tầng chung quanh. Chân tháp Skytree có cấu trúc như chân ba cẳng, lên đến chiều cao 350 m, cấu trúc trở thành hình trụ, mang lại một tầm nhìn bao quát của con sông và thành phố, ở đây có tầng vọng cảnh với sức chứa đến 2000 người. Ở độ cao 450 m có tầng quan sát khác hẹp hơn nhưng cũng chứa được đến 900 người. Lên cao hơn, cấu trúc có hình xoắn ốc, bên ngoài bao phủ bằng kính, khách có thể leo lên đến 5 m cuối cùng tính đến điểm chóp. Mặt sàn tại đây có chỗ lót bằng kính giúp khách có thể nhìn trực tiếp xuống phía đường xá ở ngay dưới chân. Tháp được thiết kế chống động đất với hệ thống giảm chấn có thể hấp thụ bớt 50% năng lượng của cơn địa chấn.
Chuyến du lịch tuy ngắn ngủi nhưng với tôi kể ra cũng khá súc tích, đầy đủ lắm rồi. Chỉ vỏn vẹn có bốn ngày mà tôi được đặt chân đến nhiều đô thị lớn như Kobe, Osaka, Kyoto, Nagoya và Tokyo, được viếng các đền đài nổi tiếng như lâu đài thành lũy Osaka Castle, Kim Các Tự (Chùa Vàng), đền Thần đạo trung ương Fushimi Inari Taisha, và ngôi cổ tự Senso-ji. Thử hỏi nếu tự tổ chức đi một mình tôi phải mất bao nhiêu thời gian để đi cho hết các nơi vừa qua. Ai đánh giá du lịch theo đoàn tours là cỡi ngựa xem hoa chứ với tôi như vậy đủ lắm rồi, đủ cho tôi mở mắt, có được cái nhìn khác hơn về nước Nhật, so với kiến thức qua sách vở trước đây. Tôi thích tours bằng xe buýt đi xuyên qua các đại đô thị, đi bằng đường bộ mới quan sát được từng làng mạc, đô thị, con sông, ngọn đồi, đỉnh núi, .. Tôi không thích tàu cao tốc, cao tốc làm gì, chạy từ từ với tốc độ xe buýt, ngồi máy lạnh mát mẻ nhìn hai bên đường có mở tầm con mắt hơn đi tàu cao tốc không. Ngang qua chỗ nào phong cảnh chẳng có gì đáng ngắm thì nhắm mắt lại ngủ. Đến nơi nào ngủ nghỉ người ta lo trước cho mình cả, tự thân khỏi mất công đi tìm đi kiếm khổ sở, cũng được nhưng chẳng đặng đừng mới làm vậy thôi, để tâm trí mà thưởng ngoạn sướng hơn.
Ngoài việc được đi qua nhiều đại đô thị nghe danh từ hồi trung học, tôi còn được dự lễ hội hoa anh đào ở Kawazu, nơi hoa anh đào nở sớm nhất cả nước Nhật. Ở đây hoa nở vào tháng Hai, trong khi mọi nơi khác muốn xem phải chờ đến tháng Tư. Một điểm quí giá nữa là tôi được dịp chiêm ngưỡng núi Phú Sĩ trong thời kỳ tuyết phủ ở phần trên, hình ảnh y hệt như hình ảnh quen thuộc thường thấy từ thời thơ ấu qua các sách vở, phim ảnh, quảng cáo.. Một ưu ái khác dành cho tôi đó là Phú Sĩ dịp Tết năm nay xuất hiện với một vành mây bao bọc trên đỉnh, hiện tượng tiếng Anh gọi là lenticular cloud, tức đám mây hình thấu kính, hiếm khi xảy ra.
Chỉ mấy ngày ngắn ngủi nhưng cũng đủ giúp tôi mở rộng thêm tầm nhìn về xứ sở mà tôi hằng nghe nhắc đến khá nhiều trong đời. Nghe không bằng thấy, câu nói bao giờ cũng chí lý.
Phải, trước đây nghe nhắc đến Tokyo hay các đô thị lớn của Nhật là lập tức phải nghĩ ngay đến hình ảnh chen chúc những người với người. Cảnh người chen chúc ở các ga tàu điện, người băng qua đường đông như kiến ở giao lộ Shibuya Crossing, nơi được xem như có bộ hành qua đường đông nhất thế giới, với khoảng 3 ngàn người mỗi lượt. Shibuya Crossing có thể ví tương tự như Times Square ở NY City. Thì dĩ nhiên trên sách vở cái gì gây ấn tượng nhất người ta mới chọn đăng, để làm hình ảnh tiêu biểu cho cái địa danh đang đề cập đến, chẳng lẽ chọn hình những đường phố, đường cao tốc vắng vẻ như tôi chụp, dù rằng đó đều là hình ảnh Tokyo thật. Không riêng gì Tokyo, các thành phố lớn tôi đi qua bằng đường bộ, qua hằng trăm cây số đường cao tốc, đường phố, đâu đâu cũng thấy thưa xe thưa người đến ngạc nhiên, khác với một hình ảnh đông đúc, xô bồ như mình vẫn tưởng Nhật là một xứ sở đông đúc, sô bồ.
Về sạch sẽ thì đúng như thường nghe nhắc đến, người dân Nhật giữ sạch sẽ ngăn nắp khắp mọi nơi, nhất là toilet ở các nơi công cộng. Sau vụ tấn công khủng bố bằng khí sarin vào năm 1995, từ đó mọi thùng rác công cộng ở các thành phố lớn đều được chính quyền thu hồi, buộc người dân phải thích nghi với tinh thần kỷ luật đối với nhu cầu xả rác của mỗi cá nhân, bằng cách tự xử lý lấy. Đêm ở Nagoya, lúc đi dạo trên con đường gần khách sạn, tôi thấy hai cô gái từ trong một tiệm bán đồ tạp hóa đi ra, vừa đi vừa nói chuyện, cũng vừa lúc tôi thấy một trong hai cô đánh rơi từ trong ví một cái khăn giấy. Cô bạn trông thấy liền quay sang báo cho bạn mình biết, chủ nhân chiếc khăn chưa kịp phản ứng thì cô bạn đã cúi xuống lượm giúp. Tôi tin đó là một ý thức tự nhiên, rất bình thường đã ăn sâu trong sinh hoạt hằng ngày của người Nhật, đó là tinh thần không xả rác.
Chùa chiền, đền Thần đạo,.. vắng bóng các bức tượng ngồi đứng uy nghi giữa điện thờ như ở mọi nước khác, để bá tánh quì lạy, dâng hương. Chùa vắng bóng cả các sư sải, không có nghe tiếng tụng niệm, không còn vẻ trang nghiêm mà chỉ còn tính cách như một di tích lịch sử, một bảo tàng, một nơi làm kinh doanh.
Đi qua những nơi nầy rồi mới thấy té ra dân Nhật họ cũng mê tín đâu thua gì ta, đâu thua gì Tàu. Xin xăm, bán bùa phép được bày bán chính thức một cách có bài bản, có tổ chức. Từ dân đen cho tới các đại công ty, muốn ăn nên làm ra, muốn khai trương hồng phát, đến cúng dường ở đền Thần đạo, đóng góp xong yên tâm đi về. Học sinh, sinh viên quanh năm chơi game, gần ngày thi tới đền xin xăm cầu được thi đậu, khỏe ghê! Không sao, ai cũng có sở trường sở đoản, sở đoản của dân Nhật là mê tín như vậy đó nhưng bù lại họ tập trung trí óc vào những cái đáng làm, nên làm, và cái gì đã làm thì phải đạt đến mức tối ưu, họ vượt trội là nhờ đó chứ không phải nhờ xin xăm vớ vẩn.
Các nơi đi qua, tiếng Anh thấy hiện diện khắp các nơi công cộng, điều làm tôi yên tâm cho chuyến trở lại Nhật một mình lần sau, hơn nữa thông dịch tiếng Nhật sang Việt hoặc Anh dễ dàng nên không sợ không biết tiếng như vài thập niên về trước.
HẾT






























Thảo luận
Không có bình luận