//
you're reading...
góp nhặt cát đá, Trinh Thám, Truyện Dịch

Kỳ nghỉ đông sóng gió * Jeffrey Archer

Tiểu thuyết gia Anh, Jeffrey Archer

Chúng tôi gặp Patrick Travers lần thứ nhất ở Verbier trong kỳ nghỉ đông. Sáng thứ bảy đó chúng tôi đang chờ ghế cáp treo thì một người đàn ông khoảng ngoài bốn mươi nhường chỗ cho Caroline, nhờ đó chúng tôi có thể cùng lên núi. Ông ta nói sáng hôm ấy đã hoàn tất hai lần trượt và không ngại chờ chuyến sau. Tôi cảm ơn ông ta rồi không nghĩ gì đến chuyện đó nữa.

 Lần nào cũng vậy, khi lên đến đỉnh dốc vợ tôi và tôi đi theo những lối riêng, cô ấy đến đường trượt A để gặp Marcel, huấn luyện viên của những tay trượt tuyết cự phách – cô ấy đã chơi trượt tuyết từ năm lên bảy – còn tôi đến đường trượt B để gặp bất kỳ huấn luyện viên nào đang rảnh rỗi – tôi đến năm bốn mốt tuổi mới bắt đầu học trượt tuyết – thật ra ngay cả đường trượt B vẫn là quá khó đối với tôi, mặc dù tôi không dám thừa nhận điều này, nhất là với Caroline. Chúng tôi luôn luôn gặp lại nhau tại trạm chờ cáp treo sau khi đã hoàn tất những lần trượt của riêng mình.

 Tối hôm ấy chúng tôi tình cờ gặp lại Travers tại quầy bar của khách sạn. Vì ông ta có vẻ lẻ loi nên chúng tôi đã mời ông ta dùng bữa tối. Ông ta tỏ ra là một anh chàng vui tính và chúng tôi trải qua một buổi tối thú vị. Ông ta tâng bốc vợ tôi một cách nhẹ nhàng mà không bao giờ vượt quá giới hạn, và vợ tôi có vẻ thích thú trước sự quan tâm đó. Đã nhiều năm nay tôi đã quen với việc bọn đàn ông bị thu hút bởi sắc đẹp của Caroline, và tôi không bao giờ quên rằng mình may mắn. Trong bữa tối chúng tôi biết Travers là một thương gia ngân hàng có văn phòng trong thành phố và một căn hộ ở quảng trường Eaton. Ông ta cho biết đã từng được nhà trường cho đi chơi ở Verbier vào cuối những năm 50, và từ đó năm nào ông ta cũng đến đây. Ông ta vẫn tự hào luôn là người đầu tiên đón cáp treo mỗi sáng, hầu như lần nào cũng chiến thắng các tay trượt tuyết địa phương.

 Travers có vẻ quan tâm thật sự về việc tôi có một phòng tranh nhỏ ở West End, vì ông ta là một nhà sưu tầm tranh, chuyên sưu tầm những tác phẩm của trường phái ấn tượng, ông ta nói thế. Ông ta hứa rằng khi quay lại London sẽ tạt qua xem cuộc triển lãm sắp tới của tôi.

Tôi đoan chắc với Travers rằng ông ta sẽ được nồng nhiệt đón chào, nhưng rồi chẳng nghĩ gì đến chuyện đó nữa. Thật ra từ lúc ấy đến cuối kỳ nghỉ tôi chỉ gặp lại ông ta có vài lần, một lần ông ta đang nói chuyện với vợ một người bạn tôi, người này có một cửa hàng bán thảm phương Đông, và sau đó tôi thấy ông ta theo Caroline trượt xuống đường trượt A đầy nguy hiểm.

 Sáu tuần sau đó tôi gặp lại ông ta tại phòng tranh của tôi, và phải mất vài phút mới nhớ lại tên ông ta. Tôi đã phải cố tìm trong ký ức phần giúp nhớ lại những cái tên, kỹ năng mà các chính khách luôn cần đến.

 – Edward, rất vui được gặp lại anh, ông ta nói. Tôi đọc tờ Independent thấy bài khen phòng tranh của anh và nhớ là anh đã có nhã ý mời tôi đến xem tranh.

 – Patrick, rất vui là anh đến được, tôi đáp, vừa kịp nhớ lại tên ông ta.

 – Tôi không phải là người hợm hĩnh, ông ta bảo tôi, nhưng tôi sẵn sàng đi bất cứ đâu để xem tranh của Vuillard.

– Anh đánh giá cao ông ấy à?

 – Ồ vâng. Tôi vẫn so sánh ông ấy với Pissaro và Bonnard, và ông ấy vẫn là họa sĩ ấn tượng thiệt thòi nhất vì chưa được đánh giá đúng mức.

 – Tôi đồng ý, tôi trả lời. Nhưng phòng tranh của tôi từ lâu đã nghĩ về Vuillard như thế.

 – Bức Người phụ nữ bên cửa sổ giá bao nhiêu? Ông ta hỏi.

 – Tám mươi ngàn bảng.

 – Nó làm tôi nhớ đến một bức tranh của ông ấy ở Metropolitan, ông ta vừa nói vừa xem các bản vẽ lại trong catalogue.

 Điều đó gây cho tôi ấn tượng, và tôi bảo Travers là bức tranh của Vuillard ở New York đã được vẽ trong vòng một tháng sau bức tranh mà ông ta rất ngưỡng mộ.

 Ông ta gật đầu. “Thế còn bức khỏa thân nhỏ?”

– Bốn mươi bảy ngàn.

 – Nếu tôi không nhầm thì đây là bà Hensell, vợ một người bạn, người tình thứ hai của Vuillard. Người Pháp luôn tỏ ra văn minh hơn chúng ta về lĩnh vực này. Nhưng bức tranh tôi thích nhất là bức này, ông ta nói thêm, chắc chắn là một trong những kiệt tác của ông ấy, ông ta quay lai nhìn bức tranh sơn dầu lớn vẽ một cô gái trẻ chơi piano, mẹ cô đang cúi xuống giở một trang trong tập nhạc.

– Tuyệt vời. Tôi có thể hỏi giá bao nhiêu được không?

 – Ba trăm bảy chục ngàn bảng, tôi nói, tự hỏi giá đó có vượt quá khả năng

của ông ta hay không.

 – Edward, quả là một buổi triển lãm siêu hạng, có tiếng người nói ở sau lưng tôi.

 – Percy! Tôi thốt lên, quay nhìn lại. Tôi tưởng anh đã nói là không đến được.

– Tất nhiên tôi có nói thế, anh bạn ạ, nhưng tôi đã quyết định không ngồi lì mãi ở nhà, thế là tôi đến đây để chôn nỗi buồn của mình trong rượu sâm banh.

 – Đúng lắm, tôi nói. Rất tiếc về chuyện Diana, tôi nói thêm trong khi Percy đi tiếp. Khi tôi quay lại để tiếp tục câu chuyện với Travers thì không thấy ông ta đâu cả. Tôi nhìn quanh phòng và thấy ông ta đứng nói chuyện với vợ tôi ở góc xa phòng tranh, một ly sâm banh trong tay. Vợ tôi mặc một chiếc áo đầm màu xanh hở vai mà tôi cho là hơi quá hiện đại. Mắt Travers dường như dán chặt vào một chỗ dưới bờ vai cô ấy khoảng một gang tay.

 Tôi lẽ ra đã chẳng nghĩ gì về chuyện đó nếu như ngoài vợ tôi ông ta còn nói chuyện với bất cứ ai.

 Lần tiếp theo tôi gặp Travers là khoảng một tuần sau, khi tôi lãnh tiền mặt ở ngân hàng về. Ông ta lại đứng trước bức tranh sơn dầu của Vuillard vẽ hai mẹ con cạnh chiếc đàn piano.

– Anh Patrick, chào anh, – tôi nói khi đến chỗ ông ta.

 – Hình như tôi không thể dứt ra khỏi bức tranh đó. – Ông ta tuyên bố, nhìn vào hai phụ nữ trong tranh.

 – Điều đó cũng dễ hiểu thôi.

– Anh có thể cho tôi sống với bức tranh này trong một hai tuần lễ để có quyết định cuối cùng không? Tất nhiên tôi sẽ vui lòng đặt cọc.

 – Tất nhiên là được, – tôi nói. – Tôi sẽ cần xác nhận của ngân hàng nữa, còn tiền cọc là hai mươi lăm ngàn bảng.

 Ông ta đồng ý không hề do dự với cả hai yêu cầu trên, nên tôi hỏi ông ta muốn tôi giao tranh đến địa chỉ nào. Ông ta đưa tôi một danh thiếp cho thấy địa chỉ ông ta tại quảng trường Eaton. Sáng hôm sau ngân hàng của ông ta xác nhận là khách hàng của họ sẽ không gặp khó khăn gì với ba trăm bảy ngươi ngàn bảng.

Trong vòng hai mươi bốn giờ sau bức tranh của Vuillard đã được đem đến nhà ông ta và treo trong phòng ăn ở tầng trệt. Chiều hôm đó ông ta điện lại cảm ơn tôi và mời Caroline và tôi đến dùng bữa tối; ông ta bảo rằng muốn tham khảo ý kiến chúng tôi về bức tranh.

Với cơ may ba trăm bảy mươi ngàn bảng tôi không nghĩ rằng có thể từ chối lời mời của ông ta, dù sao Caroline cũng có vẻ háo hức muốn nhận lời, cô ấy giải thích rằng muốn thấy nhà ông ta ra sao.

Chúng tôi dùng bữa tối với Travers ngày thứ năm sau đó. Hóa ra chúng tôi là những khách mời duy nhất, và tôi còn nhớ lúc đó đã ngạc nhiên vì Travers vợ không có mà bạn gái cũng không. Ông ta là một chủ nhà chu đáo, và bữa ăn mà ông ta chuẩn bị quả là tuyệt. Tuy vậy, lúc đó tôi cho rằng ông ta đã hơi quá quan tâm đến Caroline, mặc dù cô ấy tỏ ra thích điều đó. Có lúc tôi phải tự hỏi nếu mình bỗng nhiên biến mất thì liệu hai người ấy có biết hay không.

 Khi chúng tôi về Travers nói rằng ông ta hầu như đã quyết định mua bức tranh, điều này khiến tôi nghĩ rằng tối hôm ấy ít nhất cũng đã đem lại một điều gì đó.

 Sáu ngày sau bức tranh được trả lại với một lá thư kèm theo nói rằng ông ta không còn thích nó nữa. Travers không giải thích lý do, mà chỉ viết ở cuối thư rằng ông ta hy vọng sẽ trở lại để xem những bức tranh khác của Vuillard. Tôi thất vọng trả lại tiền cọc cho ông ta, nhưng ý thức được rằng khách hàng đôi khi cũng trở lại, có khi hàng tháng, có lúc hàng năm sau.

 Nhưng Travers thì không bao giờ.

 Khoảng một tháng sau tôi đã biết tại sao hắn không trở lại. Lúc đó tôi đang ăn trưa tại chiếc bàn lớn ở câu lạc bộ của tôi, chiếc bàn đã được giành cho các hội viên đến một mình, điều bình thường ở hầu hết các hội đoàn nam giới. Percy Fellows là người tiếp theo vào phòng ăn, và ngồi đối diện tôi. Từ lần triển lãm tranh của Vuillard tôi chưa gặp lại để trò chuyện cùng ông ta, mà lần trước cũng chẳng nói được gì nhiều. Percy là một trong những nhà buôn đồ cổ được trọng vọng nhất ở nước Anh, và tôi có lần đã làm được một phi vụ với ông ta, đổi một bức phong cảnh Hà Lan của Utrillo lấy một chiếc bàn viết của vua Charles đệ nhị.

 Tôi lặp lại rằng tôi rất buồn khi nghe chuyện của Diana.

“Chuyện như thế bao giờ cũng kết thúc bằng ly dị,” ông ta giải thích. “Cô ta đã ra vào xoành xoạch mọi phòng ngủ của London. Tôi đã thấy mình giống một thằng điên, và gã Travers chó chết đó chỉ là giọt nước cuối cùng”.

– Travers ư?, tôi ngạc nhiên hỏi.

– Patrick Travers, người đàn ông tôi đã nêu tên trong đơn xin ly dị. Anh có bao giờ gặp gã ấy chưa?

– Tôi chỉ biết tên thôi, – tôi ngập ngừng, muốn biết nhiều hơn trước khi thừa nhận mối sơ giao.

– Thật buồn cười, – ông ta nói. – Tôi tin chắc là đã gặp hắn ở buổi triển lãm.

– Nhưng anh nói hắn là giọt nước cuối cùng nghĩa là sao? – tôi hỏi, cố đánh lạc hướng ông ta.

– Chúng tôi đã gặp thằng cha ấy ở Ascot, thế đấy. Gã ăn trưa cùng chúng tôi, thỏa thuê uống sâm banh của tôi, ăn kem dâu của tôi, và trong vòng chưa đến một tuần đã lên giường với vợ tôi. Nhưng như thế đã thấm vào đâu.

– Chưa thấm vào đâu à?

– Gã còn dám đến cửa hàng của tôi và đặt một khoản tiền cọc lớn để mượn một chiếc bàn thời vua George, rồi gã mời vợ chồng tôi đến ăn tối để cùng ngắm nó. Sau khi đã có đủ thời gian để ngủ với Diana gã trả lại chiếc bàn bị vấy bẩn. Anh bạn, trông anh không khỏe lắm. Bộ thức ăn có vấn đề sao? Từ khi đầu bếp Harry bỏ qua làm cho nhà hàng Carlton thì món ăn ở đây không còn được như trước nữa. Tôi đã nhiều lần phản ảnh vói câu lạc bộ nhưng…

 – Không, không sao, – tôi nói. – Tôi chỉ cần một chút không khí trong lành thôi. Percy, xin lỗi anh nhé.

 Khi từ câu lạc bộ trở về, tôi tự nhủ phải cho gã Travers một bài học.

Sáng hôm sau tôi chờ thư đến và xem tất cả các phong thư gửi cho Caroline. Không có gì bất thường cả, nhưng rồi tôi cho rằng Travers không ngu đến nỗi tự cáo giác mình bằng giấy mực. Tôi cũng bắt đầu nghe ngóng các cuộc điện đàm của cô ấy, nhưng hắn không ở trong số những người gọi, ít nhất cũng là trong lúc tôi ở nhà. Tôi còn kiểm tra cả đồng hồ chiếc Mini của Caroline xem cô ấy có lái xe đi đâu xa không, nhưng quảng trường Eaton thì nào có xa! Thường thì người ta thua cuộc chỉ vì đã không lâm trận, tôi quyết định thử chúng tôi không quan hệ trong một tuần, thế mà cô ấy chẳng hề thắc mắc..

 Tôi tiếp tục canh chừng Caroline thật gắt thêm hai tuần nữa, nhưng hiển nhiên là Travers đã chán cô nàng khi trả lại bức tranh. Điều này càng làm tôi tức giận.

 Thế là tôi lên một kế hoạch trả thù mà vào lúc đó đối với tôi thật phi thường, dù tôi cho rằng sau vài ngày tôi sẽ vượt qua được, thậm chí quên hẳn nó nữa. Nhưng tôi đã không quên: Dầu gì đi nữa thì ý nghĩ đó đã trở thành một nỗi ám ảnh. Tôi bắt đầu tự thuyết phục rằng mình có nghĩa vụ khử Travers trước khi hắn làm hoen ố gia đình bất kỳ bạn bè nào khác của tôi.

 Trước đó suốt đời tôi chưa bao giờ phạm pháp. Những khoản phạt đậu xe lố giờ làm tôi bực bội, tôi chúa ghét những kẻ xả rác bừa bãi, và tôi đóng thuế nghiêm chỉnh ngay ngày thông báo thuế đựng trong chiếc phong bì đáng sợ được nhét vào hộp thư nhà tôi.

 Tuy vậy,  một khi tôi đã quyết định phải làm gì thì tôi lập kế hoạch thật tỉ mỉ. Lúc đầu tôi định bắn Travers, những khám phá ra rằng việc xin giấy phép mang súng khó khăn biết chừng nào, và dẫu tôi làm được điều đó thì hắn cũng sẽ chết mà chẳng đau gì lắm, tôi không định cho hắn được chết dễ dàng như thế. Rồi ý nghĩ đầu độc đến với tôi – nhưng điều đó đòi hỏi phải có toa thuốc, nghĩa là có nhân chứng – và tôi vẫn không thể chứng kiến cái chết từ từ mà tôi mong muốn. Tôi nghĩ đến việc bóp cổ, nhưng điều này đòi hỏi quá nhiều lòng can đảm – chưa kể là hắn lớn con hơn tôi, và vì thế tôi có nguy cơ trở thành kẻ bị bóp cổ. Còn việc dìm hắn chết đuối thì có thể phải mất hàng năm để dụ hắn đến gần sông suối, mà tôi chưa chắc đã dám nán lại để chắc chắn là hắn sẽ chìm luôn. Tôi còn nghĩ đến việc cán chết tên khốn đó, nhưng phải bỏ ý định này khi nhận ra rằng hầu như chẳng có cơ hội nào, hơn nữa tôi cũng chẳng có thời gian dừng xe lại để xem hắn đã chết thật chưa. Tôi rất nhanh chóng nhận ra rằng muốn giết người mà được bình yên vô sự thật khó biết bao.

 Tôi thức suốt đêm tham khảo tiểu sử của những kẻ sát nhân, nhưng vì bọn chúng đều bị bắt và bị kết án, công trình ấy chẳng đem lại cho tôi chút tự tin nào. Tôi quay sang đọc tiểu thuyết trinh thám, loại truyện dường như luôn chứa đựng một chút ngẫu nhiên, những điều may mắn, và những sự bất ngờ mà tôi không muốn liều, cho đến khi tôi đọc được dòng chữ khích lệ sau đây của Conan Doyle: “Bất kỳ ai bị người mưu hại mà lại có một thói quen nhất định nào đó thì sẽ dễ trở thành nạn nhân hơn”. Và tôi nhớ lại thói quen mà Travers hết sức tự hào về nó. Tôi phải chờ cơ hội đó thêm sáu tháng, nhưng điều đó cũng cho tôi thời gian để hoàn thiện kế hoạch của mình. Tôi tận dụng quãng thời gian chờ đợi bắt buộc đó bằng cách mỗi khi Caroline đi đâu vắng hơn 24 tiếng, tôi lại tập trượt tuyết ở dốc trượt khô tại Harrow.

Tôi dễ dàng biết được khi nào Travers sẽ quay lại Verbier, và tôi đã chuẩn bị kế hoạch nghỉ đông sao cho nó chỉ trùng với kỳ nghỉ của hắn có ba ngày, một khoảng thời gian đủ cho tôi lần đầu phạm tội.

 Caroline và tôi đến Verbier vào ngày thứ sáu thứ nhì của tháng giêng. Cô ấy đã hơn một lần bình phẩm về thần kinh của tôi, và hy vọng là kỳ nghỉ sẽ giúp tôi thư giãn. Tôi không dám thú nhận với vợ tôi rằng chính ý nghĩ về kỳ nghỉ đã làm đầu óc tôi căng thẳng. Mọi việc càng tệ hơn, khi Caroline hỏi tôi trên chuyến bay đến Thụy Sĩ rằng liệu tôi có nghĩ rằng Travers sẽ đến Verbier không.

 Buổi sáng đầu tiên sau khi đến chúng tôi đi ghế cáp treo lên núi vào lúc mười giờ ba mươi và, khi đến đỉnh dốc, Caroline đến trình diện Marcel. Trong khi cô ấy lướt đi cùng Marcel thì tôi trở lại đường trượt B cùa mình. Như mọi khi, chúng tôi thỏa thuận gặp lại nhau ở trạm chờ cáp treo, hoặc vào lúc ăn trưa.

 Trong những ngày sau đó tôi ôn đi ôn lại kế hoạch mà tôi đã hoàn thiện trong đầu và thực tập công phu tại Harrow cho đến khi tin chắc là chẳng còn gì sai sót. Đến cuối tuần thứ nhất tôi tin chắc là mình đã sẵn sàng.

Tối hôm trước khi Travers đến, tôi là người rời đường trượt sau cùng. Ngay cả Caroline cũng nhận ra rằng tôi đã tiến bộ nhiều trong môn trượt tuyết, và cô ấy đề nghị Marcel cho tôi tập ở đường trượt A với những khúc quanh gắt hơn và độ dốc lớn hơn.

– Có lẽ sang năm, – tôi nói thế, cố tỏ ra vui vẻ, và trở lại đường trượt B.

Trong buổi sáng cuối cùng tôi tập đi tập lại ở dặm đầu tiên của đường trượt mải đến nỗi quên giờ ăn trưa với Caroline.

Đến chiều tôi xem đi xem lại vị trí các lá cờ đỏ đánh dấu dường trượt, và khi đã yên tâm là người trượt cuối cùng đã về nghỉ tôi nhổ khoảng ba chục lá cờ và cắm chúng lại theo một lộ trình mà tôi đã tính toán cẩn thận. Việc cuối cùng của tôi là kiểm tra tuyến đường tôi đã chuẩn bị trước khi đắp một gò tuyết lớn cách điểm tôi đã chọn khoảng hai chục bước chân. Khi mọi việc đã xong tôi chậm rãi trượt xuống núi trong ánh hoàng hôn nhạt nhòa.

– Anh định giành huy chương vàng Olympic hay sao vậy? – Caroline hỏi khi tôi trở về phòng. Tôi đóng cửa nhà tắm để khỏi phải trả lời cô ấy.

Một giờ sau đó Travers đến.

Tôi chờ đến tối rồi đến gặp hắn ở quầy bar. Khi mới thấy tôi hắn có vẻ căng thẳng, nhưng tôi đã nhanh chóng làm hắn yên lòng. Chẳng bao lâu sự tự tin cố hữu trở lại với hắn, điều này càng làm tôi cương quyết thực hiện kế hoạch của mình. Tôi bỏ hắn ở quầy bar vài phút trước khi Caroline xuống ăn tối để cô ấy không thấy chúng tôi gặp gỡ.

 – Anh ăn ít quá, thật không giống anh chút nào, nhất là khi anh đã bỏ ăn trưa. –  Caroline nhận xét khi chúng tôi rời phòng ăn tối hôm ấy.

Tôi không bình phẩm gì khi chúng tôi đi qua chỗ Travers ngồi ở quầy bar, tay hắn để trên đầu gối một phụ nữ trung niên vô tội khác.

 Đêm hôm đó tôi không chợp mắt một giây nào, và tôi bò ra khỏi giường ngay trước sáu giờ sáng hôm sau, cẩn thận để không làm Caroline thức giấc. Mọi thứ vẫn nằm nguyên trên nền nhà tắm y như tôi đã đặt chúng tối hôm trước. Vài phút sau tôi mặc quần áo và đã sẵn sàng. Tôi leo xuống cầu thang phía sau khách sạn, tránh không dùng thang máy, và lẻn ra ngoài bằng cửa thoát hiểm, lần đầu tiên biết được cảm giác của một tên trộm ra sao. Tôi đội mũ len kéo sụp xuống tận mang tai và đeo một đôi kính trượt tuyết che mắt: giờ đây ngay cả Caroline cũng không thể nhận ra tôi.

 Tôi đến trạm cáp treo bốn mươi phút trước khi nó đến giờ mở cửa. Khi tôi đứng sau căn nhà nhỏ chứa máy móc để vận hành cáp treo tôi biết rằng giờ đây mọi việc tùy thuộc vào việc Travers giữ đúng thói quen của hắn. Tôi không chắc có thể tiến hành trôi chảy nếu như kế hoạch phải dời lại đến hôm sau. Trong khi chờ đợi tôi giậm chân trên tuyết mới rơi, và đập tay vào ngực để giữ ấm. Thỉnh thoảng tôi lại nhìn quanh, hy vọng sẽ thấy hắn sải bước đến gần. Cuối cùng một chấm đen xuất hiện bên vệ đường ở chân đồi, một đôi ván trượt trên vai. Nhưng nếu đó không phải Travers?

 Vài phút sau tôi bước ra khỏi nơi trú ẩn để gặp người đàn ông đang đến. Đó là Travers, và hắn không giấu nổi ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi. Tôi bắt đầu một cuộc trò chuyện vu vơ rằng tôi không ngủ được, và tôi nghĩ mình có thể trượt vài vòng trước khi đến giờ cao điểm. Giờ đây điều duy nhất tôi cần là cáp treo bắt đầu đúng giờ. Khoảng bảy giờ vài phút một thợ máy đến và guồng máy khổng lồ đầy dầu mỡ bắt đầu quay.

 Hai chúng tôi là những người đầu tiên ngồi lên ghế cáp treo đưa chúng tôi lên cao, vượt qua một khe núi sâu. Tôi cứ quay đầu lại mãi để tin chắc là không có người nào trong tầm quan sát.

Thường thì tôi hoàn tất được một vòng trượt trước khi bất kỳ ai đến, Travers nói thế khi ghế treo lên đến điểm cao nhất. Tôi quay nhìn lại để chắc chắn là đã ra khỏi tầm nhìn của người thợ máy điều khiển cáp treo, rồi nheo mắt nhìn xuống từ độ cao bảy mươi mét, tôi tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu một người ngã lộn cổ xuống khe núi. Tôi bắt đầu thấy chóng mặt và ước gì đã không nhìn xuống.

 Ghế cáp treo rung động từ từ đưa chúng tôi lên đến điểm dừng chân.

 – Mẹ kiếp, – tôi nói khi hai chúng tôi nhảy xuống ghế. – Marcel chưa đến.

 – Ông ta chẳng bao giờ đến giờ này cả, – Travers nói, bắt đầu đi về phía dốc trượt cao cấp. – Hãy còn quá sớm đối với ông ta. 

– Tôi không nghĩ là anh sẽ cùng trượt xuống với tôi? – tôi gọi với theo Travers.

 Hắn dừng chân quay nhìn lại với vẻ ngờ vực.                                           

– Caroline nói là tôi đã sẵn sàng để cùng trượt với anh, – tôi giải thích, – nhưng tôi không chắc lắm, và sẽ rất cảm ơn ý kiến của một người khác nữa. Tôi đã nhiều lần phá kỷ lục của chính mình ở đường trượt B, nhưng tôi không muốn tự làm mình bẽ mặt trước vợ tôi.

 – A, tôi…

 – Giá như Marcel ở đây thì tôi đã hỏi ông ta rồi. Và trong trường hợp nào đi nữa thì anh cũng là tay trượt giỏi nhất mà tôi biết.

 – À, nếu anh… – hắn bắt đầu.

 – Chỉ một lần thôi, rồi anh có thể dùng hết kỳ nghỉ của anh ở đường trượt A. Anh còn có thể xem chuyến này như để làm nóng vậy mà.

 – Tôi cho là có thể làm thế một lần để thay đổi, – hắn nói.

 – Chỉ môt lần thôi, – tôi lặp lại. – Tôi chỉ cần có thế. Rồi anh có thể cho tôi biết tôi đủ sức chưa. – Tôi bắt đầu mang ván trượt vào.

– Hay là ta đua nhé?, – hắn nói thế làm tôi ngạc nhiên. Tôi không thể phàn nàn; mọi quyển sách nói về chuyện sát nhân đều cảnh báo tôi chuẩn bị cho tình huống ngoài dự kiến. – Đó là cách ta có thể tìm ra xem anh đã sẵn sàng chưa, hắn nói tiếp một cách xấc xược.

– Nếu anh muốn thế. Đừng quên là tôi nhiều tuổi hơn và ít kinh nghiêm hơn anh, – tôi nhắc hắn. Tôi nhanh chóng kiểm tra ván trượt của mình vì tôi biết phải đi trước hắn.

– Nhưng anh đã quá rành đường trượt B rồi, – hắn trả đũa. – Tôi thì chưa nhìn thấy nó bao gíờ.

– Tôi sẽ đồng ỷ trượt thị, nếu anh đồng ý đánh cá, – tôi đập lại.

Lần đầu tiên tôi thấy hắn tỏ ra quan tâm.

– Bao nhiêu? hắn hỏi.

– Ồ, không có gì thô tục hơn tiền bạc, – tôi nói. – Người thắng sẽ phải cho Caroline biết sự thật.

– Sự thật ư? – hắn nói, có vẻ ngỡ ngàng.

– Phải, – tôi nói, và lao vút xuống dốc trước khi hắn kịp trả lời. Tôi khởi đầu khá tốt khi trượt quanh các lá cờ đỏ, nhưng khi liếc nhìn về phía sau tôi thấy hắn nhanh chóng lấy lại thăng bằng và đang đuổi theo rất sát. Tôi biết là phải luôn dẫn trước hắn trong chặng đầu của đường trượt, nhưng tôi đã thấy hắn đang rút ngắn khoảng cách.

Sau khoảng nửa dặm rượt đuổi hắn hét lên, “Anh sẽ phải trượt nhanh hơn nhiều mới hòng thắng được tôi”. Câu nói huênh hoang của hắn càng làm tôi cố dẫn trước, nhưng tôi làm được điều đó chỉ nhờ lợi thế thông thuộc mọi ngã rẽ và khúc quanh của chặng đường đó. Khi tôi biết chắc sẽ đến điểm quyết định trước Travers tôi bắt đầu thư giãn một chút. Dù tôi đã từng rèn luyện trên chặng đương hai trăm mét sắp tới đến năm chục lần mỗi ngày trong mười ngày qua, tôi biết rằng lần này là lần quyết định.

Tôi liếc nhìn lại thì hắn chỉ còn cách tôi chừng ba chục mét. Khi gần đến chặng đường đã chuẩn bị trước tôi bắt đầu giảm tốc độ, hy vọng hắn không nhận thấy, hoặc không nghĩ rằng tôi run sợ. Tôi giảm hẳn tốc độ khi đến đầu chặng đường đó, cho đến khi nghe thấy tiếng thở hổn hển của hắn sau lưng. Rồi, thật bất ngờ, ngay trước khi vào đường trượt đó tôi lao thẳng vào đụn tuyết đắp sẵn và dừng hẳn lại. Travers lướt qua tôi với vận tốc sáu mươi kilômét giờ, và vài giây sau bay vọt qua khe núi với một tiếng rú thất thanh mà tôi sẽ chẳng bao giờ quên được. Tôi không dám nhìn xuống khe núi vì biết rằng tất cả xương cốt của hắn đã gãy nát khi đâm xuống tuyết ở độ sâu hàng trăm mét phía dưới.

Tôi thận trọng san bằng đụn tuyết đã cứu sống tôi và cố leo trở lên núi thật nhanh, gom lại ba mươi lá cờ mà tôi đã cắm để đánh dấu đường trượt giả. Rồi tôi cắm chúng lại vào đúng vị trí ban đầu của đường trượt B, cách đường trượt giả chừng vài trăm mét. Khi xong việc tôi trượt xuống núi, cảm giác như mình là vô địch thế vận hội. Xuống đến chân núi tôi kéo mũ trùm kín đầu và để nguyên kính che mắt. Tôi tháo ván trượt và ung dung đi về khách sạn. Tôi vào lại bằng cửa sau và đến bảy giờ bốn mươi đã trở vào giường.

Tôi cố kiểm soát nhịp thở, nhưng phải mất một lúc mạch tôi mới trở lại bình thường. Vài phút sau Caroline thức giấc, quay sang ôm tôi.

– Chà, – cô ấy nói, – anh lạnh cóng rồi. Anh không đắp chăn hay sao vậy?

Tôi bật cười – Chắc là em đã giành chăn của anh đấy.

– Anh đi tắm nước nóng đi.

Tôi nhanh chóng đi tắm và sau đó làm tình với Caroline, rồi tôi mặc lại y phục, kiểm tra lại để chắc chắn là đã không để lại dấu vết gì về chuyến đi hồi sáng sớm. Xong tôi xuống dùng điểm tâm.

Khi Caroline rót cà phê lần thứ nhì cho tôi, tôi nghe thấy tiếng còi xe cứu thương đến và sau đó chạy đi.

– Hy vọng không phải là một tai nạn nghiêm trọng lắm, – vợ tôi vừa nói vừa rót cà phê.

– Sao cơ? – tôi hỏi, hơi cao giọng, liếc nhìn lên từ tờ Times ngày hôm trước.

– Tiếng còi hụ đó, ngốc ạ. Hẳn là trên núi phải có tai nạn rồi. Chắc là Travers, – cô ấy nói.

– Travers ấy à, – tôi nói, giọng còn cao hơn lúc nãy.

– Patrick Travers đó. Đêm qua em thấy hắn ở quầy bar. Em không nói với anh bởi vì anh biết đó, em chẳng ưa gì hắn.

– Nhưng sao lại là Travers? – Tôi hồi hộp hỏi.

– Chẳng phải hắn luôn khoe là sáng nào cũng lên đỉnh núi đầu tiên đó sao? Còn trước cả huấn luyện viên nữa.

– Vậy sao?

– Anh hãy còn nhớ chứ? Lần đầu mình đến đây đã gặp hắn khi lên núi, lúc đó hắn đã trượt được ba vòng.

– Thế à?

– Edward, sáng nay anh lơ mơ thật. Anh có xuống giường lộn bên không vậy? – cô ấy vừa cười vừa hỏi.

Tôi lặng thinh.

– Chà, em chỉ mong đó là Travers, – Caroline vừa nói vừa nhấm nháp cà phê. – Em chẳng bao giờ ưa thằng cha đó.

– Tại sao không? – tôi ngạc nhiên hỏi.

– Hắn đã một lần tán tỉnh em, – cô ấy nói, giọng tỉnh khô.

Tôi nhìn cô nàng trân trối, không nói nên lời.

– Anh không hỏi chuyện gì xảy ra sau đó sao?

– Anh bàng hoàng quá không biết nói gì, – tôi đáp.

– Tối hôm ở phòng tranh hắn cứ xun xoe mãi bên cạnh em, rồi hắn mời em ăn trưa sau lần cùng tụi mình ăn tối. Em bảo hắn hãy biến đi, – Caroline nói. Cô ấy khẽ chạm vào tay tôi.

– Em chưa hề nói chuyện đó với anh vì em nghĩ đó có thể là lý do hắn trả lại bức Vuillard, và điều đó làm em cảm thấy mình có lỗi.

– Nhưng anh mới là người có lỗi, – tôi nói, lúng túng cầm miếng bánh mì nướng.

– Ồ không, anh yêu ạ, anh có lỗi gì đâu. Trong bất cứ trường hợp nào, nếu như em muốn phản bội anh thì cũng không phải với hạng thằn lằn như hắn. Lạy Chúa, không đâu. Diana đã cảnh báo em phải dè chừng hắn. Cái ngữ đó chẳng hợp với em chút nào.

Tôi ngồi đó hình dung ra cảnh Travers được đưa vào nhà xác, hay tệ hơn thế, vẫn còn bị vùi dưới tuyết, biết rằng mình chẳng làm gì được.

– Anh biết không, em nghĩ thực sự đã đến lúc anh thử đường trượt A đấy, Caroline nói khi dùng điểm tâm xong. – Khả năng trượt tuyết của anh đã tiến bộ vượt bực.

– Ừ, – tôi đáp, hơi trầm ngâm một chút.  Tôi không nói thêm lời nào khi chúng tôi đi đến chân núi.

– Cưng ơi, anh ổn chứ? – Caroline hỏi khi chúng tôi lên dốc bên nhau trên ghế cáp treo.

– Tốt, – tôi nói, không dám nhìn xuống khe núi khi chúng tôi lên cao. Travers có còn ở dưới đó không, hay đã vào nhà xác?

– Thôi đừng có làm ra vẻ sợ sệt như trẻ con nữa. Sau tất cả những cố gắng của anh tuần rồi thì anh đã sẵn sàng cùng trượt với em, – cô ấy trấn an tôi.

Tôi mỉm cười yếu ớt. Khi lên đến nơi, tôi nhảy ra khỏi ghế hơi quá sớm, và mới bước đi một bước tôi biết ngay là mình đã bị trặc chân.

Caroline không tỏ ra thương xót chút nào. Cô ấy cho là tôi cố ý giả vờ để khỏi phải thử đường trượt cao cấp. Cô ấy trượt xuống dốc còn tôi đau đớn quay lại bằng cáp treo. Khi xuống đến nơi tôi liếc nhìn người thợ máy nhưng anh ta chẳng buồn để mắt đến tôi. Tôi đi cà nhắc đến trạm cứu thương. Vài phút sau Caroline cũng vào.

Tôi kể lại với cô ấy việc nhân viên trực cho rằng tôi có thể bị nứt xương và đề nghị tôi đi gặp bác sĩ ngay.

Caroline nhíu mày, cởi ván trượt và đi gọi taxi để đưa tôi đến bệnh viện. Quãng đường không dài và cách lái xe qua những khúc quanh trơn trợt của người tài xế cho thấy ông ta rất thông thuộc đường đi.

– Xin bà vui lòng đợi ở ngoài, – một nhân viên nói khi người ta đưa tôi vào phòng chụp X quang.

– Vâng, nhưng liệu tôi có còn gặp lại người chồng đáng thương của tôi không? – cô ấy nói đùa khi người ta đóng cửa phòng lại.

Tôi vào căn phòng được trang bị đầy máy móc hiện đại điều khiển bởi một vị bác sĩ trong trang phục đắt tiền. Tôi bảo ông ấy chuyện xảy ra với tôi, và ông ta nâng bàn chân đau của tôi lên máy X quang. Vài phút sau ông ta xem tấm phim chụp lớn.

– Xương không bị nứt, – ông ta trấn an tôi, chỉ tay vào phim. – Nhưng nếu ông vẫn còn đau thì tôi sẽ băng chặt mắt cá lại cho ông. – Rồi vị bác sĩ treo tấm phim của tôi lên cùng với năm tấm khác trên giá.

– Hôm nay tôi đã là bệnh nhân thứ sáu rồi sao? – tôi nhìn dãy phim và hỏi.

– Không đâu, – ông ta vừa cười vừa nói. – Năm tấm kia là của cùng một người. Tôi nghĩ ông ta chắc đã cố bay qua khe núi, rõ thật điên rồ.

– Bay qua khe núi ư?

– Vâng, chắc là để khoe khoang, tôi nghĩ thế, – ông ta vừa băng chân cho tôi vừa nói. – Năm nào cũng có tai nạn, nhưng anh chàng đáng thương này bị gãy hết hai chân, một tay, và sẽ còn một vết sẹo dễ sợ trên mặt để ông ta nhớ mãi sự ngu xuẩn của mình. Theo tôi ông ta sống được là may rồi.

 – Sống được là may ư? – Tôi yếu ớt nhắc lại.

 – Vâng, nhưng chỉ vì ông ta không biết việc mình làm. Đứa con mười bốn tuổi của tôi trượt tuyết qua khe núi đó và có thể đáp xuống nhẹ nhàng như một con mòng biển đáp xuống nước vậy. Còn ông ta thì trái lại, – vị bác sĩ chỉ tay vào các tấm phim X quang, sẽ không thể trượt tuyết lại trong kỳ nghỉ này đâu. Đúng ra ông ta ít nhất sáu tháng nữa mới có thể đi lại được.

– Thật sao? – tôi hỏi.

 – Còn ông, – vị bác sĩ nói thêm, sau khi đã băng cho tôi xong, – chỉ cần chườm đá chỗ đau ba giờ một lần và thay băng mỗi ngày một lần. Chỉ cần hai ngày, tối đa ba ngày là ông có thể trượt tuyết lại được.

 – Tối nay chúng tôi về rồi, – tôi vừa nói vừa nhăn nhó đứng dậy.

 – Thật là đúng lúc, – ông ta cười.

 Tôi vui vẻ đi cà nhắc ra khỏi phòng X quang, thấy Caroline đang xem tạp chí Elle.

 – Trông anh có vẻ hài lòng nhỉ, – cô ấy ngẩng lên nói.

 – Đúng vậy. Thì ra không gì xui xẻo cho bằng bị gãy một tay, hai chân, và lãnh một cái sẹo trên mặt.

 – Em ngốc thật, – Caroline nói, – Em tưởng anh chỉ bị bong gân thôi.

– Không phải anh, – tôi bảo Caroline. Travers đấy – tai nạn hồi sáng, em còn nhớ không? Chiếc xe cứu thương đó. Tuy nhiên họ cam đoan với anh là hắn sẽ qua khỏi, – tôi nói thêm.

 – Tiếc thật, – cô ấy nói, khoác tay tôi. – Sau tất cả những chuyện anh đã cực khổ bày ra, em đã hy vọng rằng anh sẽ thành công.

(Dịch từ tập A Twist in the Tale)

(Nguồn : vnthuquan.net)

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Thư viện

%d người thích bài này: