//
you're reading...
góp nhặt cát đá, Về Huế, về Lịch Sử

Hải Vân kỳ vĩ – Nguyễn Phước Tương

Đã từ lâu, núi Hải Vân đã được Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đánh giá là một vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Vào năm 1613, trước khi băng hà, Chúa đã dặn lại con trai là Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên rằng: “Đất Thuận Quảng nầy, phía bắc có Hoành Sơn và sông Linh Giang, phía nam có núi Hải Vân và núi Thạch Bi, thật là nơi Trời đã để cho người anh hùng dụng võ. Vậy ta phải thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ mà gây dựng cơ nghiệp muôn đời”.

Thật vậy, nằm giữa địa giới của Thuận Hóa và Quảng Nam, một mạch núi cao xuất phát từ dãy Trường Sơn chạy thẳng đến tận biển Đông với các ngọn núi Đại Tu Nông, Tiểu Tu Nông, Kiền Kiền nối tiếp nhau chập chùng, tận cùng là đỉnh cao 1.172 mét với chân ngâm dưới nước biển xanh và ngọn lẫn trong làn mây trắng; Đó là núi Hải Vân, một danh thắng kỳ vĩ. Ngày nay phía bắc đèo Hải Vân thuộc địa phận tỉnh Thừa Thiên – Huế, phía nam đèo thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và đỉnh đèo là ranh giới hành chánh giữa hai tỉnh.

Nằm về phía tây núi Hải Vân có núi Bà Sơn, về phía bắc có núi Hà Sơn. Từ ngoài khơi nhìn vào, người ta thấy ba ngọn núi cao vút chín tầng mây trông tựa như bức trường thành dựng đứng mọc lên từ biển cả, gợi lên cho con người cảm giác kỳ vĩ của thiên nhiên.

Trong mạch núi Hải Vân còn có núi Liên, còn gọi là núi Sen và núi Sảng hay núi Sấn. Trước đây dưới thời chúa Nguyễn, con đường thiên lý từ trạm Chân Sảng giáp Phú Lộc đến trạm Nam Ô trên đất Hòa Vang phải qua núi Liên, núi Sảng mà ở đây là người đã dựng lên các liễu trọ, quán cơm cho lữ khách bộ hành dừng chân ăn uống hay nghỉ đêm hoặc làm nơi gặp gỡ trong buôn bán, trong hẹn hò tình duyên. Vì vậy mà có những câu ca dao còn lưu lại đến tận bây giờ:

Bạn phỉnh ta chín đợi mười chờ
Lênh đênh quán Sấn, dật dờ quán Sen.

Con đường trạm vượt qua Hải Vân đó dài 39 dặm, đi bộ phải mất ba ngày. Về sau, núi Liên, núi Sảng được vua Minh Mạng đổi tên, gọi là Thạch Lĩnh Sơn. Dưới thời vua Thành Thái, người Pháp đục xuyên núi nầy nhiều hầm để đặt đường xe lửa, trong đó nổi tiếng là Hầm Sen dài nhất 562 mét. Con đường trạm qua đèo Hải Vân cheo leo nguy hiểm, một bên là vách đá dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm, quanh co gấp khúc, lúc thì lên cao, lúc thì xuống dốc nối nhau liên tiếp, có những đoạn đường quyện trong mây. Bởi lẽ đó mà đèo Hải Vân được người Pháp đặt cho cái tên là Đèo Mây (Col des Nuages). Ngày xưa con đường trạm phải vượt qua ba đèo chính là Thượng Đạo,  Trung Đạo và Chính Thượng Đạo tức là đèo Hải Vân. Từ đỉnh đèo Hải Vân xuôi về phía nam chừng bảy tám cây số, đối diện với biển có môt ngọn núi gọi là Thông Sơn, tục danh là Hòn Hành. Đến năm 1823, vua Minh Mạng đặt tên cho hòn núi đó là Định Hải Sơn vì trên có xây một pháo đài phòng hải dưới thời triều Nguyễn:

Hải Vân bát ngát mây trùng
Hòn Hành ở đó là trong vịnh Hàn.

Ở ngòai khơi, về phía đông bắc, một hòn núi nhỏ từ mặt biển nhô lên như một non bộ, ở trên đó ngày xưa cũng có pháo đài bảo vệ duyên hải nên nó có tên là Đảo Ngự Hải.

Cũng về phía đông bắc núi Hải Vân, sóng đại dương qua hàng thiên niên kỷ vỗ vào chân núi, khoét sâu vào vách đá tạo thành một hang rộng gọi là Hang Dơi; ở chỗ ấy thường có sóng to, vì vậy mà con đường ngày xưa vào kinh đô Phú Xuân đi vào dinh Quảng Nam đâu phải dễ dàng:

Đi bộ thì sợ Hải Vân
Đi thủy thì sợ sóng thần Hang Dơi.

Ngoài khơi về phía bắc núi Hải Vân cũng có vũng Trà Sơn còn gọi là Đồng Long Loan nay gọi là vịnh Đà Nẵng. Vào năm 1471, vua Lê Thánh Tôn trên đường chinh phạt Champa, khi thuyền rồng dừng lại trên vịnh Đồng Long, trước cảnh quan hùng vĩ của núi Hải Vân và vẻ đẹp của biển Trà Sơn dưới đêm trăng, nhà vua đã tức cảnh đề thơ:

Trăng Đồng Long ba canh đêm tĩnh
Thuyền Lộ Hạc (1) năm trống gió thanh (2).

Ngày xưa núi Hải Vân như một bình phong thiên nhiên chắn ngang con đường trạm nối liền Thuận Hóa với Quảng Nam nên dân gian gọi là núi ải. Ở đây thế núi dựng đứng như vách đá đồ sộ, bao phủ mây mù. Bởi vậy nhà thơ Kỳ Xuyên Nguyễn Thông thời Tự Đức đã cảm hứng nên tức thơ:

Đá dựng biên thành hiểm trở
Gió xao mây tỏa sương mù.

Trước vẻ đẹp kỳ vĩ của Hải Vân, danh sĩ người Thái Bình Đoàn Nguyên Tuấn cũng đã xuất khẩu thành thi:

Cửa biển nhô khối núi cao
Khói mây quen thói họp vào tầng không(3).

Đường thiên lý qua núi ải quanh co, cheo leo trên độ cao 496 mét, nẻo đi khúc khuỷu, bậc đá gập ghềnh, cây mọc xen đá, rừng sâu thăm thẳm, buổi sáng mây dày như đệm, trưa hững nắng mây tan, chiều buông sương lạnh giá, tựa như con đường hóc hiểm đi vào đất Tây Thục, đã làm cho chúa Nguyễn Phúc Chu trong chuyến tuần du phương nam năm 1719 đến Quảng Nam Dinh đã cảm tác:

Việt Nam ải hiểm núi này
Kém chi đường Thục con xây trập trùng
Trông lên ba chóp mây lồng
Chẳng hay người ở mấy trùng trời xanh (4).

Trong lần quân Trịnh đánh chiếm Phú Xuân trong khi Nguyễn Tây Sơn tiến đánh Quảng Nam Dinh vào năm 1774, Hoàng Ngũ Phúc, đại tướng quân Trịnh đã ra lệnh đắp một cái lũy cao chắn ngang cửa ải trên đỉnh đèo Hải Vân gọi là đỉnh Ly để chống lại quân Tây Sơn, nay không còn dấu vết.

Đến đời Minh Mạng (1620-1840) nhà vua đã cho xây đá thành bậc ở những đoạn đường dốc cho dễ đi lại và ngay trên đỉnh đèo Hải Vân hay Chính Thượng Đạo cho dựng thành cửa ải để bảo vệ đèo và đường trạm. Đến năm 1826, thành ải được đắp cao 6 thước, dày hơn 4 thước, có các cửa tò vò quay ra hai hướng bắc và nam cao 4,3 thước, rộng 3,2 thước làm lối cho đường thiên lý đi qua.

Phía trên cửa tò vò quay về hướng bắc treo một tấm biển to bằng đá cẩm thạch khắc ba chữ Hán lớn “Hải Vân Quan” nghĩa là cửa ải Hải Vân, và phía trên cửa tò vò quay về hướng nam cũng có biển đá với sáu chữ Hán lớn “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” nghĩa là cửa ải hùng vĩ nhất dưới bầu trời.

Tuy nhiên, thời xưa Hải Vân Quan tuy hùng vĩ nhưng ở một nơi hoang sơ, heo hút, xa xóm làng nên những người lính thú làm nhiệm vụ gác cửa ải, giữ đường trạm, chống bọn bất lương không khỏi chạnh lòng nhớ tới tổ ấm gia đình trong những buổi chiều hôm xa nhà:

Chiều chiều mây phủ Hải Vân
Chim kêu ghềnh đá gẫm thân thêm buồn.

Dưới thời vua Gia Long (1801-1819) trên đất liền ngang vịnh Sơn Trà, nhà vua đã ra chiếu chỉ đắp thêm lũy Câu Đề chạy từ chân núi đến bờ biển.

Vào đầu thế kỷ 19, thời triều Nguyễn, sau khi xây Hải Vân Quan, tuy khu vực đèo nầy đã có người ở nhưng dân cư rất thưa thớt, vì vậy triều đình Huế đã có chính sách khuyến khích nhân dân hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Nam di cư đến sinh sống từ chân núi đến đỉnh đèo Hải Vân. Theo “Đại Nam Nhất Thống Chí” vào năm 1825, vua Minh Mạng khi xa giá đi qua đèo Hải Vân đã ban thưởng cho mỗi nhà dân ở đây một lạng bạc. Tiếp sau đó, vào năm 1827, theo “Đại Nam Thực Lục Tiền Biên”, vua Minh Mạng lại ra chỉ dụ ban thưởng cho dân sống dọc theo Hải Vân một lần nữa. Sau đó, vào năm 1837, nhà vua lại ra chỉ dụ cho quan Kinh Doãn ở kinh đô và quan tỉnh Quảng Nam vận động nhân dân hai dinh Thuận Hóa và Quảng Nam đến định cư ở khu vực đèo Hải Vân và họ được miễn thuế thân, quân dịch và tạp dịch, đồng thời được miễn thuế khai hoang ruộng vườn và còn được cấp thêm mười quan tiền cho việc định cư nầy.

Con đường thiên lý đi qua núi Hải Vân, xưa kia vốn là lối đi hẹp, hiểm trở, hai bên là rừng cây rậm rạp, muốn vượt qua phải mất ba ngày đường, là môi trường thuận lợi cho việc trú ẩn và hoạt động của bọn lục lâm thảo khấu chuyên chặn đường khách bộ hành để giết người cướp của. Để khống chế hoạt động phi pháp của bọn người bất lương nầy, năm 1842, vua Thiệu Trị (1841-1847) đã ra chiếu chỉ cấm mọi người dân không được đi qua đèo Hải Vân bằng những con đường tắt để tránh nguy hiểm đến tính mạng. Đồng thời nhà vua cũng đã ra chỉ dụ cho quan Kinh Doãn kinh đô và quan tỉnh Quảng Nam cho lấp kín các lối đi tắt nầy bằng cách trồng thật nhiều cây có gai hoặc đổ đầy đất đá và bắt tội bất kỳ ai đi qua các chỗ ấy để bảo vệ dân, chống bọn cướp. Con đường độc đạo xuyên qua đèo Hải Vân, qua thời gian còn ghi lại dấu ấn hai cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm bằng những “lô cốt” còn sót lại đây đó dọc theo con đường và đã chứng kiến những trận đánh khốc liệt giữa hai phe Quốc Cộng.

Ngày nay những triền núi cao chạy dọc theo đường đèo Hải Vân đã được phủ xanh bởi hàng trăm héc-ta rừng thông Caribe và bạch đàn xanh tốt đã qua thời kỳ khép tán, làm cho môi trường, cảnh quan ở đây thêm đẹp đẽ, lành mạnh. Tuy nhiên, trên mặt bằng hẹp tại đỉnh đèo Hải Vân, qua thời gian lịch sử và các cuộc chiến tranh, chỉ còn lại một bộ phận nhỏ của di tích cửa ải xưa: cửa tò vò trông về phía bắc vẫn còn nguyên vòm, còn cửa tò vò trông về phía nam thì bị sụt lỡ chỉ còn lại thềm bậc đá chân ải. Mỗi lần đến chân đèo Hải Vân, điểm giáp ranh của hai tỉnh Thừa Thiên – Huế và Quảng Nam – Đà Nẵng, nhìn thấy “Hải Vân Quan Đệ Nhất Hùng Quan”, tiếng tăm một thời vang dội, nay chỉ còn lại một bộ phận ở tình trạng hoang phế dưới sức nặng của thời gian và sự thờ ơ của con người, tôi không khỏi băn khoăn. Tôi thầm nghĩ rằng giá như chính quyền hai tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và Thừa Thiên – Huế quan tâm đến việc phục chế trùng tu di tích lịch sử cổ xưa nầy, chắc chắn nó sẽ tạo nên một điểm chấm phá cho bức tranh du lịch toàn cảnh miền Trung nước ta.

Nguyễn Phước Tường

Chú Thích:

1. Hộ Hạc (Lopburi), theo nhà nghiên cứu Nhật Bản Yamamoto Tatsuro, là một quốc gia cổ ở hạ lưu sông Mê-Nam (Chao Praya). Thương nhân nước nầy thường đưa thuyền buôn vượt biển đến buôn bán với Champa.

2. Thơ chữ Hán:

Tam canh dạ tình Đồng Long nguyệt
Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền

3. Nguyên bản chữ Hán:

Hải môn khái xứ khối nguy phong
Phong thượng yên hà hiệp thái không

(bản dịch của tác giả)

(Nguồn : saigontimesusa.com)

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Thư viện

%d người thích bài này: