//
you're reading...
góp nhặt cát đá, Truyện Dịch

Thánh đường – Raymond Carver

Phạm Minh Điệp dịch

Raymond Carver (1938-1988) (tt)

Raymond Carver là nhà văn viết truyện ngắn và nhà thơ người Mỹ.

Ông sinh tại Clatskanie, tiểu bang Oregon, trong một gia đình công nhân. Bắt đầu sáng tác vào năm 1958 sau khi đã học qua khóa viết văn tại Chico State College ở California. Ông nhận bằng cử nhân từ Humboldt State College vào năm 1963. Trước khi cho xuất bản tập truyện ngắn đầu tay Put Yourself in My Shoes (1974), Raymond Carver đã sáng tác hai tập thơ, Near Klamath (1968) và Winter Insomnia (1970).

Vào cuối thập kỷ 1960s và trong thập kỷ 1970s, Raymond Carver phải nhập viện nhiều lần do chứng nghiện rượu. Qua việc thể hiện những kinh nghiệm này vào các tác phẩm của mình, ông đã tạo dựng thành công bước đầu, với những nhân vật trong các mẩu truyện liên hệ đến những khó khăn do chứng nghiện rượu gây ra.

Raymond Carver được biết đến qua những truyện ngắn có sức thu hút mạnh. Cuộc sống và thời niên đầy khó khăn đã cung cấp nhiều tư liệu cho các tác phẩm của ông, vốn thường chú trọng vào những giấc mơ bị đánh mất, những mối liên hệ bị tan vỡ, và ảo vọng. Ông được nhìn nhận là một trong những cây bút truyện ngắn Anh ngữ hàng đầu, và đã có công khơi lại mối yêu thích truyện ngắn trong lòng người đọc vào thập kỷ 1980s.

(tt)

Lão mù ấy, một người bạn cũ của vợ tôi, lão ta đang trên đường đến nghỉ nhờ qua đêm. Vợ lão mới chết. Thế nên lão ta đang đi thăm họ hàng nhà vợ ở Connecticut. Từ nhà họ, lão gọi cho vợ tôi. Việc thu xếp đã xong xuôi. Lão ta sẽ đi tàu đến, một chuyến đi dài năm tiếng đồng hồ, và vợ tôi sẽ đón lão ở ga. Nàng đã không gặp lão kể từ sau lần làm việc cho lão ở Seattle vào mùa hè mười năm về trước. Nhưng nàng và lão mù vẫn luôn giữ liên lạc. Họ ghi lời vào băng rồi gửi qua gửi lại. Tôi chẳng hứng thú gì với chuyến viếng thăm của lão ta. Tôi chẳng quen biết gì lão. Và việc lão ta bị mù làm tôi khó chịu. Hình dung của tôi về chuyện bị mù là từ phim ảnh. Trong phim, người mù đi lại chậm chạp và chẳng bao giờ cười. Đôi khi họ được chó trợ giúp dẫn đường. Có một lão mù ở trong nhà chẳng phải là điều tôi mong đợi.

Cái mùa hè đó ở Seattle nàng cần một công việc. Nàng chẳng có chút tiền bạc nào. Cái gã nàng định cưới vào cuối hè thì đang ở trường đào tạo sĩ quan. Hắn cũng chẳng có tiền. Nhưng nàng yêu hắn, và hắn yêu nàng, vân vân và vân vân. Nàng thấy cái này trên báo: TUYỂN GIÚP VIỆC – Đọc giúp người mù, và một số điện thoại. Nàng gọi điện, đến gặp, và được thuê ngay lập tức. Nàng làm cho lão mù suốt cả mùa hè. Nàng đọc đủ thứ cho lão, các nghiên cứu, báo cáo, những thứ kiểu như vậy. Nàng giúp lão sắp xếp cái phòng làm việc nhỏ của lão tại cơ quan dịch vụ xã hội của quận. Họ trở thành bạn thân, vợ tôi và lão mù. Làm sao tôi biết những điều này ư? Nàng đã kể cho tôi. Và nàng còn kể cho tôi thêm điều này nữa. Vào ngày cuối cùng của nàng trong phòng làm việc, lão mù hỏi liệu lão ta có thể chạm vào mặt nàng được không. Nàng đồng ý. Nàng kể lão lần ngón tay lên khắp khuôn mặt nàng, mũi nàng – thậm chí cả cổ nàng! Nàng không bao giờ quên chuyện đó. Nàng thậm chí còn thử làm một bài thơ về chuyện ấy. Lúc nào nàng cũng thử làm thơ. Năm nào nàng cũng viết một hai bài thơ, thường là sau khi điều gì đó thật quan trọng xảy ra với mình.

Khi chúng tôi mới bắt đầu hò hẹn, nàng cho tôi xem bài thơ ấy. Trong đó, nàng hồi tưởng những ngón tay của lão và cái cách chúng di chuyển khắp khuôn mặt mình. Trong bài thơ, nàng nói về điều mình cảm nhận được khi đó, về cái điều đã chạy qua tâm trí mình khi lão mù chạm vào mũi vào môi nàng. Tôi nhớ mình đã không nghĩ nhiều về bài thơ ấy. Tất nhiên, tôi không nói với nàng như thế. Có thể chỉ là vì tôi không hiểu được thơ ca. Tôi phải thừa nhận đó chẳng phải là thứ đầu tiên tôi chạm đến khi chọn gì đó để đọc.

Dù sao thì, thằng đàn ông đầu tiên được hưởng tình cảm ưu ái từ nàng, tay sĩ quan tương lai nọ, hắn là tình yêu từ thời con nít của nàng, ừ thì, cũng được thôi. Tôi đang kể rằng cuối mùa hè ấy nàng để lão mù sờ lên khắp mặt mình, tạm biệt lão, đi cưới cái tình yêu thời con nít nọ, kẻ lúc này đã thành một sĩ quan được phong cấp, và chuyển đi khỏi Seattle. Nhưng họ giữ liên lạc, nàng và lão mù. Sau khi rời đi khoảng một năm thì nàng liên lạc lại. Một đêm nàng gọi cho lão từ một căn cứ không quân ở Alabama. Nàng muốn nói chuyện. Họ đã nói chuyện. Lão bảo nàng gửi cho lão một cuộn băng kể về cuộc đời nàng. Nàng đã làm thế. Nàng gửi cuộn băng. Trong băng, nàng kể với lão mù về chồng nàng và về cuộc sống chung của họ trong quân đội. Nàng kể với lão mù rằng nàng yêu chồng nhưng nàng không thích chỗ mình đang sống và nàng không thích việc hắn là một phần của cái thứ quân đội-công nghiệp ấy. Nàng kể với lão mù rằng nàng đã làm một bài thơ và lão có trong đó. Nàng kể với lão nàng đang làm một bài thơ về chuyện làm vợ một sĩ quan không quân. Bài thơ vẫn chưa xong. Nàng vẫn đang viết dở. Lão mù thu một cuộn băng. Lão gửi cho nàng. Nàng lại thu một cuộn băng. Chuyện này tiếp diễn hàng bao nhiêu năm. Tay sĩ quan của vợ tôi bị thuyên chuyển đến căn cứ nọ rồi lại một căn cứ khác nữa. Nàng gửi những cuộn băng từ Moody AFB, McGuire, McConnell, và cuối cùng là Travis, gần Sacramento, là nơi mà một đêm nàng chợt cảm thấy cô đơn và bị chia cắt khỏi những người mà nàng cứ mãi đánh mất liên lạc trong cái cuộc đời phải di chuyển khắp nữa. Nàng vào nhà nốc sạch số thuốc đủ loại trong tủ thuốc và dộng trồi chúng bằng một chai rượu gin. Rồi nàng vào bồn tắm nóng và xỉu đi.

Nhưng thay vì chết, nàng chỉ ốm. Nàng nôn mửa. Tay sĩ quan của nàng – sao hắn phải cần đến tên chứ? Hắn đã là người yêu thời thơ ấu của nàng rồi, hắn còn muốn gì hơn nữa? – từ xó xỉnh nào đó về đến nhà, thấy nàng như vậy bèn gọi cấp cứu. Sau một thời gian, nàng kể hết chuyện ấy vào trong băng và gửi cuộn băng tới lão mù. Nhiều năm sau đó, nàng vẫn kể đủ thứ chuyện vào băng rồi thần tốc gửi đi. Bên cạnh việc mỗi năm làm một bài thơ, tôi nghĩ đó là phương tiện giải trí của nàng. Trong một cuộn băng, nàng kể với lão mù rằng nàng đã quyết định rời xa chàng sĩ quan của nàng một thời gian. Trong một cuộn khác, nàng kể về vụ ly hôn của nàng. Nàng và tôi bắt đầu hẹn hò, và đương nhiên là nàng lại kể với lão mù về chuyện đó. Nàng kể với lão đủ mọi thứ, hoặc có thể là tôi cảm thấy thế. Một lần nàng hỏi tôi có muốn nghe cuộn băng mới nhất từ lão mù không. Hồi đó là một năm trước.

Tôi được nhắc đến trong cuộn băng ấy, nàng bảo. Thế là tôi bảo được thôi, tôi sẽ nghe. Tôi lấy đồ uống cho cả hai rồi chúng tôi yên vị trong phòng khách. Chúng tôi đã sẵn sàng lắng nghe. Đầu tiên nàng nhét cuộn băng vào máy và chỉnh vài nút. Rồi nàng nhấn một nút. Cuộn băng phát ra tiếng ken két và ai đó bắt đầu nói giọng rất to. Nàng hạ âm lượng xuống. Sau một vài phút chuyện gẫu linh tinh, tôi nghe thấy tên mình từ miệng con người xa lạ này, cái lão mù mà tôi thậm chí còn không biết! Và rồi câu này: Từ tất cả những điều cô nói về anh ấy, tôi chỉ có thể kết luận rằng…” Nhưng chúng tôi bị phá ngang, một tiếng gõ ngoài cửa, cái gì đó, và chúng tôi thậm chí còn không bao giờ quay trở lại với cuộn băng ấy nữa. Có lẽ cũng tốt cả thôi. Tôi đã nghe đủ những thứ tôi muốn nghe rồi.

Giờ thì chính cái lão mù này đang đến ngủ lại ở nhà tôi.

“Có khi anh đưa lão ta đi chơi bowling cũng được đấy nhỉ,” tôi nói với vợ. Nàng đang đứng cạnh giá phơi bát chuẩn bị món khoai tây vỏ sò. Nàng bỏ con dao đang dùng xuống và quay lại.

“Nếu anh yêu em,” nàng nói, “anh có thể tiếp bạn em vì em. Còn nếu anh không yêu em, thì cũng được thôi. Nhưng nếu anh có một người bạn, bất kỳ ai, và người ta đến thăm, thì em sẽ làm cho anh ta cảm thấy dễ chịu.” Nàng lau tay vào chiếc khăn lau bát.

“Anh chẳng có thằng bạn mù nào cả,” tôi nói.

“Anh chẳng có một người bạn nào cả,” nàng nói. “Hết chuyện. Ngoài ra,” nàng nói, “quỷ tha ma bắt, vợ ông ấy mới chết! Anh không hiểu điều đó sao? Ông ấy đã mất vợ rồi!”

Tôi không trả lời. Nàng có kể với tôi chút ít về vợ lão mù. Tên bà ta là Beulah. Beulah! Đấy là cái tên của đàn bà da màu.

“Vợ lão là người da đen à?” tôi hỏi.

“Anh điên à?” vợ tôi hỏi. “Anh mất trí rồi hay sao thế?” Nàng cầm một củ khoai tây lên. Tôi trông thấy nó rơi xuống sàn, rồi lăn vào dưới gầm bếp lò. “Có chuyện gì với anh thế?” nàng hỏi. “Anh say à?”

“Anh chỉ hỏi thế thôi,” tôi nói.

Vào ngay cái lúc ấy vợ tôi nhồi cho tôi vô vàn chi tiết, nhiều hơn những gì tôi muốn được biết. Tôi tự pha cho mình một ly và ngồi xuống bên bàn bếp nghe. Những mẩu chuyện bắt đầu trở nên có trật tự.

Beulah đã tới làm việc cho lão mù vào mùa hè sau khi vợ tôi nghỉ. Rất nhanh sau đó Beulah và lão mù làm đám cưới ở nhà thờ. Đó là một đám cưới nhỏ – thì, suy cho cùng, ai mà muốn đến dự một đám cưới như thế chứ? – chỉ có hai người, cộng với ông mục sư và vợ ông mục sư. Nhưng nó vẫn cứ là một đám cưới ở nhà thờ. Đó là điều Beulah muốn, lão kể. Nhưng thậm chí ngay từ hồi ấy Beulah có lẽ đã mang mầm bệnh ung thư trong người rồi. Sau khi họ không thể chia ly trong suốt tám năm – từ của vợ tôi đấy, không thể chia ly – sức khỏe của Beulah nhanh chóng xuống dốc. Bà ta chết trong một phòng bệnh viện Seattle, lão mù ngồi bên giường nắm lấy bàn tay bà ta. Họ đã kết hôn, sống và làm việc cùng nhau, ngủ cùng nhau – làm tình nữa, đương nhiên rồi – và rồi lão mù phải chôn bà ta. Tất cả những chuyện đó diễn ra mà lão mù không hề biết người đàn bà chết tiệt ấy trông ra làm sao. Thật quá sức thấu hiểu của tôi. Nghe chuyện này, tôi cũng cảm thông chút ít với lão mù. Nhưng rồi tôi lại thấy mình nghĩ về cái cuộc đời đáng thương mà hẳn người đàn bà này đã sống. Tưởng tượng mà xem, một người đàn bà không bao giờ trông thấy được hình ảnh mình hiện lên trong đôi mắt của người yêu. Một người đàn bà cứ sống ngày qua ngày mà chẳng bao giờ nhận được một lời ca ngợi tối thiểu từ người yêu dấu. Một người đàn bà có ông chồng không bao giờ đọc được xúc cảm trên mặt mình, dù nó có là khổ sở hay thế nào đó khá hơn đi chăng nữa. Có trang điểm hay không – với lão thì cũng có gì khác? Bà ta có thể, nếu muốn, đánh màu xanh lè quanh một mắt, xuyên một cái kim vào lỗ mũi, mặc quần âu vàng đi giày tím, chẳng sao. Và rồi khi chìm vào cái chết, với bàn tay lão mù đặt trên tay mình, đôi mắt mù của lão tràn trề nước mắt – tôi đang tưởng tượng thế – ý nghĩ cuối cùng của bà ta có lẽ là thế này: lão thậm chí chưa bao giờ biết được bà ta trông ra sao, và giờ bà ta đã trên chuyến tàu tốc hành xuống hầm mộ. Robert còn lại một mình với khoản tiền chính sách bảo hiểm nho nhỏ và nửa phần đồng tiền xu 20 pê xô Mexico. Nửa kia của đồng tiền xuống quan tài cùng bà ta. Rõ đáng thương.

Thế rồi đã đến lúc, vợ tôi ra ga đón lão. Chẳng còn gì làm ngoài chờ đợi – hẳn rồi, tôi đổ tội này cho lão – tôi đang uống và xem ti vi thì nghe tiếng xe ô tô tiến vào lối đi. Tôi đứng dậy khỏi xô pha với ly rượu trên tay và đi ra cửa sổ nhìn.

Tôi thấy vợ tôi vui cười khi nàng cho xe đỗ. Tôi thấy nàng ra khỏi xe và đóng cửa lại. Nàng vẫn đang mang một nụ cười. Thật quá ư là kỳ diệu. Nàng đi vòng sang phía bên kia xe nơi lão mù đang bắt đầu bước ra. Lão mù ấy, tưởng tượng thế này nhé, lão có râu quai nón! Một bộ râu quai nón trên mặt một gã mù! Thế thì hơi quá, tôi bảo ngay thế đấy. Lão mù với ra ghế sau lôi ra một cái va li. Vợ tôi cầm lấy cánh tay lão, đóng cửa xe lại, và, vừa nói chuyện suốt đoạn đường, vừa dẫn lão đi hết lối vào nhà, qua bậc tam cấp lên hiên nhà đằng trước. Tôi tắt ti vi. Tôi uống cạn ly, rửa qua cái ly, lau khô tay. Rồi tôi đi ra cửa.

Vợ tôi nói, “Em muốn anh làm quen với Robert. Chú Robert, đây là chồng cháu. Cháu đã kể hết với chú về anh ấy rồi đấy.” Nàng đang rất rạng rỡ. Nàng giữ lấy tay áo khoác của lão mù.

Lão mù thả va li ra và đưa bàn tay lên.

Tôi cầm lấy nó. Lão ta siết mạnh, giữ lấy tay tôi, rồi thả nó ra.

“Tôi cảm giác như chúng ta đã gặp nhau rồi vậy,” lão nói với giọng trầm vang.

“Tôi cũng thế,” tôi đáp lại. Tôi chẳng biết nói gì hơn. Rồi tôi bảo, “Chào mừng ông. Tôi đã nghe về ông rất nhiều.” Sau đó chúng tôi bắt đầu bước tới, một nhóm người nho nhỏ, từ mái hiên vào trong phòng khách, vợ tôi nắm cánh tay lão để dẫn đường. Lão mù xách chiếc va li trên tay kia. Vợ tôi nói những câu đại loại như, “Ở bên trái đấy, Robert. Đúng rồi. Giờ thì cẩn thận nhé, có một cái ghế. Đúng rồi. Ngồi luôn xuống đây nhé. Đây là xô pha. Bọn cháu vừa mới mua chiếc xô pha này cách đây hai tuần.”

Tôi định nói gì đó về cái xô pha cũ. Tôi thích cái xô pha cũ. Nhưng tôi không nói gì cả. Rồi tôi muốn nói chuyện khác, chuyện gẫu thôi, về chuyến đi đầy cảnh đẹp dọc sông Hudson, về chuyện khi đi đến New York, người ta nên ngồi bên phải tàu, và đi khỏi New York, thì bên trái tàu.

“Chuyến đi tốt đẹp cả chứ ạ?” tôi hỏi. “Mà, ông ngồi tàu bên phía nào thế?”

“Hỏi han thế đấy à, bên phía nào!” vợ tôi thốt lên. “Bên nào thì có làm sao chứ?” nàng nói.

“Anh chỉ hỏi thế thôi!” tôi đáp.

“Bên phải,” lão mù trả lời. “Gần bốn mươi năm nay tôi không đi tàu rồi. Từ hồi còn bé. Với các cụ nhà tôi. Đã lâu lắm rồi. Tôi gần như đã quên hết cảm giác lúc ấy. Giờ thì đến râu tôi cũng đã ngả màu mùa đông,” lão nói. “Mà đấy là người ta bảo tôi thế thôi. Trông tôi có khác không, cô bé?” lão mù hỏi vợ tôi.

“Trông chú khác nhiều, chú Robert ạ,” nàng nói. “Chú Robert,” nàng nói. “Chú Robert, thật mừng biết bao được gặp chú.”

Vợ tôi cuối cùng cũng rời mắt khỏi lão mù mà nhìn sang tôi. Tôi có cảm giác nàng không thích điều nàng đã thấy. Tôi nhún vai.

Tôi chưa bao giờ gặp, hay quen biết, bất kỳ ai bị mù. Lão mù này chừng gần năm mươi, đậm người, hói, vai sụm xuống, như thể đang phải vác một thứ gì nặng lắm. Lão ta mặc quần âu màu nâu, đi giày nâu, mặc áo nâu nhạt, đeo cà vạt, khoác áo khoác thể thao. Thật là bảnh. Lão ta còn có bộ râu quai nón rậm rạp. Nhưng lão không dùng gậy và không đeo kính tối màu. Tôi đã luôn nghĩ rằng kính đen là thứ bắt buộc đối với người mù. Sự thật là, tôi ưóc giá như lão ta đeo kính đen. Mới nhìn, mắt lão ta trông cũng như mắt bất kỳ ai. Nhưng nếu nhìn gần hơn, có cái gì đó ở chúng rất khác. Thứ nhất là lòng đen thì trắng quá, còn con ngươi thì hình như cứ chạy quanh hốc mắt mà lão ta cũng chẳng biết hoặc chẳng thể dừng nó lại. Ghê chết. Khi tôi chăm chú nhìn mặt lão, tôi thấy con ngươi mắt trái chạy vào bên trong về phía mũi trong khi con ngươi kia cố gắng đứng im một chỗ. Nhưng cũng chỉ là cố gắng thôi, vì cái con mắt phải cứ chạy loanh quanh mà lão cũng chẳng biết hoặc chẳng muốn như vậy.

Tôi nói, “Để tôi mời ông một ly nhé. Ông thích món gì? Bọn tôi có mỗi thứ một ít. Đấy là một trong những thú giải trí của bọn tôi.”

“Chàng trai, tôi đây là một tay Xcốt,” lão ta nói nhanh với chất giọng oang oang.

“Phải rồi,” tôi nói. Chàng trai! “Chắc chắn rồi. Tôi đã biết thế mà.”

Lão ta lần những ngón tay lên cái va li đang đặt dọc cạnh xô pha. Lão ta đang định vị bản thân. Tôi không trách lão.

“Cháu sẽ mang lên phòng cho chú,” vợ tôi nói.

“Không, ở đây được mà,” lão mù nói lớn. “Để khi nào tôi lên hẵng hay.”

“Pha thêm chút nước lọc chứ?” tôi hỏi.

“Chút ít thôi,” lão ta đáp.

“Tôi biết mà,” tôi nói.

Lão ta nói tiếp, “Chỉ một tẹo thôi. Cái anh chàng diễn viên Alien ấy, Barry Fitzgerald nhỉ? Tôi cũng giống anh ta. Fitzgerald nói, khi tôi uống nước thì tôi uống nước. Khi tôi uống uýt ki, thì tôi uống uýt ki.” Vợ tôi bật cười. Lão mù đưa tay lên bộ râu. Lão nâng nó lên chầm chậm rồi thả ra.

Tôi pha đồ uống, ba ly Xcốt lớn có phớt chút nước lọc. Rồi chúng tôi thư giãn và nói chuyện về những chuyến đi của Robert. Đầu tiên là một chuyến bay dài từ Bờ Tây sang Connecticut, chúng tôi có nói đến cả nó nữa. Rồi từ Connecticut lên đây bằng tàu hỏa. Chúng tôi uống thêm một ly nữa để nói hết chuyện về chuyến đó.

Tôi nhớ đã đọc được đâu đó rằng người mù không hút thuốc vì, theo như suy đoán, họ không thể thấy được làn khói họ nhả ra. Tôi tưởng tôi biết rất nhiều và rất nhiều về riêng người mù. Nhưng lão mù này lại rít điếu thuốc của lão ta tới tận đầu lọc rồi lại còn châm điếu nữa. Lão mù này hút đầy cả cái gạt tàn và vợ tôi đem đi đổ.

Khi ngồi vào bàn ăn tối, chúng tôi lại làm thêm một ly nữa. Vợ tôi chất vào đĩa của Robert bít tết viên, khoai tây vỏ sò, đậu xanh. Tôi quết bơ hai lát bánh mì cho lão ta. Tôi nói, “Bánh mì bơ cho ông đây.” Tôi uống thêm một chút. “Giờ ta cầu nguyện nào,” tôi nói, và lão mù hơi cúi đầu xuống. Vợ tôi nhìn tôi, miệng nàng há ra vì kinh ngạc. “Cầu cho điện thoại không reo và thức ăn không nguội lạnh,” tôi nói.

Rồi chúng tôi đánh chén. Chúng tôi ăn tất cả những gì ăn được ở trên bàn. Chúng tôi ăn như thể không có ngày mai. Chúng tôi chẳng nói chuyện gì. Chúng tôi ăn. Chúng tôi ngốn ngấu. Chúng tôi cạp sạch bàn ăn. Chúng tôi ăn thực là nghiêm túc. Lão mù định hình được chỗ thức ăn của mình ngay lập tức, lão ta biết hết các thứ ở chỗ nào trên đĩa của mình. Tôi xem mà khâm phục khi thấy lão dùng dao nĩa để ăn thịt. Lão cắt hai miếng thịt, xiên thịt đưa vào miệng, rồi tập trung sang món khoai tây vỏ sò, đậu là thứ kế tiếp, rồi lão xé một miếng lớn bánh mì bơ và ăn chỗ đó. Lão tiếp tục với một ngụm sữa lớn. Chuyện bốc tay đôi lúc cũng chẳng có vẻ gì là phiền hà với lão cả.

Chúng tôi ăn sạch mọi thứ, bao gồm cả nửa cái bánh nướng dâu tây.

Mất một lúc lâu, chúng tôi ngồi như thể choáng váng. Mồ hôi lấm tấm trên mặt chúng tôi. Cuối cùng, chúng tôi đứng dậy bỏ lại bát đĩa dơ. Chúng tôi không ngoái lại. Chúng tôi dắt nhau vào phòng khách và ngồi phịch xuống chỗ của mình. Robert và vợ tôi ngồi trên xô pha. Tôi ngồi ở cái ghế bành to. Chúng tôi uống thêm hai ba ly nữa trong khi hai người kia trò chuyện về những việc lớn đã xảy ra với họ trong mười năm qua. Phần lớn tôi chỉ nghe. Đôi lúc tôi có tham gia. Tôi không muốn lão ta nghĩ tôi đã rời phòng, và tôi không muốn nàng nghĩ tôi thấy bị bỏ rơi. Họ nói về những điều đã xảy ra với họ – với họ! – trong mười năm ấy. Tôi chờ đợi trong vô vọng được nghe thấy tên mình trên đôi môi ngọt ngào của vợ tôi: “Rồi người chồng yêu của tôi bước vào đời tôi” – cái gì đó đại loại như vậy. Nhưng tôi chẳng nghe được cái gì giống vậy. Chuyện chủ yếu về Robert. Cái gì Robert cũng từng làm qua một chút, có vẻ vậy, một tay mù đa-zi-năng. Nhưng gần đây nhất gã và vợ phân phối sản phẩm cho Amway*, tôi đoán là họ kiếm sống từ công việc ấy, có vẻ vậy. Lão mù còn làm người vận hành radio nghiệp dư nữa. Lão ta ồm ồm nói về những cuộc đối thoại với những người đồng nghiệp vận hành đài ở Guam, ở Philippines, ở Alaska, thậm chí cả ở Tahiti. Lão nói nếu có bao giờ muốn tới thăm mấy nơi đó thì lão sẽ có rất nhiều bạn. Chốc chốc, lão lại quay cái mặt mù về phía tôi, sờ cằm bên dưới bộ râu, hỏi tôi điều gì đó. Tôi đã làm ở vị trí hiện tại được bao lâu rồi? (Ba năm.) Tôi có thích công việc của tôi không? (Không.) Liệu tôi có tiếp tục với nó không? (Có lựa chọn ư?) Cuối cùng, khi tôi nghĩ lão đã bắt đầu bớt lời, tôi đứng dậy bật ti vi.

Công ty hóa mỹ phẩm kinh doanh đa cấp.

Vợ tôi nhìn tôi đầy khó chịu. Nàng đang sắp nổi khùng lên. Rồi nàng nhìn sang lão mù mà hỏi, “Robert, chú có ti vi không?”

Lão mù đáp, “Cô bé à, tôi có hai cái ti vi. Một cái có màu và một cái đen trắng, một món di tích. Thật buồn cười, nhưng mà nếu tôi bật ti vi, và tôi thì luôn bật ti vi, thì tôi bật chiếc có màu. Buồn cười thật, mọi người có thấy thế không?”

Tôi chẳng biết nói gì về chuyện đó. Tôi hoàn toàn không có gì để nói về chuyện đó. Không ý kiến. Thế là tôi xem chương trình tin tức và cố nghe xem phát thanh viên đang nói gì.

“Đây là ti vi màu,” lão mù nói. “Đừng hỏi tôi tại sao, nhưng tôi có thể đoán đúng được đấy.”

“Bọn tôi mới đổi đợt trước,” tôi nói.

Lão mù nhấp một ngụm nữa từ ly của mình. Lão nâng chòm râu lên, hít hít, rồi thả xuống. Lão nghiêng người về phía trước. Lão xác định vị trí của chiếc gạt tàn trên bàn nước và đưa bật lửa lên điếu thuốc lá. Lão ngả người ra xô pha và bắt hai cổ chân lên nhau.

Vợ tôi che miệng, và nàng ngáp. Nàng vươn vai. Nàng nói, “Chắc là cháu phải lên tầng khoác thêm áo choàng đây. Có khi cháu cũng thay đồ luôn. Robert, chú cứ thoải mái nhé,” nàng nói.

“Tôi thoải mái mà,” lão mù nói.

“Cháu muốn chú được thoải mái trong nhà này,” nàng bảo.

“Tôi có thoải mái mà,” lão mù đáp.

SAU khi nàng rời phòng, lão và tôi nghe bản tin thời tiết và điểm tin thể thao. Vào lúc ấy, nàng đã đi lâu tới mức tôi không biết nàng có quay xuống nữa hay không. Tôi còn nghĩ có khi nàng đã đi ngủ rồi cũng nên. Tôi ước nàng sẽ quay trở xuống. Tôi không muốn bị bỏ lại một mình với một lão mù. Tôi hỏi lão xem có muốn uống thêm ly nữa không, và lão nói chắc chắn rồi. Thế là tôi hỏi xem lão có muốn hút ít chất kích thích với tôi không. Tôi nói tôi vừa mới cuộn một điếu. Tôi chưa cuộn, nhưng tôi định sẽ cuộn nó chỉ trong một loáng.

“Tôi sẽ thử một ít với anh,” lão ta nói.

“Chắc chắn là thế chứ,” tôi nói. “Cái thứ đấy mới là đỉnh.”

Tôi lấy thêm đồ uống và ngồi xuống xô pha với lão. Rồi tôi cuộn cho chúng tôi hai điếu lớn. Tôi đốt một điếu và đưa sang. Tôi đưa nó đến tận tay lão. Lão cầm lấy và rít một hơi.

“Giữ hơi càng lâu càng tốt”, tôi nói. Tôi có thể thấy là lão ta không biết cái điều cơ bản này.

Vợ tôi trở xuống với chiếc áo choàng hồng và dép ngủ màu hồng.

“Tôi ngửi thấy mùi gì thế này?” nàng hỏi.

“Bọn anh nghĩ là sẽ thử ít cần sa,” tôi nói.

Vợ tôi ném cho tôi một cái nhìn bực bội. Rồi nàng nhìn lão mù và bảo, “Robert, cháu không biết là chú hút hít đấy.”

Lão nói, “Giờ thì hút rồi, cô bé. Bao giờ cũng có lần đầu tiên cho mọi thứ. Nhưng tôi vẫn chưa cảm thấy gì.”

“Loại này tương đối dịu,” tôi nói. “Loại này nhẹ thôi. Nó là loại chất kích thích mà người ta vẫn có thể suy nghĩ tỉnh táo được,” tôi nói. “Nó không khiến ta loạn trí.”

“Không nhiều thôi, chàng trai ạ,” lão ta nói, và cười phá lên.

Vợ tôi ngồi xuống xô pha giữa lão mù và tôi. Tôi đưa cho nàng điếu thuốc. Nàng cầm lấy rít một hơi rồi đưa lại cho tôi. “Cái này đi tiếp sang ai đây?” nàng hỏi. Rồi nàng nói, “Tôi không nên hút cái này. Tôi khó mà giữ cho mắt mở được đây. Bữa tối đã hạ gục tôi rồi. Lẽ ra tôi không nên ăn nhiều quá như thế.”

“Đấy là tại cái bánh dâu tây đấy,” lão mù nói. “Tại nó đấy,” lão nói, và lão cười cái điệu oang oang ấy. Rồi lão lắc đầu.

“Vẫn còn bánh dâu,” tôi nói.

“Chú có muốn ăn thêm chút không, chú Robert?” vợ tôi hỏi.

“Có lẽ một lát nữa,” lão nói.

Chúng tôi tập trung vào cái ti vi. Vợ tôi lại ngáp. Nàng nói, “Khi nào chú muốn đi ngủ thì giường đã dọn sẵn rồi nhé, chú Robert ạ. Cháu biết hẳn là chú đã có cả một ngày dài. Khi nào chú muốn đi ngủ thì cứ nói nhé.” Nàng kéo cánh tay lão. “Chú Robert à!”

Lão ta chợt tỉnh ra và nói, “Tôi đang có buổi tối tuyệt thế này. Hơn đứt mấy cuộn băng, phải không?”

Tôi nói, “Đến lượt ông đây,” đoạn đặt điếu thuốc vào giữa hai ngón tay lão. Lão rít vào, giữ làn khói, đoạn nhả ra. Cứ như thể lão đã hút từ khi lên chín vậy.

“Cảm ơn, chàng trai,” lão ta nói. “Nhưng tôi nghĩ thế là đủ cho tôi rồi. Tôi nghĩ tôi đang bắt đầu cảm thấy nó rồi đây,” lão nói. Lão đưa cái điếu cần sa đang cháy cho vợ tôi.

“Cháu cũng thế,” nàng nói. “Chính xác đấy. Cháu cũng thế rồi.” Nàng cầm mẩu thuốc đưa sang cho tôi. “Có lẽ cháu sẽ nhắm mắt ngồi đây giữa hai người một lát nữa. Nhưng đừng để cháu phiền đến hai người, được chứ? Cả hai. Nếu thấy phiền thì hai người cứ nói nhé. Nếu không, cháu sẽ cứ nhắm mắt ngồi đây đến khi hai người đi ngủ đấy,” nàng nói. “Chú Robert, khi nào chú sẵn sàng đi ngủ thì giường chú đã dọn sẵn rồi nhé. Phòng chú ngay cạnh phòng bọn cháu trên đầu cầu thang. Khi nào chú muốn lên thì bọn cháu sẽ chỉ chú lên đó. Cứ đánh thức cháu dậy, nếu như cháu ngủ quên.” Nàng nói vậy rồi nhắm mắt lại và ngủ.

Chương trình thời sự kết thúc. Tôi đứng dậy chuyển kênh. Tôi ngồi lại xuống xô pha. Tôi ước gì vợ tôi không mệt lịm đi như thế. Đầu nàng ngoẹo ra trên lưng xô pha, miệng nàng hé mở. Nàng trở mình khiến áo choàng tuột ra khỏi chân, lộ ra cái đùi mơn mởn. Tôi với tay kéo áo choàng che lại cho nàng, và đúng lúc ấy tôi liếc sang lão mù. Việc quái gì chứ! Tôi lại giở áo choàng cho hở ra.

“Nếu muốn ăn thêm bánh dâu thì ông cứ nói nhé,” tôi nói.

“Tôi sẽ nói,” lão đáp.

Tôi nói, “Ông có mệt không? Ông có muốn tôi dẫn lên phòng không? Ông đã muốn đi nghỉ chưa?”

“Chưa đâu,” lão nói. “Chưa, tôi sẽ thức cùng anh chứ, chàng trai. Nếu như thế là được. Tôi thức đến khi anh muốn đi ngủ. Chúng ta chưa có cơ hội trò chuyện nữa. Hiểu ý tôi không? Tôi cảm giác như tôi và cô ấy vừa độc chiếm cả tối.” Lão ta nâng chòm râu lên rồi lại thả xuống. Lão cầm mấy điếu thuốc và cái bật lửa lên.

“Không sao đâu mà,” tôi nói. Rồi tôi bảo, “Tôi rất vui vì có người thù tạc.”

Và tôi cho là tôi đã vui thật. Đêm nào tôi cũng hút hít và thức khuya hết mức có thể trước khi chịu ngủ. Vợ tôi và tôi hiếm khi đi ngủ cùng lúc. Khi ngủ, tôi hay mơ. Đôi khi tôi thức dậy giữa cơn mơ, tim đập loạn xạ.

Có gì đó trên ti vi về nhà thờ và thời kỳ Trung cổ. Chẳng phải là kiểu chương trình ti vi giải trí mà ta thường thích. Tôi muốn xem cái gì đó khác. Tôi chuyển sang các kênh khác. Nhưng cũng chẳng có gì ở những kênh ấy cả. Thế là tôi chuyển lại kênh lúc đầu và xin lỗi.

“Chàng trai à, không sao cả mà,” lão mù nói. “Với tôi thì không sao cả. Anh muốn xem gì cũng được. Tôi luôn học hỏi được điều gì đó. Sự học không bao giờ kết thúc cả. Tối nay có học được điều gì đó thì cũng chẳng hại gì tới tôi. Tôi còn đôi tai mà,” lão nói.

CHÚNG tôi không nói gì một lúc lâu. Lão ta nghiêng người về trước, đầu quay về phía tôi, tai phải nhằm hướng ti vi. Trông rất là khó chịu. Chốc chốc mí mắt lão cụp xuống rồi lại mở bừng ra. Chốc chốc lão đưa mấy ngón tay vào chòm râu giật giật, như thể lão đang nghĩ về điều gì đó nghe được trên ti vi.

Trên màn hình, một nhóm đàn ông mang mũ trùm đầu đang bị trói đứng vào cột và bị những người mặc trang phục bộ xưong người và những người hóa trang thành quỷ dữ hành hạ. Những người mặc đồ quỷ dữ đeo mặt nạ, sừng, đuôi dài. Hoạt cảnh này là một phần của đám rước. Tay thuyết minh viên người Anh đang nói rằng việc đó diễn ra mỗi năm một lần ở Tây Ban Nha. Tôi thử giải thích cho lão mù chuyện đang diễn ra.

“Bộ xương người,” lão nói. “Tôi có biết về những bộ xương người,” lão nói, và gật đầu.

Ti vi quay một thánh đường. Rồi có một cảnh chậm và dài về một thánh đường khác. Cuối cùng, hình ảnh chuyển sang thánh đường nổi tiếng ở Paris, với những trụ bay chịu lực bên ngoài và những tháp nhọn vươn tới tận mây trời. Máy quay lùi ra sau cho thấy toàn cảnh thánh đường nhô lên từ đường chân trời.

Có những lúc tay người Anh đang nói bỗng im bặt, chỉ có máy quay chuyển động quanh các thánh đường. Hoặc máy quay dạo ra vùng nông thôn xung quanh, những người đàn ông đi sau mấy con bò trên các cánh đồng. Tôi chờ lâu hết mức có thể. Rồi tôi cảm thấy phải nói gì đó. Tôi nói, “Giờ họ đang quay phía ngoài cái thánh đường ấy. Các miệng máng xối hình đầu thú. Những cái tượng nhỏ tạc hình quái vật. Giờ thì tôi đoán họ đang ở Ý. Ờ phải, họ đang ở Ý. Có những bức tranh trên tường cái nhà thờ này.”

“Chúng có phải là bích họa không, chàng trai?” lão ta hỏi, và nhấp một ngụm rượu.

Tôi với lấy ly của mình. Nhưng nó đã hết. Tôi cố nhớ lại những gì còn nhớ được. “Ông đang hỏi tôi chúng có phải là bích họa không ấy à?” tôi nói. “Câu hỏi thú vị đây. Tôi không rõ.”

Máy quay chuyển sang một thánh đường ở ngoại ô Lisbon. Sự khác biệt giữa thánh đường Bồ Đào Nha so với Pháp và Ý thật không lớn lắm. Nhưng vẫn có. Hầu hết là về nội thất. Rồi chợt một điều nảy ra trong đầu tôi, và tôi nói, “Có điều này vừa nảy ra trong đầu tôi. Ông có hình dung được một thánh đường trông ra sao không? Trông nó thế nào ấy? Ông có hiểu ý tôi không? Nếu ai đó nói chuyện thánh đường với ông, liệu ông có hiểu họ đang nói về cái gì không? Ông có biết sự khác nhau giữa nó và, ví dụ như, một nhà thờ Baptist không?”

Lão ta để khói thuốc rỉ ra khỏi miệng mình. “Tôi biết là phải mất hàng trăm công nhân làm việc trong vòng năm mươi hay một trăm năm để xây dựng chúng,” lão nói. “Tôi vừa nghe thuyết minh thế, tất nhiên. Tôi biết rằng có nhiều thế hệ của cùng một gia đình đều xây dựng một thánh đường. Tôi cũng nghe anh ta nói thế. Những người bắt đầu sự nghiệp cả đời với nó ấy, họ không bao giờ sống được đến khi nhìn thấy công việc của mình hoàn thành. Theo cái lối đó, anh bạn, thì họ cũng chẳng khác gì chúng ta, phải không?” Lão cười to. Rồi mí mắt lão lại sụp xuống. Đầu lão gật gù. Lão có vẻ như đang ngủ gà. Có thể lão đang tưởng tượng mình ở Bồ Đào Nha. Lúc này ti vi đang chiếu một thánh đường khác. Thánh đường này ở Đức. Giọng tay người Anh lại tiếp tục đều đều. “Những thánh đường,” lão mù nói. Lão ta ngồi thẳng dậy và quay đầu qua quay đầu lại. “Nếu anh muốn biết sự thật, chàng trai, thì chừng đấy là tất cả những gì tôi biết. Những gì tôi vừa nói ấy. Những gì tôi nghe anh ta nói. Nhưng có khi anh có thể miêu tả được cho tôi một thánh đường chăng? Tôi mong anh làm thế. Tôi sẽ rất vui. Nếu anh muốn biết, thì tôi thật sự là không có hình dung gì rõ ràng cả.”

Tôi nhìn chằm chằm vào cảnh quay ngôi thánh đường trên ti vi. Làm sao tôi có thể miêu tả nó chứ? Nhưng cứ giả sử thế này đi, giả sử đời tôi phụ thuộc vào điều này. Giả sử mạng sống của tôi đang bị một gã điên rồ đe dọa, gã bắt tôi phải làm điều đó hoặc đại loại vậy.

Tôi chăm chú nhìn ngôi thánh đường nọ thêm chút nữa trước khi hình ảnh lại chuyển sang cảnh vùng quê. Chẳng có ích lợi gì. Tôi quay sang lão mù mà nói, “Đầu tiên là, chúng rất cao.” Tôi đang nhìn quanh phòng tìm kiếm chút gọi ý. “Chúng vươn mãi lên cao. Cao mãi cao mãi. Lên tận trời. Chúng rất lớn, một vài cái, chúng cần có cột đỡ. Để giúp chúng đứng thẳng, kiểu như vậy. Những cột đỡ này gọi là trụ tường. Chúng nhắc tôi nhớ đến cầu cạn, vì lý do nào đó. Nhưng có lẽ ông cũng không biết câu hỏi.

Lão ngừng gật gù và nghiêng người nhích ra mép xô pha. Trong lúc lắng nghe tôi, lão lùa ngón tay vào chòm râu vuốt vuốt. Tôi không truyền đạt được cho lão, tôi có thể thấy điều đó. Nhưng lão vẫn chờ tôi tiếp tục như không vấn đề gì. Lão gật đầu, như thể đang động viên tôi. Tôi gắng nghĩ ra điều gì khác để kể. “Chúng rất lớn,” tôi nói. “Chúng khổng lồ. Chúng dựng bằng đá xanh. Đá cẩm thạch nữa, thỉnh thoảng. Vào thời xưa, khi xây thánh đường, người ta muốn ở gần với Chúa trời. Vào những ngày cuộc đời mỗi người. Ta có thể thấy điều đó qua cái cách người ta xây thánh đường. Tôi xin lỗi,” tôi nói, “nhưng có vẻ như đấy là những gì tốt nhất tôi có thể làm được cho ông rồi. Tôi thật chẳng giỏi gì trong việc này.”

“Không sao đâu, chàng trai,” lão mù nói. “Này, nghe này. Tôi hy vọng anh không phiền tôi hỏi anh. Tôi hỏi anh điều này được không? Cho tôi hỏi anh một câu đơn giản, có hoặc không thôi. Tôi chỉ tò mò chứ không có ý gì cả. Anh là chủ nhà của tôi mà. Nhưng cho tôi hỏi liệu anh có theo đạo theo bất cứ một cách nào đó không? Anh không phiền tôi hỏi chứ?”

Tôi lắc đầu. Tuy nhiên, lão ta không thể nhìn thấy điều đó. Đối với một lão mù thì gật đầu cũng giống như nháy mắt mà thôi. “Tôi cho là tôi không tin vào nó. Vào bất cứ điều gì. Đôi khi rất khó. Ông hiểu điều tôi nói chứ?”

“Có chứ, chắc chắn rồi,” lão nói.

“Phải rồi,” tôi nói.

Tay người Anh vẫn đang tiếp tục. Vợ tôi thở dài trong cơn mơ. Nàng hít một hơi dài và ngủ tiếp.

“Ông phải thứ lỗi cho tôi,” tôi nói. “Nhưng tôi không thể tả một thánh đường thì trông ra sao được. Việc ấy thật ngoài tầm tôi. Tôi không thể làm được gì hơn những gì đã cố.”

Lão mù ngồi im lìm, đầu cúi xuống lắng nghe tôi nói.

Tôi nói, “Sự thật là, thánh đường chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt đối với tôi. Chẳng gì cả. Thánh đường. Chúng là thứ để xem trên ti vi ban đêm thôi. Tất cả chỉ là thế thôi.”

Đúng khi ấy lão mù hắng giọng. Lão ta cầm cái gì đó lên. Lão lấy một chiếc khăn tay từ túi sau ra. Rồi lão nói, “Tôi hiểu rồi, anh bạn. Được mà. Chuyện đó vẫn xảy ra. Đừng nghĩ ngợi về nó,” lão nói. “Này, nghe tôi nói này. Anh giúp tôi một việc được không? Tôi có ý này. Tại sao anh không tìm cho chúng ta một miếng giấy dày dặn nhỉ? Và một cái bút nữa. Chúng ta sẽ cùng vẽ một cái thánh đường. Lấy một cái bút và ít giấy dày dày ra đây. Đi, chàng trai, đem ra đây,” lão nói.

Thế là tôi lên tầng. Hai chân tôi nghe như không còn sức lực gì nữa. Chúng có cảm giác giống như sau khi tôi đã chạy bộ vậy. Trong phòng vợ, tôi nhìn quanh. Tôi kiếm được mấy cây bút bi trong cái giỏ nhỏ bên bàn của nàng. Và rồi tôi cố nghĩ xem chỗ nào có thể kiếm được loại giấy mà lão ta nhắc đến.

Tầng dưới, trong bếp, tôi tìm thấy một cái túi đi chợ đầy vụn vỏ hành tây dưới đáy. Tôi dốc sạch cái túi rồi lắc lắc. Tôi đem nó vào phòng khách và ngồi xuống gần chân lão ta. Tôi thu xếp vài thứ xung quanh, vuốt phẳng những chỗ nhăn trên túi, trải nó ra trên mặt bàn nước.

Lão mù tụt xuống khỏi xô pha và ngồi cạnh tôi trên thảm.

Lão lần ngón tay khắp tấm giấy. Lão rờ lên rờ xuống các mặt giấy. Các cạnh, thậm chí cả các cạnh. Lão sờ hết các góc.

“Được rồi,” lão nói. “Được rồi, làm thôi.”

Lão ta tìm lấy bàn tay tôi, bàn tay cầm bút. Lão nắm lấy tay tôi. “Làm đi, chàng trai, vẽ đi,” lão nói. “Vẽ đi. Anh sẽ thấy. Tôi sẽ theo cùng anh. Sẽ ổn cả thôi. Giờ cứ bắt đầu như tôi đang bảo anh đây. Anh sẽ thấy. Vẽ đi,” lão mù nói.

Thế là tôi bắt đầu. Đầu tiên tôi vẽ một cái hộp trông giống ngôi nhà. Đó có thể là ngôi nhà tôi đang sống. Rồi tôi thêm mái lên bên trên. Ở hai đầu mái, tôi vẽ những chóp tháp. Thật điên rồ.

“Giờ thì tiếp tục nào. Cứ vẽ tiếp đi.”

Tôi vẽ thêm những khung cửa sổ với mái vòm. Tôi vẽ những trụ bay. Tôi phác những cánh cửa lớn. Tôi không thể ngừng được. Đài truyền hình đã dừng phát sóng. Tôi đặt bút xuống và nắm lại duỗi ra mấy ngón tay. Lão mù sờ quanh tờ giấy. Lão di chuyển những đầu ngón tay khắp mảnh giấy, khắp lên những gì tôi đã vẽ, và lão gật đầu.

“Làm tốt đấy,” lão mù nói.

Tôi lại cầm bút lên, và lão tìm được bàn tay tôi. Tôi lại tiếp tục. Tôi chẳng phải họa sĩ gì. Nhưng tôi vẫn cứ vẽ thôi.

Vợ tôi mở mắt nhìn chúng tôi chằm chằm. Nàng ngồi dậy, áo choàng của nàng vẫn mở toang, Nàng hỏi, “Hai người đang làm gì thế? Nói cho em biết với, em muốn biết.”

Tôi không trả lời nàng.

Lão mù nói, “Bọn tôi đang vẽ một thánh đường. Tôi và anh ấy đang cùng làm việc. Ấn mạnh đi,” lão bảo tôi. “Đúng rồi, Tốt đấy,” lão nói. “Hẳn rồi. Anh làm được đấy, chàng trai. Tôi có thể nói chắc thế. Anh đã không nghĩ là mình làm được. Nhưng anh có thể mà, phải không? Giờ thì anh đang làm nhoay nhoáy đây này. Anh biết tôi nói gì chứ? Chẳng mấy chốc nữa chúng ta sẽ có một thứ hay ho. Cái chỗ ban nãy thì sao?” lão ta hỏi. “Giờ thì cho vài người vào đó đi. Không có người thì thánh đường còn ra cái gì chứ? “

Vợ tôi hỏi, “Chuyện gì đang diễn ra thế? Robert, chú đang làm gì thế? Chuyện gì thế?”

“Không có gì đâu,” lão nói với nàng. “Giờ thì nhắm mắt lại đi,” lão mù nói với tôi.

Tôi làm theo. Tôi nhắm mắt lại đúng như lão bảo.

“Nhắm chưa?” lão hỏi. “Đừng có ăn gian đấy.” “Nhắm rồi,” tôi nói.

“Cứ để như vậy,” lão nói. Lão lại nói, “Đừng dừng lại lúc này. Vẽ đi.”

Thế là chúng tôi tiếp tục. Những ngón tay lão lái ngón tay tôi đi khi bàn tay tôi di chuyển trên miếng giấy. Cảm giác không giống với bất kỳ điều gì từng có trong đời tôi cho tới lúc này.

Rồi lão ta nói, Tôi nghĩ thế là được rồi. Tôi nghĩ anh xong rồi đấy,” lão nói. “Nhìn thử xem. Anh nghĩ sao?”

Nhưng tôi vẫn nhắm mắt. Tôi nghĩ tôi sẽ để thế lâu thêm chút nữa. Tôi nghĩ đó là điều tôi bắt buộc phải làm.

“Thế nào?” lão nói. “Anh có đang nhìn không đấy?”

Mắt tôi vẫn nhắm. Tôi đang ở trong nhà mình. Tôi biết thế. Nhưng tôi không thấy là mình đang ở trong bất cứ thứ gì.

“Thật phi thường,” tôi nói.

(Nguồn : vnthuquan.net)

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Thư viện

%d người thích bài này: