//
you're reading...
góp nhặt cát đá, Truyện ngắn, Vang Bóng Một Thời

Tôi dạy học * Nguyên Hồng

Nguyên Hồng (1918–1982), tên thật Nguyễn Nguyên Hồng, là một nhà văn, nhà thơ.

Ông sinh ngày 5 tháng 11 năm 1918 tại phố Hàng Cau, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Cha ông làm cai đề lao, sau thất nghiệp, cảnh nhà sa sút, lại nghiện ngập và mắc bệnh lao, phải sống nghèo túng trong tâm trạng kẻ bất đắc chí. Mẹ ông là người ngoan đạo, tần tảo, hiền hậu, giàu đức hy sinh nhưng sống không có hạnh phúc trong gia đình nhà chồng.

Năm 16 tuổi, mới học hết bậc tiểu học, Nguyên Hồng đã phải thôi học, cùng mẹ ra Hải Phòng kiếm sống. Nguyên Hồng đã đi xin việc nhiều nơi, mà trước sau vẫn thất nghiệp. Dừng lại ở xóm Cấm, Hải Phòng, Nguyên Hồng sống bằng nghề dạy học tư cho con em của những người lao động nghèo.

Nguyên Hồng ham đọc sách từ nhỏ. Ông thường dành tiền thuê sách để đọc.

Nguyên Hồng bắt đầu viết văn từ năm 1936 với truyện ngắn “Linh Hồn” đăng trên Tiểu thuyết thứ 7. Đến năm 1937, ông thực sự gây được tiếng vang trên văn đàn với tiểu thuyết “Bỉ Vỏ”. Tiểu thuyết “Bỉ vỏ” là bức tranh xã hội sinh động về thân phận những “con người nhỏ bé dưới đáy” như Tám BínhNăm Sài Gòn

Những trường ấy ở những vùng ngoại ô mà nhà cửa chen chúc nhau trong một làn không khí nồng nực mùi hôi thối của rác rưởi và ao lầy, ở những ngõ hẻm giữa những phố xá sầm uất mà người và vật lúc nhúc trong nhớp nháp, bụi rậm. Những trường ấy có những tốp học trò lóc nhóc từ sáu, bảy tới mười tuổi, dưới sự trông coi và dạy bảo của những ông thầy cằn cỗi, bơ phờ trạc tuổi bốn năm mươi hay những cậu giáo mười bảy, mười tám tuổi, cuộc đời xơ xác và tâm hồn đầy chán nản. Những trường ấy cũng như những kẻ trọng tội bị truy nã, lẩn lút trong gian nhà ở góc vườn, ở xó gác, hay ở dưới hàng hiên.

Vì học trò không lấy được giấy khai sinh và là con những gia đình cùng khổ. Vì thầy dạy không có giấy phép bởi sự khai trình khó khăn phiền phức và không thể chạy được nào tiền bàn ghế, tiền thuê nhà trong lúc sinh hoạt vô cùng đắt đỏ này.

Học lẩn lút mỗi tháng mất từ bốn, năm tới sáu bảy hào: dạy lẩn lút luôn luôn hồi hộp mỗi tháng kiếm sáu bảy đồng bạc, món tiền nuôi sống một cách hèn hạ những con người nheo nhóc: đó trò; đó thầy.

Hơn ba năm, tôi đã là một “cậu giáo”. Hơn ba năm tôi đã nhờ cái nghề gõ đầu trẻ lẩn lút này mà nuôi sống miệng tôi, được người mẹ hiền từ quá của tôi, được người chú dượng khờ khạo, lẩm cẩm và đứa em dại dột của tôi. Xóm tôi ở là C. Cái xóm mà người lạ lớ rớ đi vào thì không thể nào tránh được nạn bốp mũ, giật khăn ở những con đường chật hẹp, ngoằn ngoèo hai bên ngập ngụa rác rưởi.

Một cái xóm cặn bã! Nó chứa chấp phần đông phu Sáu kho – những phu đanh đá, ngỗ ngược cả từ đứa con gái còn có tóc xõa đến người đàn bà đã có bảy, tám con – những tốp làm xe thất thường, những bọn thợ không chuyên nghiệp, những đàn bà buôn thúng bán bưng và những me tây, gái kiếm tiền cùng mạt nhất.

Một cái xóm mà đường đi thường lụt máu! Vì một cái mở bát chạc, một ván bài ù không được tiền, một giọng cười khiêu khích của người con gái không cần đẹp lắm nhưng lẳng lơ.

Nhưng mọi người đối với tôi đều tử tế. Họ mến tôi lắm. Những cha mẹ học trò dù hung bạo chừng nào cũng kính nể tôi. Vì tôi là cậu giáo, người đã dạy con cái họ…

– Chữ này là chữ C, nó giống cái lưỡi câu.

– Chữ này là chữ O, nó tròn như quả trứng gà.

– Chữ này là chữ Ơ thì thêm cái móc.

– Chữ Ô thì thêm cái dấu mũ.

– Le dindon là gà sống tây..

– La poule là gà mái.

– Père là cha.

– Mère là mẹ.

Và nào là luân lý, vệ sinh, toán pháp, địa dư.

Ba tháng, mỗi tháng bốn hào, tất cả một đồng hai, món tiền thường thua những lúc mở bát liều. Chỉ mất có một đồng hai mà các cha mẹ nọ được xem con mình viết, con mình làm tính, và sung sướng khi nghe nó đọc lai nhai những bài thuộc lòng của tôi đặt ra:

… Đàn con ngày khôn lớn,

Cha mẹ ngày héo hon,

Sữa mẹ dần cạn kiệt,

Thân cha một gầy mòn,

Làm con nên nghĩ tới,

Công ơn trời bể kia,

Giữ tình thương đằm thắm,

Đừng bao giờ san chia…

… Hơn ba năm, cái gia đình bốn người của tôi đã sống bằng số tiền học thu hàng tháng. Hơn ba năm, chúng tôi yên lặng sống trong hai căn nhà, một căn, kê một cái giường, một cái phản và một cái hòm chân, dưới nó xếp nào thạp gạo, vại dưa, rổ bát, nồi niêu; một căn có khoét cửa sổ hẳn hoi và không che liếp. Gian thứ hai này là gian lớp học, kê chật ních bốn cái bàn học dài và bốn cái ghế, bằng chân niễng, bằng cái ghế đẩu ghép lại, bằng một mảnh ván kê lên bệ gạch. Hơn ba năm, tôi đã sống vói hơn hai mươi học trò, ngồi chen chúc nhau, có khi phải leo cả lên cái bàn mọt chân của thầy giáo – hơn hai mươi đứa trẻ lau nhau, rách rưới con các phu phen, các người buôn bán nhỏ nhặt, các người gánh nước, các bồi bếp.

Đầu tháng, giữa tháng, cuối tháng, con vào học ngày nào, họ trả tiền ngày ấy. Họ trả rất sòng phẳng vì cậu giáo nghèo, và hơn nữa, họ còn tỏ ý thương và mến tôi. Tôi còn ít tuổi, mới mười bảy. Họ chỉ thấy tôi chúi mũi vào sách và cặm cụi viết. Họ chẳng biết tôi viết những gì mà cứ hết tập này lại tiếp luôn tập giấy khác và đêm nào cũng như đêm nào khuya lắm mới tắt đèn.

Hơn ba năm, tôi đã yên lặng sống trong sự cần mẫn làm việc, trong sự túng thiếu luôn luôn và trong tình thương xót của một người mẹ và một người em gái muốn có việc làm mà không sao được.

Hơn ba năm, tôi đã sống bằng đồng tiền máu mủ của những cha mẹ cùng khổ như tôi, hay có khi hơn tôi.

Đã có lần tôi hỏi một đứa học trò thường thiếu tiền học:

– “Bá” [1] cháu lĩnh lương chưa?

Con bé tóc xõa hung hung và óng ánh như tơ này ngước mắt nhìn tôi. Mắt nâu trong của nó mờ đi sau màng nước dầy và óng ánh, nó nghẹn ngào:

– Thưa cậu, “bá” cháu mất việc từ tháng trước rồi!

Và một đứa nữa:

– U cháu nghỉ chợ hay sao mà cháu chưa giả cậu tiền?

Thằng bé để tóc rẽ và lúc nào cũng có nụ cười trong cặp mắt sáng ấy đáp lời tôi với câu gọn lỏn:

– U cháu mới đẻ hai em bé thì đi sao được!

Tôi đã cố gắng giữ tiếng nấc trong cổ họng và quay rất nhanh mặt đi để chùi nước mắt khi thằng bé An béo sị và ụt ịt như con lợn khoe với tôi:

– Thưa cậu, “bá” con bị bắt bỏ bóp!

– Sao thế cháu?

Thằng An nói nhiều lắm, nhưng tôi không muốn nhắc lại, vì mỗi lời ngượng nghịu của đứa trẻ mới chín tuổi đầu mà chịu đói luôn luôn này như một mũi kim ấn từ từ vào tim tôi.

– Thưa cậu, người ta bắt cả gánh hàng của “bá” cháu nữa.

An, Phòng, Như, Lết!… Các em nhỏ của tôi! Cha mẹ các em đã giúp tôi sống trong ba năm đói kém và cùng cực vô cùng; ba năm mà tôi luôn luôn hồi hộp lo sợ mỗi khi có người đội xếp Tây hay ta cũng vậy đi vào trong xóm! Nhưng ba năm ấy các em đã cho tôi nhiều phút sung sướng đến tê tái khi các em biết đọc, biết viết quốc ngữ chỉ sau vài tháng và khi các em bi bô đọc những tiếng một chữ Pháp. Trong ba năm các em đã cho tôi hưởng một cách thầm lặng những thấm thía cái tính quyến luyến, trìu mến của bầy chim nhỏ với cái bàn tay thường dịu dàng tung thóc.

… Xa xôi lắm, hơn bốn năm rồi, tôi thôi nghề gõ đầu trẻ này được hơn bốn năm. Sự hoạt động đã lôi cuốn tôi đi hết tỉnh này sang tỉnh khác và các sự thay đổi dồn dập trong đời đã làm mờ đi bao nhiêu kỷ niệm của ba năm tôi kiếm sống một cách lẩn lút như kẻ gian ác! Nhưng, mỗi khi tôi nhìn về quãng dĩ vãng tối tăm kia, mắt tôi vẫn thấy lạnh rợi như nhìn một cảnh gì hoang vắng qua làn mưa bụi mau hạt về một chiều đông mịt mờ…

1938

Chú thích:

[1] Bá: Bố hay cha.

(Nguồn : vnthuquan.net)

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Thư viện

%d người thích bài này: