//
you're reading...
Biên Khảo, góp nhặt cát đá, Tôn giáo, Thiền, về Phật pháp

Sự im lặng của Đức Phật (2)* Bs Trần Ngọc Ninh

C. Đại Thừa nhú mọc

1. Đạo Phật phát triển ra một cách sâu rộng rất nhanh chóng. Mặc dù kỷ luật trong Sangha ngay từ lúc mới thành lập đã rất chặt chẽ với giới luật nghiêm minh và tổ chức bền vững, nhưng sự vô thường không thể tránh được.

Một lý do tạo ra biến đổi là từ chính Đức Đạo Sư. Giáo Lý đã được xây dựng và nghiền ngẫm kỹ càng, cẩn thận trong ba tuần ở Bồ Đề Đạo Tràng sau khi thành đạo, nhưng khi dạy ra tất phải uyển chuyển theo gốc tích và tư chất của mỗi môn đồ. Thế Tôn dạy phần nhiều bằng đối thoại và lời giảng trả lời thẳng vào vấn đề được đặt ra. Trong năm mươi năm liền như thế, mùa mưa cũng như mùa nắng, từ thủ đô của hai nước lớn và bảy tám nước nhỏ vào đến các làng mạc, các khu rừng, các vùng núi, tuy rằng cốt tủy của Giáo Pháp không đổi thay, nhưng chi tiết có khi khác đi. Hơn nữa cũng một lời của Thầy, có thể mỗi người hiểu một cách, mỗi người chú trọng đến một điểm chủ quan riêng.

Đó là lý do thực tế nhất để hiểu tại sao, sau khi Đức Phật nhập Đại Bát Niết Bàn, đã có nhiều môn phái, cùng nhận Phật là tổ và cùng tuyên bố là phát xuất từ Sangha mà ra, nhưng truyền dạy những Giáo Lý không hoàn toàn như nhất.

Bỏ ra ngoài vấn đề Devadatta (7) mà Đức Phật nhận cho vào Sangha cùng với Upali và Ananda, và chỉ nói rằng là một nghiệp chướng từ bao nhiêu kiếp trước, nhưng đã bị các môn phái chính thống nguyền rủa là kẻ phản loạn. Devadatta cậy thế là em họ của Đức Thế Tôn, hay bàn ngang và đề nghị sửa đổi Giới Luật trong Giáo Hội. Trước khi Đức Phật tịch diệt, ông đã tách ra ngoài Sangha và lập một Giáo Hội riêng cùng với một số Tăng ly khai, ở Magadha, vẫn giảng Giáo Pháp của Phật nhưng với vài điểm dị biệt mà không có tài liệu viết lưu truyền.

Vào khoảng 402-410 SKt, FaXien (FaHsjen = Pháp Hiền) sang “Tây Trúc” (India) thỉnh kinh, còn thấy những tu viện của phái Devadatta. Đến thế kỷ thứ XIII, khi quân Moslem tràn vào tàn phá và xâm chiếm India, thì Giáo phái Devadatta tuyệt diệt, nhưng đạo Phật, lúc ấy đã suy vi, cũng mất hẳn trên đất Ấn cho đến sau Thế Chiến Thư Hai mới có cơ phục hồi.

Nghĩa Tịnh (Yi Jing, I-tsing) nhà chiêm bái Trung Hoa đời Đường đã sang Tây Trúc sau Huyền Trang (vào khoảng 671-695 S.Kt.), kể rằng vua Bimbisara có lần nằm mộng thấy có một mảnh vải bị xé và một cây đũa vàng bị bẻ gẫy, mỗi thứ thành mười tám mảnh. Vua sợ hãi triệu Đức Phật vào hỏi thế là điềm gì. Đức Phật nói rằng một trăm năm sau khi Ngài tịch diệt, dưới thời một ông vua hiệu là A-Dục, Đạo Phật sẽ chia thành 18 môn phái, nhưng vẫn là Đạo Giải Thoát, và vua không phải lo. Ít lâu sau thì vua bị chính con là Ajatasattu truất ngôi, hạ ngục và bỏ đói cho chết. Theo thiển ý, Nghĩa Tịnh đã quá tin ở những chuyện miệng lưỡi vô bằng : Đức Phật không phải người đi đoán mộng.

Tuy nhiên sự nảy nở của nhiều môn phái sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn là thực. Các Kiết Tập (dhamma sangtti), bốn ở đất India và bốn ở Đảo Lanka, không chỉ để tụng và cố định kinh kệ mà còn để cảnh giác các khuynh hướng ly khai và củng cố nền móng của Sangha khi sự bành trướng của Đạo đã vượt ngoài biên giới của cả cỏi India và bao gồm nhiều cộng đồng ngôn ngữ, văn hóa, chính trị hoàn toàn khác biệt, ở bên kia đại dương, sa mạc và rặng núi hiểm trở nhất trên thế gian.

Sách xưa nói đến mười tám môn phái (astàdasá nikàya) với những tiểu dị và một đại đồng là Giáo pháp của Đức Thế Tôn (Bhavagato dharmasásanam) là từ Yasumitra và Bhàva viveka (Bhavya). Tôi không đi vào chi tiết ở đây. Chỉ ghi lại một điều mà ông T.R.V. Murt (8) đã chứng minh, là Giáo phái Mahasanghika * (Đại Chúng Bộ) đã đóng một vai trò rất quan trọng trong sự làm rõ ý nghĩa Đại Thừa trong Tam Tạng Tiểu Thừa. Ông viết :

Khởi thủy của Đại Thừa có thể vạch rõ ra trong các trường phái Mahasanghika, đã ly khai ra khỏi phái Sthaviravàda (Theravàda = Trưởng Lão), ở Đại Hội Kiết Tập ở Vaisali (một trăm năm sau khi Đức Phật tịch diệt, theo truyền thống Phật Giáo là 544 T.Kt., theo các học giả tây phương là năm 487 T.Kt.) Theo Vasumitra, Bhavya và nhiều tác giả khác, thì rất ít nghi ngờ gì rằng các điểm bất đồng nêu ra bởi phái mới , nhiều ảnh hưởng và tiến bộ, là trên (ba vấn đề) : quan niệm Phật thân (Buddhakàya), lý tưởng Bồ Tát và sự thờ phụng Đức Phật (Buddhabhakti). Từ đó suy ra thì thấy họ đã có một ý niệm mơ hồ về một thực tại tiềm ẩn là nền của các hiện tượng biến đổi. Tự nhiên họ đi đến chỗ tin rằng thực tại ấy là một với Như Lai (Tathágata), là Đấng lokatara (siêu thế, siêu việt) thánh thần. Những ý niệm còn chia thành ấy đánh dấu thời ấp ủ của Phật giáo Đại Thừa, chân không và lý tưởng Bồ Tát, sẽ được phát triển ra trong các Kinh bộ Prajanaparamita (Bát nhã Ba la mật đa) và kinh sách khác.

Sách Difarvamsa (Đảo sử Thế kỷ IV S.Kt.), theo truyền thuyết Cao đồ Theravada, tố cáo rằng các trưởng lão ly khai trong Mahasanghika đã cắt xén kinh Phật và bẻ quẹo ý nghĩa của ba Tạng (9). Mahasanghika đã khai trừ ra khỏi Đại Hội Kiết Tập II, tuy là đông nhất trong Hội. Bị loại ra khỏi truyền thống, họ đã tự do phát triển những ý tưởng mới nhất là vì chính Đức Phật đã dạy rằng mỗi người

hãy tự mình là chính ngọn đèn cho mình, hãy chỉ nương tựa vào chính mình, chớ nương tựa vào một gì khác; lấy Chính Pháp làm ngọn đèn, lấy Chính Pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa vào một gì khác.

nếu chúng Tăng muốn, sau khi Ta diệt độ, có thể hủy bỏ những học giới (điểm kinh điển) nhỏ nhặt chi tiết.”

sau cùng :

Các pháp hữu vi [vật và ý, do sự kết hợp mà thành] đều vô thường [có biến hoại, có diệt vong. Hãy tinh tấn, chớ phóng dật [sao nhãng, buông xuôi]

(Theo bản dịch TMC, có sửa và chú thêm)

Phái Mahasanghika được rất đông dân chúng ở miền Nam India theo, đông nhất là tại Andhra. Sau ít lâu thì tách ra làm ba nhóm, khác nhau về sự thờ phụng Phật tổ, là Lokattaravàda, Prajnàptivàda, Uttaràpathaka. Đời Đức Phật được phái Lokattara (Siêu Thế Bộ) kể lại trong sách Mahavastu (Đại Truyện) cùng với truyện của bổn Phật đã xuống trần trong đại kiếp này, và 40 tiền kiếp của Đức Thích Ca. Một hình ảnh và một ý niệm siêu nhiên về Đức Phật và các Phật đang thành hình với sự sùng bái của dân gian. Các học giả Nhật Bản (R. Yamada) nói rằng Kinh Prainàpàramita đã được truyền trong Giáo phái, nhưng E. Lamotte không nhận điều ấy và Poussin lại cho rằng Kinh này được thấy ở một môn phái Arahan-Thừa (phái Pùrvasailas).

2. Một nguồn gốc thứ hai của Đại Thừa lại mới được nêu ra bởi một số nhà Phật học Nhật Bản (Akira Hirakawa, Masao Shizutani … ), là những hình thức thờ Phật mới ở vùng Tây Bắc India, lên khu vực Mathura và có lẽ cả Gandhàra.

Khu vực này là núi, nhưng có những khe là đường xâm nhập bởi các dân tộc hiếu chiến, sống bằng nghề chăn nuôi và tiểu canh nông, từ phương tây đổ sang. Thời tiền sử đã có các dân Indo-Auropa gọi là Aryan đem Kinh Veda vào (10). Sau rồi đến quân đội hỗn hợp Helen-Persia của Alexander Đại Đế, rồi quân Saka, Parthia, Kusàna. Đạo Hindu thỏa hiệp với các vua ngoại xâm và lập ra thuyết Vua phong thần, nhưng dân theo Phật giáo và Phật giáo lập ra thuyết Đạo tối thượng và chính quyền vô thường (Tomsmatsu, 1932, Shizutani, 1956, Nakamura, 1948). Tuy nhiên, nhiều triều đại vẫn trọng đãi Phật giáo vì sự sùng bái Đức Phật trong dân gian càng ngày càng cao.

Ảnh hưởng từ bên ngoài vào Giáo Lý có thể cũng đã có, quan trọng nhất có lẽ là từ Đạo của Zarathustra (Zoroaster) ở Iran với sự phân biệt trắng đen giữa thiện và ác, dễ hiểu hơn là những cân nhắc tinh vi của Đạo Phật về nghiệp, ác căn và lý duyên khởi.

Nhưng yếu tố lớn nhất làm cho Đạo của Đức Thế Tôn chuyển dần từ lý tưởng Giải thoát sang ước vọng Cứu khổ là áp lực quần chúng và sự phát triển một lớp thầy tu mới, không có tu viện, tụ tập chung quanh các bảo tháp (stupa) có Xá lợi (sarira dhatu). Giáo phái Mahasanghika (Đại Chúng Bộ) vẫn thịnh hành ở vùng tây bắc India và có thể đã là trung tâm phát xuất ra những tư tưởng mới mà các hành giả khất sĩ dùng để khuyến giáo hóa đạo. Các hành giả này lập thành những Đoàn gồm Sư và Cư sĩ có ba hoạt động chính yếu : lễ Phật, ngồi thiền và tụng kinh (dharmabhànakas).

Quần chúng đông đảo và tình thế loạn lạc luôn luôn bất ổn, làm cho ước vọng được cứu khỏi khổ nạn vừa bất ngờ vừa liên miên, tạo ra ba sự cầu mong, dần dần thành ba thuyết lớn.

  • sự thường xuyên và vĩnh viễn tồn tại của Đức Phật dưới hai hình thức gọi là “thân” (káya), là Sambhogakàya Bảo thân, và Dharmakáya Pháp thân, còn Hóa thân Nirmanakàya tức Nhục thể của Ngài thì có sinh và có diệt trên diện hiện tượng;
  • vũ trụ quan đa nguyên gồm nhiều thế giới, mỗi thế giới có một hay nhiều Đức Phật trong mỗi đại kiếp. Chính Đức Phật đã giảng về các Phật quá khứ và cho biết về Phật vị lai (Đức Maitreya Di Lặc); rồi có thuyết bảy Đức Phật; tới Kinh Hoa Nghiêm Buddha-avatamsaka-sutra kể ra Phật ở mười phương; cuối cùng là tin tưởng hằng sa Phật;
  • Tin tưởng về Bồ Tát, Bodhisattva. Trong Kinh tạng (Sutta-pitaka) đã có nói đến Bồ Tát, nhưng chỉ có một Bồ Tát là Đức Bồ Tát đã đản sinh thành thái tử Siddhattha và chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thành Đức Thích Ca Mâu Ni, tức Đức Như Lai (Tathagatha). Ngài vẫn còn là Bồ tát trong Báo thân Như lai, và thành Phật hẳn khi Pháp thân của Ngài nhập Đại Bát Niết Bàn. Khi Đạo Phật truyền đến các dân tộc Trung Á thì bodhisattava được phát âm là [bo-sa] hay [bo-sat] và Hán ngữ thâu nhận là [po-sat] (HV – Bồ-tát).

Con đường gương mẫu để thành Phật chỉ có một (tuy các cuộc đời khác nhau), nên khi có hằng hà sa số Phật thì cũng phải có ít nhất là hằng hà sa số Bồ tát trong quá khứ, hiện tại và tương lai ở các thế giới có sự sống trong vũ trụ và ở chính cõi Saha (Ta-bà) này. Theo Giáo lý đang thành hình thì từ sau khi Đức Phật giảng dạy, tất cả mọi người đều là Bồ tát không tự biết.

Nhưng có Bồ tát mà chưa có Bồ tát đạo (Bodhisattva-màrga) trong thế gian, cho đến khi tin tưởng chuyển hóa thành tư tưởng. Một số hành giả hội lại thành những Giáo hội Bồ tát. Có chừng sáu bộ sách Avandàn được lưu hành, mỗi bộ kể một cuộc du hành chiêm bái Pháp độ của Đức Phật; các Bồ tát trên Cõi Pháp tuy có những cá tính riêng, nhưng đều phản ánh những tác phong và ngôn từ của Đức Thích Ca. Dần dần có một cuộc đời gương mẫu của Bồ tát được phát họa ra. Khởi thủy, từ a-tăng-tì kiếp về trước, có một Đại Nguyện (pranidhana) do từ tâm phát xuất vì Người ấy đã thấy được một cảnh khổ và hiểu được rằng tất cả chúng sinh đang chịu cái khổ ấy mà không đường thoát khỏi; lời nguyền là sẽ phấn đấu không cùng để diệt cái khổ đó, và có một Đức Phật chứng cho sự chân thành và quyết tâm của Người ấy.

Sau đó là những cuộc đời liên tiếp của Người ấy trên hai diện, một là hành, hai là tu.

Trong sự hành (bhavana) ở mỗi kiếp làm người (hay làm một con vật), Bồ tát gặp những cảnh ngộ cực kỳ khó khăn và nhiều khi rất phức tạp; Bồ tát không những giữ Giới (sila) và tỏ ra đã đạt được vô ngã tuyệt đối, mà hành sự theo Bồ đề tâm (bodhicitta), với lòng từ bi, hỉ, xả vô lượng. Bồ tát cứu người bằng sự nhận những hiểm nguy và có thể hy sinh cả tính mệnh mình. Trong truyền thuyết Việt Nam (Truyện thơ Quan Âm Thị Kính), cuộc đời cuối cùng của Bồ Tát Quán Thế Âm là Thị Kính, một cô gái quê đã cam chịu tiếng oan để tránh cho chồng rồi cho một đứa con gái làng tên là Thị Mầu đã chửa hoang khỏi bị tội âm mưu vu cáo. Trong xã hội xưa, đó là những tội rất nặng, người đàn ông có thể mất hi vọng tiến thủ, còn người đàn bà có thể bị bỏ rọ trôi sông. Hai lần chịu hàm oan chứng thực là một tinh thần từ bi hỉ xả mà chỉ có một con người vô ngã hoàn toàn mới có thể làm được mà thôi.

Tượng sứ trắng Bồ Tát Quán Thế Âm và Thiện Tài đồng tử, đời nhà Thanh (1644-1911)

Còn sự tu thì Kinh Hoa Nghiêm (Avatamsakasutra), tập hợp mấy Kinh nhỏ, là nơi kể ra rõ ràng đầy đủ nhất và cũng văn chương nhất những chặng đường mà một Bồ tát phải trải qua. Trước hết là bằng sự cố gắng tinh tiến của chính bản thân, là Thập Địa của Bồ tát (Dasabhùmika), một chương lớn trong Kinh, lớn hơn nữa là phần cuối tựa đề là Gandavyùha (Nhập Pháp giới phẩm) kể hành trình của Sudhana (Thiện Tài) đi thăm năm mươi ba vị đại hiền của Bồ tát (trong số có Quán Thế Âm Avalokitesvara ở Potalaka) để được giảng dạy và được học hỏi về các phép thiền và các chính kiến, trước khi được gặp Văn Thù (Mãnjusri) Di Lặc (Maitreya), rồi Phổ Hiền (Samantabhadra), rồi sau cùng được đến Viện Bảo Tàng của Đức Phật Vairocana (*Đại Nhật) là Đức Bản Sơ Phật (Adibuddha). Tháp Borobudur ở Java có khắc các giai đoạn của hành trình lên Bồ tát của Thiện Tài đồng tử Sudhana.

Những tư tưởng cốt tủy của *Đại Thừa (tức Bồ tát thừa) là chân không (sũnyàta), thức (vijnàna), trí huệ (prajnà), tâm (rittamaàtra), lòng từ bi (mettàkaruna) đều đã có trong Tam Tạng, nhưng như ẩn như hiện và không nối liền với nhau thành một khối. Cùng với ba ước vọng, cũng tiềm ẩn trong lời Kinh của chính Đức Phật : sự tồn tại vĩnh cửu của Phật và Pháp, sự hiện hữu của Cõi Phật ở cùng khắp vũ trụ, và sự có mặt thường xuyên của các Bồ tát để cứu khổ cứu nạn, những tư tưởng ấy đã dọn đường cho sự bột phát của một Đạo Phật có tính cách hoàn vũ, mở rộng cho tất cả loài người và cho mỗi người.

Hết

Trở về kỳ trước

Chú thích :

7. Những chuyện kể trong kinh Phật về các âm mưu của Devadatta để hại Đức Phật có lẽ là được đặt ra, mặc dù Huyền Trang (Xuan Zang, Huein Tsiang) vào khoảng 629-645 S.Kt., còn được thấy một bảo tháp stupa ở ngoài Cửa Bắc của những tàn tích của thành Rajagriha (Vương Xá), dựng lên để đánh dấu chỗ Devadatta đã dựa thế Vua AJatasattu, thả một con voi say ra để nó giết Đức Phật.

Tuy nhiên, sự chống đối của các Đạo khác và của Devadatta là có thực.

8. T.R.V. Murti The Central Philosophy of Buddhism, London 1955. G.S. Murti là học trò của triết gia S. Radhakrisnan.

9. Thomas, E.J., History of Buddhists Thought (Lịch sử Tư tưởng Phật Giáo)

10. Thuyết cổ điển này hiện đang bị xét lại (Mallory, Renfrew). Ngoài ra có một số khảo cổ gia và học giả chủ trương rằng đạo Veda tự phát, hoặc được du nhập vào từ phương đông (Sundat).

(Nguồn : Khởi Hành, năm thứ VI, số 68. Tháng 6.02)

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Thư viện

%d người thích bài này: