//
you're reading...
Truyện ngắn

Gia đình tôi (3) * Duy Lam

THẰNG QUÁI

Suốt từ sáng đến tận khuya, trong nhà tôi luôn vang lên những lời than phiền và trách mắng.

– Trời ơi! Sắp đến giờ đi học rồi mà đánh thức “thằng quái” này không nổi! Sao nó ngủ say thế!

Đó là Lan vừa kêu ca vừa tìm đủ mọi cách, đánh thức “thằng quái”, vì tối hôm trước nó đã dặn:

– Chị Lan, mai đánh thức em dậy 6 giờ đấy.

Ba tôi bảo:

– Lấy nước đổ vào tai nó.

– Liên, Lan cứ cắt đứt dây để màn rơi xuống phủ vào mặt nó là nó phải bò dậy.

Du tàn nhẫn:

– Lan đánh thức nó làm gì cho mệt. Đẩy mạnh cho nó lăn cổ xuống đất.

Me tôi tâm lý hơn:

– Chúng mày cứ ăn hết phần điểm tâm của nó đi. Me nhất định đến mai nó sẽ dậy từ 4 giờ sáng.

Liên buổi trưa đi học về đã la lên:

– “Thằng quái!” chị đã dặn bao nhiêu lần vẫn không chừa. Bàn của chị đâu phải bàn để kìm chữa xe. Chết tôi rồi! Dầu xe rây bẩn cả vào tập “thơ”.

Du, khi thay quần áo, tuy tính điềm đạm mà cũng phải càu nhàu:

– Tôi cam đoan với cả nhà là hôm nay “ông quái” ông ấy đã mặc nhầm cái áo trắng tôi mới đưa thợ giặt là hôm qua. Áo nào mà được diễm phúc ngài ấy dùng tới một lần thì chỉ còn đành đem làm rẻ lau xe.

“Thằng quái” hay “Ông quái” là tên hiệu cả nhà đặt cho Sơn, đứa con trai đứng hàng thứ năm trong gia đình. Tôi đoán trong bất cứ gia đình nào đông con cũng “may mắn” có một đứa con trai đến tuổi mới lớn như Sơn, sinh ra hình như chỉ để làm phiền và gây tai họa cho tất cả mọi người. Trong trường hợp mọi người đều vui vẻ và dễ dãi thì không sao, những hành động tư tưởng ngộ nghĩnh và quái gở của Sơn khiến ai cũng bò ra cười nhưng trái lại, nếu mọi người đang bực mình sẵn, hắn sẽ làm bất cứ ai cũng phải điên lên.

Tùy lúc Sơn có thể là một trận bão lốc, một con bò rừng lạc vào thành phố, một nhà thám hiểm, khoa học gia kiêm họa sĩ, một thằng “ngu ơi là ngu” (Lời Lan nói), một người thích cô độc và ưa phá hoại.

Về thể chất Sơn lớn “như thổi”. Nghe thấy một bà bạn của me tôi đến chơi và dùng danh từ “nhớn như thổi” để khen Sơn. Ba tôi vẫn như thường lệ, thích phóng đại và khôi hài đã càu nhàu:

– “Như thổi” Hừ; không biết thổi bằng gì mà phồng to thế!

Ba tôi lo ngại nhìn Sơn lớn. Không phải là cho tương lai Sơn, hay sợ rằng rồi đây nó có nên người hay không mà vì một lý do rất thực tế: những quần áo cũ của ba tôi trước kia thải ra, Sơn nếu mặc hơi dài còn sửa lại được, nhưng hiện tại Sơn đã cao hơn ông hai, ba phân thì chẳng nhẽ để me tôi nối mãi hai ống quần cho dài ra cũng phiền.

Sơn thì mặc kệ không thấy gì phiền hết, miễn có quần mặc là được.

Ba tôi không muốn sắm thêm quần áo mới cho Sơn vì sợ hao hụt quỹ gia đình. Theo ông, Sơn – và thỉnh thoảng chính chúng tôi, những con trai lớn – đều không có tài gì giữ quần áo như ông. Thích mang những thí dụ thực tế và cụ thể ra để chứng minh những lời nói của ông đều nói có sách mách có chứng, ông mắng Sơn:

– Mày thì chỉ có quần áo sắt mới chịu nổi. Cái áo sơ mi tao mặc ba năm nay không rách thế mà vừa đưa cho mày chưa được ba tiếng đồng hồ đã rách tan nát.

Lan và Liên thì thầm với nhau.

– Gớm! Quần áo ba đã thải ra thì ai mặc nổi. Cũ đến nỗi vừa cầm lên đã bục. Chắc là ba mua từ đời Hồng Bàng thứ 17.

Từ đó trở đi dựa vào lời mắng của ba tôi, Du gọi Sơn là người của “thời đại sắt”. Cái gì nó dùng tới đều cần phải làm bằng sắt, giầy sắt để chạy nhảy, đũa sắt để ăn, và giường sắt để nằm (điều này không cần lắm vì giường ngủ hiện nay của nó quả thật làm bằng sắt).

Sơn có đôi mắt đen, sâu và to giống đôi mắt me tôi, lông mày đậm, da cháy đen vì nắng, chân tay dài quá khổ. Còn dáng đi thì không biết tả ra làm sao, vì Sơn một là chạy, hai là ngồi hay nằm chứ nó không bao giờ chịu đi như mọi người.

Tóc không bao giờ chải (dù ba tôi đã cẩn thận mua riêng cho Sơn một cái lược bằng aluminium) và rất ít khi húi. Có khi cả nhà xúm lại dục, mắng, đe dọa Sơn mới chịu húi đầu, nhưng ngày mà nó chịu đi húi đầu không hiểu tại sao lại đúng vào ngày thứ hai; mà ngày thứ hai thì ông thợ cạo quen với gia đình tôi lại nghỉ làm việc. Sơn hay bị ba tôi mắng vì cái tội để tóc dựng đứng lên ở trên đầu. Ông dọa nếu Sơn vẫn để tóc thế ra đường cảnh binh sẽ tưởng là tù vượt ngục.

Đang tuổi lớn, đói suốt ngày, nên Sơn có thể ăn bất cứ lúc nào và bất cứ thứ gì, miễn là ăn được. Cái tội ăn nhiều của Sơn phản hẳn với một nguyên tắc của ba tôi “Ăn lấy hương, lấy hoa chứ không phải ăn no lấy béo”. Sức lớn của Sơn chỉ làm ông lo ngại, nhưng sức ăn của Sơn nhiều phen làm ông kinh hãi. Ông không muốn công nhận như mọi người là cơ thể Sơn đòi hỏi rất nhiều thức ăn và chất bổ, ông cho sự ăn nhiều của Sơn là một cái bệnh, mà đã bệnh thì có thể chữa được.

Ông hay nói đến cái bệnh ăn nhiều của Sơn đến nỗi me tôi phải gắt lên:

– Nó đói thì nó phải ăn có gì là lạ!

Ba tôi cãi:

– Đói thì ăn xong phải no chứ. Vừa buổi trưa mắt tôi thấy nó ăn đến sáu, bảy bát cơm, thế mà một lúc sau xuống bếp đã thấy nó lục chạn ăn cơm nguội. Không biết dạ dày nó to đến thế nào mà chứa được lắm thế.

Rồi ba tôi nhất định tuyên truyền cho cái thuyết “Ăn lấy hương, lấy hoa” của ông vì không những có Sơn ăn nhiều và chúng tôi ai cũng ăn khỏe cả.

Ba tôi bảo chúng tôi:

– Chúng mày không biết chứ ăn quá độ rất hại. Phải ăn thế nào khi đứng dậy bụng còn đói (chúng tôi nhìn nhau và cùng thầm đồng ý là nguyên tắc “ăn mà bụng vẫn còn đói” này không thể áp dụng được, chúng tôi quen ăn để… no mất rồi). Ăn nhiều sẽ phát triển những lớp mỡ ở trong người, người nào trong cơ thể nhiều mỡ thì đầu óc không được minh mẫn và suy xét chậm chạp. (Ảnh hưởng của ăn nhiều đến trí óc mà ba tôi đem ra nói để dọa chúng tôi cũng không làm chúng tôi tin, vì không ai tính nhẩm tiền chợ và các chi phí nhanh và đúng bằng me tôi chắc cơ thể nhiều mỡ nhất nhà).

Nói hoài mà thấy chúng tôi vẫn lộ vẻ nghi ngờ, ba tôi quay sang dùng tâm lý. Ba tôi bảo Lan và Liên:

– Con gái muốn đẹp phải ăn ít. Nếu không sẽ béo. Trông me chúng mày thì biết.

Lan, Liên đã có vẻ nao núng. Hai người lo ngại nhìn me tôi. Có thể là ba tôi có lý. Nhưng Du cũng có mặt ở đây xen vào:

– Lan, Liên đừng có sợ. Nếu ăn nhiều sẽ béo bằng me thì ăn ít sẽ gầy như ba.

Lan, Liên quay sang ngắm thân hình gầy của ba tôi. Lan, Liên bảo nhau thà béo như me còn hơn gầy như ba. Thế là cái thuyết ăn lấy hương lấy hoa của ba tôi từ “20 năm nay” chỉ có mỗi ba theo nổi. Về vấn đề ăn, me tôi dĩ nhiên đứng về phe chúng tôi. Trong những bữa cơm đầu tháng ngoại trừ những món ăn chính bầy trên mâm ở dưới bếp bao giờ me tôi cũng lo xa trữ sẵn những món ăn phụ. Mấy đứa con trai thường có khi về nhà không đúng bữa, nên thích cái lối lo xa này của me tôi lắm. Bất cứ giờ nào trong ngày nếu cần, me tôi có thể dọn ngay ra một mâm cơm phụ, rất đầy đủ món ăn bổ béo. Ba tôi có gắt, me tôi chỉ điềm đạm nói:

– Ông gàn lắm! Có tiền không để cho chúng nó ăn thì còn để làm gì.

Ba tôi bực lắm, ông luôn luôn mắng chúng tôi là thực bất tri kỳ vị và rồi tất cả nhà sẽ bị đau dạ dầy hết. (Nhưng trong khoảng mấy năm gần đây ba tôi cảm thấy những triệu chứng là có lẻ chính ông đau dạ dầy).

Khi đi làm về ông có thói quen mua những thức ăn như thịt quay, thịt ngỗng nhưng vì theo nguyên tắc ăn ít mới ngon lâu, nên mỗi thứ ăn chỉ mua dăm ba miếng. Ông bày những món ăn (hương hoa) đó riêng vào những đĩa nhỏ và nhấm nháp một mình. Vừa nhấm nháp ông vừa tán tụng nghệ thuật ăn của người Nhật. Ông khen họ đã thấu hiểu cái đẹp của sự ăn chứ không ăn xô bồ như chúng tôi. Ông kêu:

– Tao không hiểu tại sao chúng mày thích ăn nhiều, ăn cho sướng miệng. Và me chúng mày nữa, đi chợ cái gì cũng phải mua cho thật nhiều.

Du, Liên và Lan tức lắm. Chúng bàn với nhau:

– Ba ăn ít thì ba cứ ăn việc gì ba chỉ trích chúng mình ăn nhiều.

– Liên dốt lắm! “Chỉ trích” cũng là một món ăn của ba. Nếu ai thấy bữa cơm nào ba không “chỉ trích” anh thưởng 100$.

Giải thưởng treo từ nửa năm mà chưa ai được.

Thỉnh thoảng để cám dỗ chúng tôi, ba tôi cho mâm các con nhớn một đĩa những món ông mua về. Chúng tôi không hề từ chối và mỗi người chỉ động đũa một lần là đĩa đã rỗng không như dưới ảnh hưởng của phép lạ.

Lan, Liên và Sơn giả vờ cãi nhau:

– Ơ! Ba vừa cho một đĩa đầy thịt mà đã hết rồi. Phần của Lan đâu?

– Sơn mang cái kính hiển vi của Sơn lại đây. May ra thấy thịt ở chỗ nào để mà gắp chứ!

– Gớm! Cái chú khách bán thịt cho ba cắt thịt tài quá! xếp 500 miếng lên nhau mới dày bằng một tờ giấy pelure.

– Sơn! Tắt cái quạt đi! Gió thổi bay thịt của ba cho đi đâu hết cả rồi.

Tuy hay bị mắng, nhưng việc gì trong gia đình cũng phải nhờ đến Sơn. Cái xe Đức của Du máy trục trặc, cái xe velosolex của ba tôi phun nhiều khói quá. Cái đèn làm việc của Lan giây bị hỏng, cái khóa cửa rĩ cần phải cho dầu, đều được mọi người sẵn lòng giao cho Sơn đảm nhiệm việc chữa chạy.

Sơn rất thích chữa máy móc, tháo lắp v.v… nhưng lại có cái tật là không bao giờ làm được việc gì hoàn toàn.

Cái xe Đức của Du sau khi được Sơn chữa khỏi bệnh máy trục trặc thì lại nổ to ghê gớm và phanh kêu ken két ầm cả phố. Xe Vélosolex cửa ba tôi không hiểu Sơn chữa ra sao không phun khói nữa, nhưng lại chạy khặc khà khặc khừ như người ốm dở và thỉnh thoảng lại đứng lại… nghỉ lấy sức. Còn cái đèn của Lan thì Sơn tháo ra lúc lắp lại nhầm giây nên nhấp nha nhấp nháy làm Lan tức đến phát khóc. Lúc cần đến bật hoài đèn nhất định không sáng, đến lúc tình cờ đụng vào thì lại sáng lên như trêu tức. Còn cái cửa sau khi Sơn cho dầu rồi thì khóa lại được nhưng mở không được… Bị me tôi mắng, Sơn lúi húi chữa lại thì lần này khóa mắc kẹt, mở không được khóa cũng không được nốt.

Nhiều khi bị mắng Sơn bực mình kêu lên:

– Tại sao mọi người không chịu làm lấy mà lại bắt Sơn làm hộ. Làm xong mọi người lại chê là không hoàn toàn. Thật bất công!

Tuy hay kêu ca phải làm nhiều việc nhưng Sơn thường rất hăng hái quá độ và không đúng chỗ, đúng lúc. Bị mắng là không chịu săn sóc đến xe cộ, Sơn chăm lắm; hễ khi Du, ba tôi, hay tôi vừa đi đâu về là Sơn đã lôi ra một lô những dụng cụ sửa chữa như kìm, búa, khóa, môlét, tournevis v.v… bày la liệt ra đất và không cần biết là xe có hỏng hay không, Sơn tháo xe ra lắp lại, gõ, đập thình thình ầm cả nhà. Nếu Du ngạc nhiên hỏi:

– Xe anh hỏng gì mà Sơn sửa chữa?

Sơn điềm nhiên trả lời:

– À! Rồi nó sẽ hỏng nên sửa chữa trước.

Lý luận của Sơn làm Du phì cười. Mọi người cũng hay chế riễu tài chữa xe của Sơn:

– Sơn tài ghê! Nếu xe không hỏng thì nó chịu khó ngồi gõ đập một hồi tự nhiên xe hỏng thật.

– Ê! Sơn đập khe khẽ chứ! không khéo chút nữa anh phóng nhanh, máy xe của anh lại văng đi một đàng, xe một nẻo thì nguy to.

Sơn còn có một đặc điểm là không bao giờ thèm hiểu tại sao những hành động của nó lại ảnh hưởng đến mọi người chung quanh đến thế, cho nên Sơn hay để lộ những tình- cảm vui vẻ hay thích thú của tâm hồn hắn một cách ồn ào.

Buổi tối khi mọi người đều chăm chú đọc sách, người học bài thì tự nhiên Sơn hét lên một tiếng và đập tay xuống bàn đánh rầm một cái. Một người lạ chưa có dịp sống gần Sơn nhất định sẽ hoảng hốt và ngay đến chúng tôi tuy đã quen với những tiếng hét của Sơn cũng phải giật mình. Sơn vừa hét xong liền bị mọi người xúm lại mắng.

Liên bực tức:

– Thằng quái làm chị giật mình kim đâm cả vào tay. Sao không ra đường mà hét?

Ba tôi chua chát:

– Thật là thừa cơm đâm rửng mỡ. Đói nhăn răng rồi tha hồ mà hét.

Me tôi thực tế nhất dặn Sơn:

– Sơn ạ! Cái bàn ọp ẹp lắm rồi đấy! Sơn có đập thì đập khẽ thôi!

Vừa bị mắng xong nhưng chỉ năm phút sau Sơn quên bẵng mất lại hét lên một tiếng nữa và tấn tuồng cũ lại tái diễn.

Sơn hay hỏi tôi và Du rất nhiều câu hỏi quái gở nhưng có khi lại rất hà tiện lời nói và chỉ ra hiệu hoặc nói nhát gừng.

Có lần Lan, Liên đang ngồi ở nhà trong tự nhiên Sơn ở nhà ngoài bước vào gọi dật:

– Chị Lan!

– Cái gì?

Nó ngoắc tay chỉ ra nhà ngoài. Lan kêu lên:

– Thế là nghĩa lý gì! Mồm Sơn để đâu sao không nói lên!

Sơn chỉ nói cộc lốc:

– Bạn!

Nó giơ hai ngón tay lên. (Thế có nghĩa là có hai cô bạn đến chơi đang chờ Lan ở ngoài phòng khách).

Đến me tôi nhiều khi cũng phải bực mình. Tự nhiên Sơn chạy vào gọi:

– Me!… Me!…

– Cái gì mà ồn lên thế!

– Tiền!

– Tiền gì? Sơn vừa lấy 5$ xong còn xin thêm à?

– Không tiền me đưa để con đi mua thuốc như me dặn lúc sáng ấy mà.

– Sao Sơn không nói thẳng ra?

Lan, Liên bảo nhau.

– Thằng quái sau này lớn lên muốn tỏ tình với cô nào cũng tiện. Hắn chỉ việc giơ một ngón tay lên nói độc một chữ “yêu” là đủ.

Sơn cũng không bao giờ chịu hiểu là các cô con gái đến tuổi lớn như Lan, Liên rất khác Sơn. Nó ngạc nhiên khi thấy Liên bỏ hàng giờ để chải một kiểu tóc hoặc trước khi đi đâu lưỡng lự không biết nên mặc áo màu gì. Có hôm thấy Liên đứng ngẩn người không biết nên mặc áo màu xanh hay màu vàng. Sơn đến gần góp ý kiến:

– Việc gì chỉ phải lôi thôi. Áo vàng mạng có một chỗ, áo xanh mạng hai chỗ, vậy chị nên mặc áo vàng.

– Nhưng màu vàng mặc vào buổi chiều không hợp với màu da.

Sơn ngơ ngẩn hỏi:

– Màu da? Màu da thì dính dáng gì đến áo? Sơn mặc áo sơ mi có cần hợp với màu da Sơn đâu?

– Im mồm đi! Mày là con trai biết gì mà nói.

Sơn không chịu thua:

– Thế cái mũi chị buổi tối không đánh phấn trông tròn như hòn bi ve thì chị mặc áo gì cho đỡ tròn.

Liên hét lên một tiếng vớ lấy cái phất trần và đánh cho Sơn hai cái vào đầu.

Sơn suýt soa:

– Chị Liên ác ghê! Thế mà hôm nọ anh Văn đến chơi chị lại đóng kịch làm ra vẻ hiền từ và săn sóc đến em. Nếu anh ấy biết chị ăn tham và…

Nói đến đây Sơn rút lui khỏi tầm phất trần của Liên và chạy biến ra ngoài mất.

Có lần đến giờ ăn cơm, một người bạn trai của Liên tới chơi, Liên ra tiếp và khi Sơn ra gọi vào ăn cơm Liên bảo:

– Chị no lắm! Cứ ăn trước đi.

Sơn khoái lắm vì nó được thêm phần món ăn của Liên. Xong bữa, đến phiên Liên rửa bát (vì hôm đó người làm của gia đình tôi về quê vắng), Sơn chạy ra nói oang oang:

– Chị Liên! Me bảo chị vào rửa bát.

Liên đỏ mặt lừ mắt ra hiệu bảo Sơn im. Sơn lại hiểu lầm nên vào nhà bảo với me tôi; giọng nói của Sơn ồm ồm, cả nhà đều nghe thấy:

– Chị Liên không chịu rửa bát me ạ!

Khi khách về rồi cả nhà xúm lại mắng Sơn:

– Lần sau có khách cấm Sơn không được gọi chị vào rửa bát. Nghe không?

Sơn cãi:

– Me bảo Sơn ra nói với chị đấy chứ!

Me tôi mắng thêm:

– Me tưởng khách đã về rồi. Con trai đã lớn rồi không ý tứ gì cả.

– Thế người ta biết chị Liên phải rửa bát thì đã làm sao?

– Làm sao? Người ta khinh gia đình mình nghèo đến nỗi phải rửa bát lấy.

– Nhưng nhà mình có mượn chị Vân cơ mà!

– Dễ thường người ta biết chị Vân hôm nay về quê à.

– Ừ nhỉ!

– Mày biết là mày ngu chưa?

– Ừ nhỉ! Sơn ngu thật!

Liên còn hậm hực:

– Mà cấm Sơn không được ra mời chị vào ăn cơm khi chị đang tiếp khách.

– Tại sao?

– Mời chị vào ăn cơm mà không mời khách là đuổi khéo người ta về.

– Ừ nhỉ! Nhưng sao chị không mời anh ấy vào ăn một thể.

– Mới quen ai lại mời ăn cơm ngay, với lại hôm nay nhà mình “tu tiên” mời sao được.

– Ừ nhỉ!

– Mày thì chỉ biết ừ nhỉ! Ừ nhỉ! Ngu như con cầy ấy!

– Ừ nhỉ!

Trong gia đình tôi lại thêm một danh từ mới để dùng. Ngu theo lối “ờ nhỉ” tức là ngu như thằng quái, ngu xong mới biết mình là ngu.

LAN

Chúng tôi có cái tật chung là ai cũng nói nhanh, nhưng người giữ vô địch là Lan. Ngay với chính tôi khi nói chuyện với Lan, nhiều lần hết sức chú ý mà hiểu không kịp. Lan không những liếng thoắng mà hễ khi kể lại một chuyện gì lại còn dùng điệu bộ dáng mặt… Nếu Mẹ tôi cười không phải chỉ bằng miệng mà cả người thì Lan cũng diễn tả không những qua lời nói mà đôi mắt to sếch lúc sáng lên, lúc nheo lại ranh mãnh, chiếc mũi nhỏ chun vào chế riễu, đôi môi cong lên, mím lại còn gợi cảm linh động không kém những câu nói liên tiếp của Lan.

Tôi đã có lần thốt lên, nửa kinh ngạc nửa thú vị. Lan trông thật giống một con mèo!

Quả thật cô em gái của chúng tôi có tất cả những bí mật và đáng yêu của loài vật lông mượt óng, chân êm như nhung và dấu móng sắc đó. Sống trong gia đình, Lan tuy cười nói nhiều nhất, hay chọc ghẹo mọi người – nhất là những bạn trai si tình của Liên – luôn luôn hoạt động, không để yên chân tay mồm miệng nhưng có lúc tâm tình thay đổi, đương vui chợt buồn một cách bất ngờ. Chẳng hạn đương lúc mọi người quây quần quanh một bộ trà, chuyện nổ như ngô rang thời Lan tự nhiên thừ người, vẻ mặt buồn rười rượi, hỏi không đáp, gọi không buồn thưa và rồi mắt rưng rưng. Thật trời hiểu!

Theo ba tôi những giọt nước mắt chợt xuất hiện một cách vô duyên đó chỉ là kết quả của “Chắc Lan nó yếu gan. Cần phải mua thuốc bổ cho nó uống”. Tuy ông không giải thích tại sao yếu gan lại hay khóc, ông vẫn không chịu thay đổi ý kiến và mua cho Lan một lô vi-ta-min.

Thân hình Lan tuy gầy, mảnh mai, nhiều khi nằm ngủ say hay xem sách quay mặt vào tường, tôi và Du vẫn tưởng lầm là Tuyết hay Liễu, nhưng Lan rất sợ uống thuốc, lấy cớ:

– Cổ họng Lan bé lắm. Nuốt thuốc không vào.

Phải chứng kiến Lan mỗi buổi sáng mắt nhắm lại, tay bịt mũi uống đến ba bốn chén nước đầy mới nuốt trôi được một nửa viên thuốc, Sơn bực mình dằng lấy ống thuốc, đổ ba viên ra bàn tay bỏ lọt vào miệng nuốt chửng ngon lành không phí đến một ngụm nước. Kỳ công đó của Sơn không làm ai ngạc nhiên vì cổ họng của Sơn còn nuốt nổi nhiều thứ khó hơn nhiều. Bữa cơm nào nhà thiếu món ăn, Sơn chạy sang cửa hàng tạp hóa bên cạnh nhà mua hoặc một chai limonade, nước cam vàng hay đỏ chan vào cơm, trộn với một tí đường và ăn thêm được dăm ba bát cơm trước những cặp mắt kinh ngạc của mọi người.

Lan rất thích mèo. Nhà tôi hiện nuôi một đàn mèo và bốn con nhỏ. Lan chưa cho thế là đủ. Một hôm đi học về, Lan để cặp xuống và trước những con mắt tò mò của mọi người và khó chịu của ba tôi, Lan từ từ lôi trong cặp ra một con mèo nhỏ đen tuyền.

Con mèo kêu:

– Meo

Ba tôi càu nhàu:

– Hừ lại mèo! Nhà cứ như là vườn bách thú

Lan thản nhiên kể:

– Lan thấy nó đứng kêu trên hè tội quá nên tóm ngay lấy cho vào cặp

Sơn kêu:

– Thế là chị Lan ăn cắp rồi. Biết đâu mèo người ta nuôi lạc đường.

Lạc hay không lạc Lan đâu quan tâm. Chỉ biết khi Lan đi trong nhà thường dăm ba con mèo theo hầu.

Trong gia đình chỉ Lan gọi mèo mới tới. Chúng tôi gọi đùa Lan là “công chúa mèo”.

Khi ngồi khâu, Lan nói chuyện với mấy con mèo quay chung quanh như nói chuyện với người. Chúng tôi bảo nhau giá Lan cũng dùng cái giọng âu yếm trước mấy chú mèo đó với các ông bạn của Liên và của chính Lan, chắc các ông sẽ sướng mê. Lan ấp ủ một ước vọng vừa ngây thơ, vừa nên thơ là một đêm nào đó, con mèo Lan yêu sẽ cất tiếng nói chuyện với Lan, giọng ỏn thót và thanh tú, nhưng Lan không chịu nói rõ Lan có mong mèo sẽ biến thành một chàng hoàng tử đẹp trai hay không.

Một hôm con mèo nhỏ tam thể Lan ưa nhất ốm, người nó chỉ còn là một nắm lông nhỏ run lẩy bẩy.

Đến bữa cơm được biết trong nhà có con mèo ốm, ba tôi kêu lên:

– Đem vứt nó đi chứ! Giữ nó làm gì…

Đương ấm ức sẵn Lan quẳng đũa bát nước mắt trào ra, vừa rời khỏi mâm cơm vừa nói:

– Ác! Ác! Mọi người ác lắm… mặc kệ Lan với con mèo của Lan.

Ba tôi hỏi me tôi, ông không thể ngờ nguyên nhân khiến Lan bỏ cơm chỉ vì một con mèo:

– Lan làm sao thế? Đau bụng hả?…

Sơn thưa ra muốn giúp Lan, nó gọi với theo:

– Chị Lan! Để Sơn đập mấy cái cho nó chết nhé?

Lan quay phắt lại, tay cầm cái chổi cán dài và thiếu chút nữa là phang vào đầu Sơn, nếu mọi người không can kịp.

Sơn cười hí hí, đầu rụt lại:

– Chị Lan quay mặt đi, em chỉ đập một cái thôi cũng đủ.

Không chịu nổi, Lan òa lên khóc rất to khiến mọi người phì cười. Sau đó Lan đặt con mèo vào chiếc giỏ trải bông mang lên gác xép cho nó uống thuốc săn sóc suốt một buổi chiều, bỏ cả học. Ba tôi phải ký đơn xin nghỉ học cho Lan nên bực lắm. Ông gắt:

– Tao ký đơn lần này thôi đấy, lần sau mặc xác. Hừ! Còn đến gần một chục con mèo nữa đấy!…

Tối đến, Văn đến rủ mọi người đi xi-nê hết, chỉ còn tôi và Lan ở nhà. Dỗ dành thế nào Lan cũng chỉ lắc đầu và nhất định ngồi một mình trên gác xép với con mèo.

Từ lâu mới được một buổi trong nhà yên tĩnh, tôi ngồi viết lách ở bàn. Bỗng nhiên từ trên gác xép Lan thò đầu xuống gọi, giọng cấp bách:

– Anh Lam! Mau lên đây ngay! Anh.

Lên gác tôi thấy Lan quỳ trước giỏ đựng mèo, khuôn mặt nhợt nhạt và dáng mặt là lạ, mắt chăm chú theo dõi những cử động dật dật của con mèo.

Ngồi nhìn con mèo hấp hối được một chút bỗng nhiên Lan bảo tôi:

– Anh giết nó đi!

Tôi còn lưỡng lự, Lan đã giận dữ gắt cả với tôi:

– Không nhưng gì hết!… Anh giết nó đi!…

– Cũng được. Nhưng Lan quay mặt đi hay đi xuống nhà rồi anh liệu.

Lan có vẻ sợ hãi nhưng vẫn bướng bỉnh lắc đầu. Trước đôi mắt van lơn của cô em gái thường khi vui như chim, vô tư như một con sóc nhỏ, tôi đành chiều Lan. Khi con mèo tam thể hết hẳn run rẩy trong tay tôi, Lan òa khóc một trận nữa. Để an ủi Lan, tôi mặc quần áo và đưa Lan đi xem chiếu bóng ngay sau đó. Từ hôm ấy trở đi nàng công chúa mèo của chúng tôi không yêu mèo như ngày xưa nữa. Cô em gái bé của tôi đã trở thành một thiếu nữ và bắt đầu chú ý đến các bạn trai hơn các loài vật bốn chân hay kêu meo meo.

Tôi và Du nghĩ rằng Lan đã lớn. Khi tôi dẫn Lan đi phố, các cậu con trai bắt đầu chú ý nhìn theo cô gái đi cạnh tôi, phục sức sềnh soàng, làn tóc dài dần chấm đất, chân đi dép thấp và những cử động phảng phất vẻ cứng cỏi của những cô bé còn quen thuộc với những trò nhảy dây, chạy đuổi. Khác hẳn Liên khi có ai nhìn, Lan không chớp mắt lấy điệu hoặc giả vờ kiêu kỳ làm như không trông thấy ai, trái lại trừng mắt nhìn thẳng không chớp mắt vào mặt các cậu trai. Liên thường trách Lan:

– Lan kỳ quá! Ai lại trừng mắt lên nhìn mọi người là thế nào. Con gái phải dịu dàng chứ!

– Thế chị muốn Lan nhắm mắt lại à?

– Không phải thế! Nhưng ít ra Lan hoặc phải hạ rèm mi xuống một chút, hoặc nhìn thẳng trước mặt…

– Hạ mi xuống mấy lần thì vừa hở chị?

– Lan ngu lắm! Chẳng biết gì cả…

– Em chỉ biết bắc chước chị, chị gặp ai cũng hạ mi xuống chớp chớp thời chẳng mấy lúc.

Liên cáu:

– Mấy lúc sao?

– Đau mắt chứ sao?

Liên chỉ còn biết thở dài ngán ngẩm trước thái độ bất cần đời, thiếu nữ tính của Lan.

Tuy đã lớn, Lan vẫn giản dị về trang điểm, phục sức như hồi nhỏ. Đi đâu Lan mặc áo mầu gì cũng được không băn khoăn như Liên là sáng, nắng, tối, mưa phải mặc “ton” nào cho hợp. Những hàng tôi và Du mua bắt Lan may cũng khá nhiều nhưng nếu Lan mặc áo đẹp thời hình như chỉ cốt để làm vui lòng mọi người chứ không phải vì thích ăn diện để tôn sắc đẹp.

Sắp đi đâu, Lan hay lo lắng hỏi:

– Anh! Lan mặc áo này nhé? Không được à? Thế Lan mặc áo nâu vậy!

Tôi thích những màu nóng như màu vàng, nâu, beige, còn Du trái lại ưa những màu chìm, xanh lục, lam, tím nên Lan chia những áo của mình thành hai loại “áo anh Lam”, “áo anh Du” và chiều mỗi người một lần.

Còn đi đâu với Liên, Lan khỏi phải lo mặc áo màu gì vì Liên còn mải tìm mầu cho hợp với… da Liên, đâu thèm để ý đến Lan.

Ngay đến mái tóc của Lan cũng không được mọi người để yên. Cả trường Trưng Vương chỉ còn Lan là cô gái độc nhất để tóc dài rủ xuống sau lưng. Chúng tôi không chịu để Lan uốn tóc. Nhất là Liên, vì Liên bảo ban đêm khi Liên chập chờn nửa thức nửa ngủ, Lan ngồi cạnh tóc dài che phủ cả người như một cô gái liêu trai đẹp lắm. Cắt phí đi mất. Còn Du mỗi khi chụp ảnh bao giờ cũng bắt Lan xõa tóc ra để rủ xuống ngực hoặc quấn quanh cổ cho giống một bức tranh Nhật cổ.

Nhưng Lan, “cô gái liêu trai”, “bức tranh Nhật” không thú vị chút nào, luôn luôn kêu ca trời nực quá sức, tóc dài vừa nặng vừa rức đầu. Hễ khi Lan dọa đi phi-dê, cả nhà xúm vào can, Lan lại thôi.

Cho đến hôm chính tôi sau khi ngồi ngắm khuôn mặt Lan một lúc, đột nhiên, đề nghị:

– Lan! Chiều đi cắt tóc ngắn đi! Không chừng ngộ đấy!

Lan nghi ngờ hỏi vặn:

– Cắt tóc ngắn? Anh Lam hôm nay làm sao thế? Loạn óc hả?

Tuy thế mãi đến hơn một tuần sau Lan mới được phép bước chân đến một hiệu uốn tóc, vì còn phải chờ mọi người quyết định xong xuôi kiểu tóc Lan sẽ uốn. Suốt ngày mọi người thi nhau làm tội Lan. Du bắt Lan quấn tóc lại từng cuốn dài theo kiểu “Lạp xường Ăng Lê” tôi đưa ra kiểu “cong ra ở trên cụp vào ở dưới”, còn Sơn nó chỉ có một ý kiến là Lan nên uốn theo kiểu Răng-xà-Beng (Jean Saberg là tên một tài tử có cái đầu húi rất ngang tàng giống con trai) vì theo ý Sơn kiểu đó vừa mát vừa đỡ tốn tiền uốn lại.

Đến hôm Liên dẫn Lan đến hiệu uốn tóc, chính Lan là người lưỡng lự ngại ngùng. Lúc đó chắc Lan mới thấy tiếc bộ tóc dài và trái ngược thay, mọi người phải xúm lại khuyên nhủ Lan mới chịu ra khỏi cửa nhà.

Ở hiệu uốn tóc về, vừa trên xe tắc xi bước xuống. Lan chạy thẳng một mạch vào phòng riêng, đầu trùm một chiếc khăn san kín mít không để hở một sợi tóc và ở lỳ trong phòng không chịu ra.

Hỏi, Liên kể:

– Đến hiệu Lan bắt đầu rưng rưng nước mắt và khi người thợ lấy kéo cắt mớ tóc đầu tiên Lan khóc và khóc hoài cho đến khi uốn xong.

Sơn tò mò:

– Thợ họ bảo thế à?

Liên ngạc nhiên:

– Bảo gì?

– Họ bảo chị Lan phải khóc khi đang uốn tóc.

– Sơn chỉ vớ vẩn. Im đi!

Sơn im, nhưng từ đó trở đi nó có thành kiến là hễ uốn tóc các cô phải khóc thật điệu, chẳng khác gì ra đường phải bôi lem nhem son phấn vào mặt.

Về bếp nước khâu vá, Lan hơi vụng, không khéo tay như Liên, nhưng được cái rất chịu khó giúp me tôi dọn dẹp nhà cửa, làm bếp chứ không lười như Liên. Đã có lần Lan hỏi:

– Me ơi! Làm thế nào đun nước biết nước sôi già?

Mẹ tôi chưa kịp đáp Sơn đã nhanh nhẩu đáp:

– Chị cho tay vào thử thì biết ngay chứ khó gì!

Dọn dẹp nhà cửa đối với Lan là một công việc nhẹ nhàng vì Lan chỉ việc cầm một cái chổi phất trần theo sát me tôi. Hễ me tôi mắng:

– Sơn! Sao không để mấy cái kim này lên bàn sách. Lan! Củng cho nó mấy cái.

Lan cầm cái phất trần và nhân danh me tôi củng vào đầu Sơn một cái giúp me tôi.

Khi me tôi càu nhàu:

– Gớm mấy cậu con trai lớn rồi mà còn cẩu thả. Áo với quần vứt bừa bãi cả ra nhà.

Lan nheo mũi lại phê bình một câu:

– Gớm bừa cà ra…

Đoạn Lan cứ thế, nách cặp phất trần, tay một cuốn sách vừa đi vừa đọc và lẽo đẽo theo me tôi cho đến khi me tôi dọn dẹp xong.

Vào một buổi sáng đẹp trời, me tôi hơi mệt Liên phải làm cơm thay, Lan đi chợ. Lần đầu tiên đi chợ một mình (không kể Tuyết, đi theo cầm làn và Liễu… giữ tiền hộ), Lan cẩn thận ghi tất cả những món me tôi dặn vào một tờ giấy dài, chia ra từng mục và tiểu mục như khi làm bình luận luân lý ở lớp. Lan yêu cầu Liên cuốn tóc cao lên phía sau gáy hộ, để trông cho vẻ người lớn một tý. Du còn xui Lan mang theo cái cân thịt của me tôi và… một con mèo. Để mèo mặc cả hộ Lan, Du giải thích như vậy. Lan tức lắm nói móc anh:

– Anh chê em không biết mặc cả phải không? Sao anh không nhờ nàng keeng-keeng đi chợ hộ nhà mình. Nàng của anh cân thuốc giỏi chắc cân thịt cũng giỏi.

(Keeng-keeng là tên hiệu chúng tôi đặt cho Thủy, người tình bé nhỏ của Du. Thủy đang học dược khoa và vì một ngày kia sẽ trở thành bà dược sĩ, làm chủ một cửa hàng thuốc tây, ngồi ở két thu tiền – cái máy thu tiền hễ ấn nút bỏ tiền vào là kêu lên những tiếng keeng-keeng vui tai, nên Thủy mới có cái tên ngồ ngộ đó).

Du cười xì xì đôi mắt to chớp chớp. Hắn ta chỉ ngượng ngùng khi mọi người đả động đến những cuộc tình duyên của hắn. Nhưng vì mặt hắn quá đen nên nếu hắn có đỏ mặt cũng khó mà đoán biết được.

Lan, Liên thường bảo nhau có lẽ khi Du e thẹn, mặt anh ấy đen thêm thì có.

Tôi và Du ra đứng cửa nhìn theo Lan đi tong tả, tay cầm khư khư tờ giấy dài ghi các thứ sẽ mua như bùa hộ mệnh. Tuyết, Liễu kèm chặt hai bên. Du thở dài mặt đăm chiêu bảo tôi:

– Lan lớn đến nơi rồi! Càng ngày nó càng xinh ra. Không biết bao giờ nó biết yêu nhỉ? Chắc còn lâu, vì hiện giờ nó chưa hề biết đỏ mặt khi tiếp bạn trai. Một người con gái chưa biết đỏ mặt dù sao vẫn còn là một cô bé. Lan có nói chuyện với anh nó để ý chàng nào không?

– Không

Du lại thở dài lắc lắc cái đầu:

– Thật đáng tiếc! Thật đáng tiếc lắm thay!

Tôi mỉm cười. Chúng tôi ai cũng quen thuộc với cái quan niệm “yêu cho lấy nhiều, yêu cho bằng được” của Du. Đối với Du tình yêu độc nhất là điều phi lý và ít nhất phải tính từ con số 10 trở lên. Hắn đã từng tuyên bố trước mặt các bạn của Liên:

– Tình yêu chỉ là những chiếc ga xép… xép dọc theo đường xe lửa và đàn ông là những con tàu chạy qua đỗ đây một tí, kia một tí…

Bỗng nhiên tôi vỗ vai Du:

– Du khỏi phải lo cho Lan. Anh chàng “trứng cá” đang theo sau Lan kia kìa.

Chàng “trứng cá” là một sinh viên trọ học cạnh nhà tôi. Hàng xóm láng giềng hàng năm trời, chàng phải đợi mấy ngày tết mới dám sang chúc tết gia đình chúng tôi. Khi tiếp chuyện Lan có khen: “Gớm cây trứng cá nhà anh sai quá”. Chàng ta ân cần và ngây thơ thốt lên “Thế thì hay lắm. Hôm nào tôi xin hái tặng cô Lan một giỏ”. Nói xong chàng ta ngượng nghịu cắn môi, trước ánh mắt chế riễu của chúng tôi. Mấy tháng sau không thấy chàng ta mang trứng cá sang biếu Lan, tôi thỉnh thoảng nhắc:

– Lan à! Có lẽ trứng cá của Lan nở thành cá rồi và đến mùa di cư chúng trở về nguồn hết rồi chăng.

Lan đi chợ từ tám giờ đến mười một giờ ba mươi mới về. Chúng tôi thấy Lan đi giữa Tuyết và Liễu, một tay ôm con vịt vào ngực như bế một em bé, mặt lấm tấm mồ hôi và hình như đang cãi nhau với Liễu. Lan vừa bước chân vào nhà, Du đã lấy ngón tay chọc chọc vào đầu con vịt:

– Này cậu vịt! Cậu phải biết nhiều người thèm số phận của cậu lắm đấy! Được cô Lan âu yếm ôm vào ngực thật sướng. Không tin gọi ông “trứng cá” sang mà hỏi.

Liên kêu:

– Sao Lan mua con vịt già thế? Mà sao không xách cẳng nó lên mà lại ôm vào lòng bẩn chết.

Lan tỏ vẻ bất bình:

– Thế ai xách cẳng chị lên chị có chịu không? Con vịt này mà già à! Lan đâu biết. Lan thấy mặt nó thông minh và có vẻ nghiêm trang nên mới mua đấy chứ.

Con vịt từ nãy giờ nằm im lặng trầm ngâm như một triết gia, lúc đó mới hé mắt buông một tiếng cạc cạc khàn khàn nghiêm trang một cách khôi hài khiến mọi người cười ồ.

Bữa cơm hôm đó chúng tôi phải ăn một bữa thịt vịt dai ghê gớm. Du bảo:

– Vì nó thông minh quá nên thịt nó mới dai.

Tôi thì đoán già đoán non:

– Lão vịt này chắc hẳn đã đỗ bằng xéc-phi-ca và đã làm lý trưởng và lấy đến mấy vợ.

Lan dỗi trèo lên gác xép nằm đọc truyện và đợi hàng xực tắc quen đi qua vào buổi trưa để ăn cho đỡ hận.

(Còn tiếp một kỳ)

(Trở lại kỳ trước)

(Nguồn : vnthuquan.net)

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: