//
you're reading...
góp nhặt cát đá, Giới thiệu sách, Nhân vật, thời đã qua, về Lịch Sử

‘Xứ Đông Dương’ – một tài liệu tham khảo đáng quý

 

 

 

“Xứ Đông Dương” là tập Hồi ký của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1897-1902), Tổng thống Pháp (1931-1932) xuất bản lần đầu năm 1905 được dịch từ nguyên bản tiếng Pháp L’Indochine Frangcaise (Souvenirs), được NXB Thế giới phát hành ra mắt độc giả Việt Nam 3.2016 .

 

5

 

“XỨ ĐÔNG DƯƠNG” VÀ TOÀN QUYỀN PAUL DOUMER – NHỮNG CẢM NHẬN

Theo lời Nhà Xuất bản Thế giới: “Paul Doumer (1857-1932) là một nhân vật để lại dấu ấn khá rõ nét trong lịch sử cận đại Việt Nam dưới thời thực dân Pháp đô hộ. Tuy chỉ làm Toàn quyền Đông Dương 5 năm nhưng ông đã thực hiện nhiều cải cách với chủ trương biến chế độ Bảo hộ Pháp ở Đông Dương thành chế độ “trực trị”, xây dựng chính quyền trung ương tập quyền cao độ nhằm xóa bỏ chủ quyền và nền độc lập của các quốc gia Đông Dương. Ông cũng là viên quan thực dân cai trị đã thực thi chính sách sưu thuế hà khắc để xây dựng hạ tầng cơ sở cho xứ Đông Dương – đặc biệt là cây cầu Long Biên nổi tiếng Hà Nội gắn liền với tên tuổi của ông – nhằm phục vụ cho việc khai thác tài nguyên thiên nhiên thuộc địa, và biến các nước thuộc địa thành một thị trường, tiền đồn cho Pháp ở vùng Viễn Đông… Sau khi trở về Pháp, trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1931, ông được đa số phiếu bầu và trở thành Tổng thống Pháp. Thế nhưng, chưa kịp làm gì trên cương vị người đứng đầu nhà nước thì ngày 16/5/1932, trong khi tham gia Hội chợ sách của các nhà văn cựu chiến binh, ông bị một phần tử quá khích người Nga ám sát bằng hai phát đạn, trở thành vị Tổng thống xấu số trong lịch sử cận đại nước Pháp”.

Đánh giá về cuốn “Xứ Đông Dương”, PGS.TS Dương Văn Quảng – nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao, từng là Tham tán Công sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, Đại sứ Việt Nam tại UNESCO và Tổ chức quốc tế Pháp ngữ viết: “Cuốn sách được viết dưới con mắt của một Toàn quyền nhằm tự khẳng định rằng mình đã “hoàn thành trọng trách lớn lao… (ở) Đông Dương tốt hơn bất kỳ ai khác” “với niềm tự hào phụng sự nước Pháp”. Hơn nữa con người này có một quyết tâm sắt đá là phải thành công trong việc biến xứ sở này thành tiền đồn của Pháp tại Viễn Đông. Như vậy, lẽ đương nhiên nó chứa đựng nhiều sự kiện, nhiều đánh giá mang nặng tính chủ quan, không trùng khớp với lịch sử mà chúng ta từng biết và không phù hợp với cách nhìn của Việt Nam về cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất tại Đông Dương. Điều đáng lưu ý với bạn đọc là cuốn sách truyền tải rất nhiều thông tin về xứ Đông Dương, nhất là một giai đoạn lịch sử mang tính bước ngoặt về nhận thức trong xã hội Việt Nam lúc đó. Những năm tháng này cùng với những sự kiện diễn ra đậm dấu ấn lịch sử cần được nghiên cứu một cách thấu đáo, khách quan, tránh những thành kiến và phê phán một chiều. Lịch sử vốn là một bộ môn khoa học nghiên cứu, đánh giá những sự kiện đã xảy ra. Lịch sử phải chấp nhận cách nhìn đa chiều sự kiện, thì nó mới là nó và mới hấp dẫn, thúc đẩy thế hệ trẻ tự tìm hiểu và yêu thích lịch sử, nhất là lịch sử nước mình… Cuốn sách đáng đọc nhưng hãy đọc nó theo mối quan tâm, hay tư cách riêng của từng người và với cái nhìn lịch sử. Bạn sẽ bị lôi cuốn bởi cách viết của tác giả; đặc biệt, bạn sẽ được khám phá và tìm thấy nhiều điều mới mẻ mà bạn chưa từng đọc được trước đó về giai đoạn lịch sử này của đất nước Việt Nam”.

Nhà văn – Dịch giả Nguyễn Xuân Khánh cảm nhận: “… Paul Doumer là một tay thực dân chính cống, ông hành động hoàn toàn vì lợi ích của nước Pháp. Nhưng ông là một nhà kinh tế có tài và có tầm nhìn. Chính do vậy, người Pháp có lợi nhưng xứ thuộc địa cũng được hiện đại hóa, Tây phương hóa. Một đất nước theo kiểu Tây phương được công nghiệp hóa, đô thị hóa đã manh nha hình thành… Những cuốn sách lịch sử viết về Việt Nam của người Trung Quốc, người Pháp, người Mỹ… xưa nay không ít. Lẽ dĩ nhiên, là sách của đối phương nên cách nhìn bao giờ cũng đối nghịch với quan điểm của chúng ta. Tuy nhiên, nếu biết so sánh đối chiếu, nếu phê phán có chọn lọc thì đó là một nguồn tài liệu đáng quý, giúp ta nhìn nhận sự việc được khách quan hơn… Do vậy, cuốn “Xứ Đông Dương” của Paul Doumer đối với chúng ta là một tài liệu tham khảo rất đáng quý… Tôi đã đọc cuốn sách này, say mê như đọc một cuốn tiểu thuyết… Nhận xét, từ những năm đầu thế kỷ XX, của vị toàn quyền Đông Dương về người Việt, rằng: “Người An Nam chắc chắn là tộc người ưu trội so với các dân tộc xung quanh… Người An Nam thông minh, cần cù và dũng cảm…” cũng đồng quan điểm với rất nhiều nhận định của thế giới sau này khi đánh giá về năng lực, khả năng học hỏi, lòng quả cảm của người Việt. Chắc chắn nó có phần nào sự vô tư trong đó”.

Trong Lời nói đầu “Xứ Đông Dương”, Toàn quyền Paul Doumer viết: “… tôi được yêu cầu sắp xếp lại các ký ức của mình đặc biệt là dành cho giới trẻ, cho những người sẽ là những công dân, những người lính của ngày mai. Tôi sẽ làm như vậy một cách không màu mè, từ toàn bộ câu chuyện tôi thuật lại sẽ hiện lên một góc nhìn đủ chính xác về xứ Đông Dương tươi đẹp của chúng ta, một ý tưởng đủ đúng đắn về bản chất công cuộc thuộc địa hóa…”.

 

6

Đền Quán Thánh bên Hồ Tây – Hà Nội (Tranh minh họa trong “Xứ Đông Dương”)

 

Giai đoạn đầu sang Việt Nam, Toàn quyền Paul Doumer đã dành cho bác sĩ y khoa, nhà vi khuẩn học và nhà thám hiểm người Pháp gốc Thụy sĩ Alechxandre Émile Jean Yersin (1863 – 1943) – người khám phá cao nguyên Lâm Viên và vạch ra con đường bộ từ Trung Kỳ sang Cao Miên, cũng là người thành lập và là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Y Đông Dương (tiền thân Đại học Y Hà Nội) những lời tốt đẹp khi đến thăm tỉnh Khánh Hòa: “Nha Trang được chờ đợi sẽ là nơi nổi tiếng; đây là nơi được bác sĩ Yersin chọn để gây dựng phòng thí nghiệm nghiên cứu vi khuẩn. Nhà bác học Yersin, một con người vừa vĩ đại vừa giản dị và khiêm tốn, đã thực hiện những nghiên cứu về bệnh dịch hạch tại nơi đây và đưa ra được những kết quả đầu tiên khiến cả giới khoa học phải biết đến. Viện Pasteur ở Paris xem ông như một trong những thành viên kiệt xuất của mình.

Cho đến năm 1897, phòng thí nghiệm mà Yersin xây dựng ở Nha Trang vẫn còn trong tình trạng thai nghén: chỗ ở của vị giáo sư và các cộng sự thật tồi tệ; có lẽ một nhân viên văn phòng bên hải quan tuổi đôi mươi được cử đến một nơi rừng rú cũng phải từ chối sống trong một điều kiện tương tự. Tình trạng tồi tệ đó kéo dài không quá lâu, nhưng đủ lâu để hạ gục một bác sĩ thú y tráng kiện gắn bó với phòng thí nghiệm, chúng ta sắp phải ân hận vì mất ông. Từ sau năm 1897, bác sĩ Yersin mới có đủ kinh phí để trang bị và phát triển phòng thí nghiệm, xây dựng những tòa nhà quan trọng, biến nó thành một viện nghiên cứu đúng tầm cỡ với những gì ông theo đuổi. Dù rất tiết kiệm các nguồn lực thuộc địa đối với những chi phí chỉ mang tính chất hành chính, tôi đã không tiếc khi cần phải xây dựng hoặc nâng cấp các cơ sở khoa học, cũng như mang đến cho đất nước này những phương tiện kinh tế, nhằm phát triển lợi ích và danh tiếng của nước Pháp.

Bác sĩ Yersin thì ngược lại, luôn hạn chế hết sức các yêu cầu chi tiêu trong những đề nghị của mình. Thay vì cắt giảm ngân sách hằng năm, tôi luôn cố làm tăng những khoản mà ông ấy đăng ký cho dự án của mình. Còn về những nhu cầu, quyền lợi mang tính cá nhân của mình, thì ông ấy chẳng bao giờ đòi hỏi, thậm chí không biết về nó, và người ta có thể lờ đi quyền lợi của ông một cách dễ dàng. Phải sau một thời gian rất dài bám trụ với công việc, ông mới được ban cho một vài ân huệ dành cho những viên chức hạng hai. Tôi sẽ luôn nhớ đến bác sĩ Yersin, người mà tôi yêu mến hơn là ngưỡng mộ, với lòng trìu mến, mỗi khi tôi nhớ đến lần đầu tiên đến Nha Trang, nơi những công trình nghiên cứu đã làm cho nổi tiếng về sau”.

Trong hồi ký, Paul Doumer cũng đã ghi lại một lần cùng bác sĩ Yersin lên Lâm Viên vào năm 1899: “Một ngày, tôi định đi thăm một cao nguyên trong dãy Trường Sơn thuộc tỉnh Khánh Hòa, đó là cao nguyên Lâm Viên, nơi tôi định xây dựng một trạm y tế, ở độ cao 1.500 m. Tôi đi cùng với viên Công sứ, bác sĩ Yersin và đại úy pháo binh Langlois. Tất cả chúng tôi đều cưỡi ngựa, trừ viên Công sứ ngồi kiệu. Đó là một vùng đồi núi với đường lên gồ ghề, người ta phải leo qua những dãy núi chắn ngang, rồi lại xuống, rồi leo lên để cuối cùng đến được gờ cao nguyên, ở độ cao 1.600 m. Phần lớn thời gian hành trình, chúng tôi phải đi bộ và đôi khi phải giúp ngựa khỏi bị trượt trên những triền đá dốc cao. Ngài Công sứ mặc dù có nhiều phu khiêng kiệu dũng cảm nhưng vẫn bị tụt lại phía sau. Bóng tối bất ngờ buông xuống. Chúng tôi cưỡi ngựa, bác sĩ Yersin, đại úy Langlois và tôi lúc này không còn quan tâm đến gì trừ hổ. Chúng tôi không rời nhau, vì trong bóng tối, và với hiểu biết hạn chế của chúng tôi về đường đất, chúng tôi hoàn toàn có thể bị lạc. Đi bộ khoảng cách ba, bốn cây số đằng sau nhóm chúng tôi là ngài Công sứ, ông ta vẫn không quan tâm dù xung quanh là những phu khiêng kiệu và toán lính vệ binh. Ông cảm thấy lũ hổ đang lượn quanh, và tự nhủ rằng chính mình, vị Công sứ tỉnh Nha Trang, đang bị đe dọa nhiều nhất. Chúng tôi nghe thấy từ xa, trong sự yên tĩnh của đêm, tiếng nổ của những loạt súng được bắn để xua đuổi lũ thú dữ cách xa ngài Công sứ… Không có hộ tống và cả những loạt súng, chúng tôi tới nơi vào khoảng 10 giờ tối”…

Dưới thời Paul Doumer, hạ tầng cơ sở tại Đông Dương được kiến thiết mới ồ ạt, nhưng người dân thuộc địa đã phải chịu cảnh sưu cao thuế nặng để phục vụ cho việc này… Những công trình đường sắt mà ông khởi tạo trên đất Việt Nam hơn 100 năm qua, đến nay vẫn còn có giá trị lớn trong nền kinh tế của nước ta.

 

7

Bến thuyền và cầu Long Biên (tranh minh họa trong “Xứ Đông Dương”)

 

Hồi ký “Xứ Đông Dương” cho biết: “Ngay sau khi tôi tới Đông Dương, một nỗ lực lớn về tài chính được triển khai và tiếp tục trong các năm 1897 và 1898… Đông Dương cần đến tất cả những gì tạo thành cơ sở hạ tầng cơ bản cho một xứ sở rộng lớn, phì nhiêu và đông dân cư… Có một công trình mà tôi thấy cực kỳ cấp thiết. Đó là một cây cầu lớn bắc qua sông Hồng để đi sang tả ngạn của sông. Thành phố bị tách rời khỏi các tỉnh bên tả ngạn bởi con sông rộng 1.700 m, với nhiều doi cát nhanh chóng hình thành rồi lại bị nhấn chìm. Đối với người bản xứ, việc qua sông luôn khó khăn và tốn kém… Tuyến đường sắt Lạng Sơn đã bắt đầu được xây dựng vào giai đoạn này, buộc phải dừng lại ở bên tả ngạn, cách sông Hồng ba cây số, và vì thế cách rất xa thành phố Hà Nội. Giữa ga cuối với thành phố này lại chỉ có những phương tiện đi lại bất tiện và chậm chạp với giá tương đối cao. Hơn nữa, ý tưởng của tôi ngay từ lúc đó là nhất định phải thiết lập tại Bắc Kỳ một hệ thống đường sắt hội tụ về Hà Nội, không chỉ nối thành phố này với biển, mà còn nối nó với Trung Kỳ và Trung Hoa… Vì vậy, sự hữu ích của việc xây dựng một cây cầu tại Hà Nội là không còn gì phải bàn cãi; nhưng khả năng hoàn thành một công trình như vậy và chi phí đáng kể mà nó đòi hỏi lại là chuyện khác. Có rất nhiều người hoài nghi và phản đối, ở Bắc Kỳ cũng như ở tại Paris… Trong cuộc đấu thầu tổ chức năm 1897 cho việc xây dựng cây cầu này, có mặt các nhà thầu xây dựng chủ chốt của Pháp. Đồ án của nhà thầu Daydé & Pillé đã được chọn. Viên đá đầu tiên được đặt và việc thi công bắt đầu vào mùa khô, từ tháng 9/1898… Đây là một trong những cây cầu lớn của thế giới, và là công trình đáng kể nhất cũng như đáng chú ý nhất đã được thi công ở Viễn Đông cho tới nay… Ba năm sau khi khởi công, cây cầu đồ sộ đã hoàn tất. Nhìn gần, bộ khung rầm bằng thép của nó thật ấn tượng. Chiều dài của cây cầu trông như vô tận. Nhưng khi người ta chiêm ngưỡng cây cầu từ dưới dòng sông, nó chỉ còn là một tấm lưới mắt cáo, một dải đăng ten vắt ngang bầu trời. Dải đăng ten bằng thép này xoàng ra cũng đã tiêu tốn của chúng ta hơn sáu triệu phờ – răng… Tôi đã khánh thành cây cầu tại Hà Nội, hay cầu Doumer theo tên gọi của nó, vào tháng Hai năm 1902, đồng thời với tuyến đầu tiên của hệ thống đường sắt Đông Dương. Tuyến đường Hà Nội – Hải Phòng nối liền các tỉnh lỵ ra phía biển đã có thể được khai thác ngay từ đó. Chuyến tàu đầu tiên của tuyến đường này đã đi vòng qua thành phố, qua cây cầu và hơn 100 cây số đường sắt để chính thức khánh thành tuyến đường và đưa tôi một quãng trên đường quay về nước Pháp sau khi hoàn tất sứ mệnh của mình tại Đông Dương… Cùng với thời điểm quyết định xây dựng cây cầu tại Hà Nội vào năm 1897, tôi cũng ra quyết định tương tự về một cây cầu có kích thước khiêm tốn hơn, song cũng vô cùng hữu ích, bắc qua sông Hương tại Huế… Năm 1897 cũng diễn ra việc đấu thầu thi công một công trình khác, một cây cầu thứ ba bắc qua sông Sài Gòn, để nối thông tuyến đường bộ từ Sài Gòn đi Biên Hòa và sau đó có một tuyến xe ray chạy hơi nước chạy qua đó… Với thuộc địa, thời gian này là kỷ nguyên của sắt thép và của những cây cầu… Trong cùng thời gian, các tuyến đường dẫn lên các thung lũng vùng cao, các cao nguyên trên dãy Trường Sơn và sườn dốc phía Ai Lao đã được xây dựng tại hầu hết các tỉnh Trung Kỳ… Một trong số đó là tuyến đường Phan Rang dẫn lên cao nguyên Lâm Viên, khu nghỉ dưỡng ở phía nam Đông Dương…

Paul Doumer là người dày công theo đuổi và kiến nghị xây dựng hệ thống đường sắt ở Việt Nam: “Trong phiên họp ngày 14/9/1898, theo đề xuất của tôi dựa trên báo cáo của Đô đốc de Beaumont, Tư lệnh hạm đội Viễn Đông, Hội đồng bỏ phiếu thông qua một nghị quyết có nội dung như sau: “Hội đồng Tối cao quyết định rằng:

Hệ thống đường sắt Đông Dương và đường sắt vào Trung Hoa cần được xây dựng sớm nhất có thể.

Hội đồng cho rằng việc thi công các tuyến đường dưới đây là đặc biệt cần thiết:

Đường sắt từ Hải Phòng qua Hà Nội tới biên giới Vân Nam (Lào Cai);

Đường sắt thâm nhập Trung Hoa từ Lào Cai tới Côn Minh;

Đường sắt từ Hà Nội đi Nam Định và Vinh;

Đường sắt từ Đà Nẵng đi Huế và Quảng Trị;

Đường sắt từ Sài Gòn đi Khánh Hòa và cao nguyên Lâm Viên;

Đường sắt từ Mỹ Tho đi Vĩnh Long và Cần Thơ”.

Vài ngày sau khi kỳ họp của Hội đồng Tối cao bế mạc, tôi rời Đông Dương về Pháp và nhận được tin rằng một đạo luật về xây dựng hệ thống đường sắt như ở trên đã được phê chuẩn cùng với khoản cho vay cần thiết cho các chi phí thi công. 1.700 cây số đường sắt cần xây dựng trên xứ thuộc địa tiêu tốn khoảng 200 triệu phờ-răng. Mỗi cây số đường sắt ở đồng bằng trung bình tiêu tốn khoảng 100.000 phờ-răng; đường sắt xây dựng ở vùng núi sẽ có giá thành cao gấp đôi”.

Về xây dựng khu nghỉ dưỡng ở Lâm Viên (Đà Lạt ngày nay), theo Toàn quyền Doumer: “đường sắt từ Sài Gòn đi Khánh Hòa còn cho phép giải quyết vấn đề rất quan trọng; có lợi ích rất cấp thiết, đó là việc thiết lập một trung tâm nghỉ dưỡng ở nam Đông Dương…

 

8

Đường ray xe lửa răng cưa Đà Lạt – Tháp Chàm (Ảnh trong “Xứ Đông Dương”)

 

Để thực hiện thành công công cuộc thuộc địa hóa tại một quốc gia nhiệt đới, điều kiện cần thiết đầu tiên là làm sao cho người Âu sống được tại đó… vấn đề này bắt đầu được nghiên cứu vào năm 1897. Các yêu cầu khảo sát được gửi tới các Thống sứ trong một bức thư tôi viết cho họ ngày 23 tháng Bảy cùng năm, trong đó ấn định các điều kiện cần thiết cho việc thiết lập một khu nghỉ dưỡng; có độ cao tối thiểu 1.200 m, có nguồn nước dồi dào, có đất canh tác, có khả năng xây dựng đường giao thông dễ dàng… Gần như ở mọi nơi việc khảo sát đều kéo dài và vấp phải khó khăn, nhất là khi tại nhiều nơi những người tham gia việc này không có niềm tin vào thành công. Theo những yêu cầu do bác sĩ Yersin đưa ra và dưới sự chỉ dẫn của ông, các cuộc thám hiểm đã được thực hiện ở khu vực dãy Trường Sơn gần ranh giới Nam Kỳ, nơi sông Đồng Nai và các phụ lưu chính của nó bắt nguồn. Những cuộc thám hiểm này đã thành công rực rỡ. Một cao nguyên rộng là cao nguyên Lâm Viên, đáp ứng được những yêu cầu cơ bản. Với độ cao trung bình 1.500 m và có diện tích gần 300 cây số vuông, cao nguyên này được cấp nước từ một nhánh của sông Đồng Nai cùng nhiều nguồn suối nhỏ. Ngay từ tháng Mười năm 1897, một trạm thử nghiệm đã được thiết lập tại đó cùng một trạm quan sát khí tượng và một vườn rau dưới sự quản lý của một người Pháp được Giám đốc Viện Nha Trang tư vấn giúp. Rất nhanh chóng, đã có thể đánh giá được nhiệt độ ôn hòa của cao nguyên và chất lượng đất tại đây là đủ màu mỡ cho việc trồng các loại rau. Còn lại một vấn đề giao thông rất quan trọng mà ban đầu có vẻ khó tìm ra giải pháp. Một tuyến đường mòn đầu tiên được mở ra vào đầu năm 1898 giữa Lâm Viên và bờ biển tại cảng nhỏ Phan Rang. Việc mở đường sắt lên cao nguyên được nghiên cứu, và một tuyến đường dự kiến được đưa vào hệ thống đường sắt mà đạo luật ngày 25/12/1898 phê chuẩn.

Trong khi chờ đợi đường sắt đem đến câu trả lời dứt điểm cho vấn đề giao thông tại cao nguyên Lâm Viên, một tuyến đường với phần lớn lộ trình cho phép xe cộ lưu thông được xây dựng từ Phan Rang lên Lâm Viên trong năm 1899. Theo một nguồn tư liệu đáng tin cậy về bác sĩ Yersin: “Tháng 3/1899, ông (Yersin) lại tháp tùng Toàn quyền Paul Doumer cưỡi ngựa từ Phan Rang lên Đà Lạt, Đăng Kia. Đoàn đi rất sớm và đến Càn Rang (D’ran thuộc huyện Đơn Dương ngày nay) vào ngày 26/3/1899. Đến năm tiếp theo, người ta bắt đầu thi công một con đường dốc thoai thoải và có các đoạn cua với bán kính đủ rộng để có thể đặt đường ray xe lửa khi việc thi công diễn ra.

Đồng thời, những quan sát, thí nghiệm, nghiên cứu và thi công lắp đặt tiếp tục trên cao nguyên. Sau bốn năm quan trắc nghiêm túc với nhiệt kế, áp kế, vũ kế…, việc lưu trú của nhiều người Pháp tại đây đã chứng tỏ khí hậu hoàn hảo của Lâm Viên gần giống như khí hậu của miền nam châu Âu. Người ta tìm ra những nguồn nước sạch có chất lượng tốt ở đây, và việc thu dẫn phân phối nước được nghiên cứu. Những thử nghiệm trồng trọt và chăn nuôi được tiếp tục và mở rộng. Những ngôi nhà tiện nghi được xây lên; các thác nước được nắn dòng chảy và sử dụng để xây dựng một nhà máy cần thiết cho các công việc xây dựng khu nghỉ dưỡng… Khi tuyến đường sắt đi Lâm Viên được hoàn tất, khu nghỉ dưỡng sẽ chỉ cách Sài Gòn khoảng 340-400 cây số tùy theo tuyến đường chính thức được chọn, hay nói cách khác là khoảng 10 tiếng hành trình. Ngoài doanh trại và các cơ quan công vụ được thiết lập lâu dài tại Lâm Viên, các cư dân Pháp tại thuộc địa và các công chức có thể dễ dàng tới đây nghỉ ngơi cũng như đưa gia đình của họ tới đây và để con cái họ được giáo dục tại đây”.

Để khép lại bài giới thiệu này, thay đoạn kết người viết xin dẫn lời ngài Jean-Noel Poirier – Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền nước Cộng hòa Pháp tại Việt Nam trong lời tựa cuốn Hồi ký “Xứ Đông Dương”: “Tôi rất lấy làm sung sướng về việc Alpha Book cho dịch ra tiếng Việt và ấn hành cuốn Hồi ký “Xứ Đông Dương”. Nói theo tâm linh của người Việt Nam, chắc chắn ông Doumer sẽ ngậm cười nơi chín suối vì cuốn hồi ký của ông được trở lại Việt Nam vào thời điểm mà quan hệ Pháp – Việt đang có những bước phát triển mới đầy hứa hẹn. Tôi cũng tin tưởng rằng độc giả Việt Nam không những không thất vọng khi có cuốn sách trên tay mà còn tận hưởng những giây phút tuyệt vời bên những trang sách của Paul Doumer, hiểu thêm về lịch sử Việt Nam qua một góc nhìn khác lạ hơn, góc nhìn của một nhân vật vĩ đại của nước Pháp…”.

Phạm Hoàng Thanh

(Nguồn : baolamdong.vn)

 

 

 

 

 

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: