//
you're reading...
Biên Khảo, Nhân vật, Võ Hương An, Về Huế, về Lịch Sử

Huyền thoại bến Văn Lâu * Võ Hương An

 

 

Học giả Thái Văn Kiểm , trong cuốn Cố đô Huế, đã viết về hai danh thắng Trường Tiền và Phu Văn Lâu với rất nhiều nét lịch sử đầy thơ mộng:

“Rồi đến sáu vài cầu Trường Tiền, vươn mình trên dải sông Hương trong vắt, nơi hẹn hò của bao trai thanh gái lịch:

Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp,
Anh qua không kịp, tội lắm em ơi!
Bấy lâu ni chịu tiếng mang lời,
Dẫu có xa nhau đi nữa, cũng bởi ông Trời mà ra!

“Cầu này bị bao phen nước cuốn hoặc bị chiến tranh tàn phá, chứng kiến và đau lòng trước bao cảnh hưng vong của lịch sử cận đại. Con thuyền trôi dưới cầu tuy có vẻ mơ màng vô định, nhưng nó cũng có thể chở một Trần Cao Vân giả ngồi câu cá, để cùng vua Duy Tân bàn việc phục quốc chống xâm lăng (1916):

Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm?
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông?
Thuyền ai lấp ló (thấp thoáng?) bên sông,
Nghe câu mái đẩy, chạnh lòng nước non!
( Cố Đô Huế, tr.3-4)

Đáng tiếc là sự thật lịch sử thường không đi đôi với tưởng tượng của thơ văn, nhưng thơ văn dễ đi vào lòng người đọc, tạo nên ảo tưởng rằng đấy chính là sự thật lịch sử. Chẳng hạn như, không có chuyện nhà cách mạng Trần Cao Vân giả làm người câu cá để hẹn gặp vua Duy Tân ở bến Phu Văn Lâu rồi cả hai cùng chung một con thuyền lênh đênh trên sông Hương qua lại dưới cầu Trường Tiền để bàn quốc sự. Câu hò mái nhì — Chiều chiều trước bến Văn Lâu…– mà hầu như người Huế nào cũng thuộc ít nhiều, có người thuộc đến độ không biết tác giả là ai, cứ tưởng rằng đó là một câu hát dân gian, lấy lịch sử làm đề tài, thuộc loại văn chương bình dân. Sự thật, câu hò mà Hương Giang Thái Văn Kiểm trích dẫn ở trên là một tác phẩm thuộc loại văn chương bác học có sức phổ cập sâu rộng đến nỗi hóa thân thành sản phẩm dân gian lúc nào không hay. Nó là tác phẩm của thi ông Ưng Bình Thúc Giạ Thị, thân phụ của nữ sĩ Hỷ Khương… Câu hò mái nhì đầy truyền cảm ấy đã khoác cho bến Phu Văn Lâu một hào quang lịch sử lãng mạn mà hào hùng qua cuộc gặp gỡ giữa nhà vua trẻ yêu nước Duy Tân và nhà cách mạng Trần Cao Vân vào những năm Pháp thuộc hồi đầu thế kỷ XX, làm cho mọi người dễ trộn lẫn thực với mộng, không biết rằng nhà văn nhà thơ có quyền đưa trí tưởng tượng dạo chơi xa ngoài biên giới thực tế.

 

Một chút lịch sử

Có một sự thật lịch sử là: đêm mồng 3 sáng ngày 4 tháng 5 năm 1916, vua Duy Tân (trị vì từ 1907-1916), lúc đó mới 16 tuổi, đã bí mật xuất cung cùng các bầy tôi thân tín (Nguyễn Quang Siêu tức Đội Siêu và Thị vệ Tôn Thất Đề) để gặp hai nhà cách mạng Trần Cao Vân và Thái Phiên tại bến Thương Bạc, tham gia cuộc binh biến lật đổ sự bảo hộ của Pháp. Vì người Pháp đã nắm được tin tức về âm mưu binh biến từ Quảng Nam, đã có kế hoạch đề phòng cẩn thận trên các tỉnh Trung kỳ, nhất là ở Huế; thêm vào đó, cuộc xuất cung bí mật của vua Duy Tân bị Phán Trứ (Trần Quang Trứ, Phán sự tại Tòa Khâm sứ Huế) biết được, đã phản bội báo ngay với Pháp. Cuộc binh biến không thành, vua bị bắt và bị đày sang đảo Réunion cùng với Phụ hoàng Thành Thái (bị Pháp truất phế năm 1907 và an trí ở Ô-Cấp). Các nhà lãnh đạo và những người trực tiếp tham gia âm mưu binh biến phải đem thân đền nợ nước tại bãi chém An Hòa ở phía tây bắc kinh thành Huế.

Thuật lại cuộc binh biến này, các sách, sử và các tài liệu chỉ giống nhau trong đại thể, qua những nét căn bản vừa nói, ngoài ra, rất khác nhau trong chi tiết, thậm chí mâu thuẫn. Ví dụ, tài liệu của Việt Nam thì nói khi vua ra bến Thương Bạc để được Thái Phiên và Trần Cao Vân bí mật rước đi, thì đã có mặt Phán Trứ ở đấy, trong khi tài liệu của Mật thám Pháp thì lại nói Phán Trứ đã gặp vua và những người cầm đầu trên một con đò đậu trên sông Phú Cam (An Cựu) gần sông Hương. Tác giả Hoàng Trọng Thược đã bỏ công sưu khảo tìm tòi tài liệu và phỏng vấn nhân chứng để xây dựng nên tác phẩm Hồ sơ vua Duy Tân (Thân thế và sự nghiệp), khá đầy đủ chứng liệu, qua đó, người đọc sẽ tự thẩm định sự thật ở chỗ nào.

 

Lần theo dấu vết

Gặp được vua đã là khó, gặp được một ông vua đang bị tai mắt người Pháp dòm ngó ngày đêm lại càng khó hơn, nói chi đến việc thuyết phục vua tham gia đại sự. Vậy mà hai ông Thái Phiên và Trần Cao Vân đã làm được. Các ông đã cài được ba người tin cẩn cùng chí hướng thường xuyên ở cạnh vua, đó là tài xế Phạm Hữu Khánh, Đội Siêu (Đội trưởng Thân binh thuộc Thị Vệ Xứ) và Thị vệ Tôn Thất Đề.

Chính qua tài xế Phạm Hữu Khánh, Trần Cao Vân đã gởi được lá thư tâm huyết đến tận tay vua, thuyết phục vua làm cách mạng. Lá thư quả thực đã có hiệu quả tích cực khiến vua muốn gặp ngay những người lãnh đạo. Trong việc thu xếp những cuộc gặp gỡ bí mật này — phải gặp thế nào mà tai mắt người Pháp đặt quanh vua không hay biết – hiển nhiên Đội Siêu và Thị vệ Tôn Thất Đề phải đóng vai trò quan trọng. Vấn đề là gặp ở đâu?

Phải chăng là bến Phu Văn Lâu như Hương Giang đã dẫn qua câu hò mái đẩy trữ tình, và nhiều người cũng đã tin như thế?

Hay là hồ Tịnh Tâm trong Thành Nội như tôi đã từng nghe thầy tôi kể chuyện khi dẫn học trò du ngoạn Tịnh Tâm, hồi còn thò lò mũi xanh học Tiểu học (cấp 1)? Hay là một nơi nào khác?

Sử gia Phạm Văn Sơn trong cuốn Việt Sử Toàn Thư (ấn bản điện tử PDF files), không biết trích thuật từ nguồn tài liệu nào, đã mạnh dạn viết rằng:

“Nhà vua đọc thư cảm động vô cùng. Ngài yêu cầu trực tiếp với người viết thư. Ông Trần Cao Vân bèn bàn với ông Thái Phiên và ông Phan Thanh Tài tìm đến Ngài. Theo kế hoạch, ngày 12 tháng 3 âm lịch (1916) [ Chủ nhật, 25/4], vua ngự xem tập lính ở bãi Trường Thi. Sau khi duyệt binh qua loa cho xong chuyện, vua đi chơi hóng mát dọc theo con sông đào gần đó. Đến một nơi bên bờ sông dưới gốc cây, vua thấy ông Trần Cao Vân và ông Thái Phiên xách giỏ ôm cần câu ngồi đợi sẵn từ lâu. Sau khi hỏi qua công việc, nhà vua định ngày mồng 1 tháng 4 (3/5/1916) khởi sự và xin chia phần việc, Trần Cao Vân ngần ngại, song vì nhà vua nài nỉ mãi nên Vân bèn ưng cho.
(Việt Sử Toàn thư, tr.479)

Là người địa phương, tôi có thể hiểu đúng những điều sử gia họ Phạm ghi nhận. Trường Thi nói ở đây là khu vực thuộc phường Tây Lộc bây giờ, nằm về phía tây bắc trong Thành Nội, bên kia cống Vĩnh Lợi, trên đường ra cửa An Hòa. Như vậy, “con sông đào gần đó” chính là Ngự Hà chứ không thể một sông nào khác (xem bản đồ)

Vậy theo Phạm Văn Sơn, vua Duy Tân đã gặp hai ông Trần Cao Vân và Thái Phiên tại sông đào Ngự Hà trong Thành Nội.

Bấy giờ, Thế chiến thứ I (1914-1918) đang diễn ra dữ dội ở trời Âu. Pháp đang yếu thế trước sức tấn công của Đức, phải động viên đến nhân lực và tài lực của thuộc địa để cứu mẫu quốc. Hai ngàn tân binh Việt Nam tình nguyện đang tập trung ở Huế để chờ phương tiện sang Pháp (đây cũng chính là lực lượng mà hai ông Phiên và Vân muốn lợi dụng để làm binh biến). Vậy thì việc vua ngự xem tập lính không có chi lạ. Tuy nhiên, dù là có “duyệt binh qua loa”, đã có vua tới dự thì ít nhiều cũng là nghi lễ, nghĩa là đi theo hầu vua phải có nhiều người, thế mà vua dám gặp một lúc hai lãnh tụ để bàn đại sự, nghe sao không ổn. Nếu quả thật có cuộc xếp đặt như thế thì chẳng có gì gọi là mưu trí cả.

Trong Lô Giang tiểu sử , hồi ký viết bằng chữ Nho của cụ Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại, lúc bấy giờ là Tuần vũ Quảng Trị, được vua Duy Tân tiếp kiến non 10 ngày trước khi biến cố xảy ra, có ghi nhận rằng:

“Bọn nội thị [người hầu cận] lại mưu cùng Vân mỗi chiều vua ra hồ câu cá để giải trí thì Trần Cao Vân được gặp.” (tr.158)

Vậy thì nơi gặp gỡ là chỗ câu cá trong hồ chứ không phải trên sông đào. Vậy hồ nào? Tịnh Tâm chăng?

Phúc trình của Mật thám Pháp về vụ xuất cung tham gia binh biến của vua Duy Tân mà tác giả Hoàng Trọng Thược trích dẫn lại trong sách, hoàn toàn không đề cập nơi gặp gỡ tiền khởi nghĩa mà chỉ nói đến lần gặp gỡ sau cùng vào đêm 3/5/1916 trên một con thuyền đậu trên sông Phủ Cam (An Cựu) gần sông Hương (Hồ sơ vua Duy Tân tr.165-169).

Đêm đó, khoảng 11 giờ, vua cùng các bầy tôi thân tín ra khỏi Đại Nội và Kinh thành (Thành Nội), đến bến Thương Bạc trước cửa Thượng Tứ, theo ước hẹn, có thuyền của Thái Phiên và Trần Cao Vân chực sẵn rước đi. Thuyền theo sông An Cựu về Hà Trung, khi thấy cơ mưu bại lộ, họ đưa vua lên bộ, tính đường vào Quảng Nam. Khi đoàn tạm nghỉ tại nhà một người dân (được thết cơm gà) gần Nam Giao thì bị phát hiện và bị bắt. Hôm đó là sáng ngày 6/5/1916.

Mật thám Pháp không quan tâm tới nơi gặp gỡ tiền khởi nghĩa nên không đề cập. Chỉ có tài liệu của triều đình Huế nói rõ địa điểm, đó là bản án triều đình kết tội hai nhà ái quốc về tội:

“Thủy nhi Hậu Hồ thùy điếu, thiện tả chiếu văn, nhi Thương Bạc đình thuyền, yêu nghinh Thánh giá. Hà Trung mạch phạn, Ngũ Phong kê thang, Thánh thể phong trần, giai bỉ bối vi chi tội nghiệt.”

“Nghĩa là: Ban đầu buông câu ở Hậu Hồ, chuyên quyền tả lời chiếu, kế đến đậu thuyền ở bến Thương Bạc, đón rước nhà vua. Thết vua cơm nếp làng Hà Trung, cháo gà núi Ngũ Phong, mình rồng phải chịu dãi dầu gió bụi, tội nghiệt ấy đều do bọn kia gây ra cả.”
(Hồ sơ vua Duy Tân,tr.161-162)

Về sau, có hai tác giả khác, khi viết về vụ vua Duy Tân cũng có nói tới Hậu Hồ. Đó là Lương Vĩnh Thuật và Lệ Vân (*), tiếc thay, người ta ít để ý mà chỉ thích nói đến Phu Văn Lâu hoặc Tịnh Tâm.

 

Hậu Hồ ở mô?

Tác giả Hoàng Trọng Thược đã chú thích về Hậu Hồ như sau:

“(3) Theo cụ Ưng An (220/166 Trương Minh Giảng, Saigon) thì Hậu Hồ là một cái hồ ở ngay phía sau điện Kiến Trung (nơi vua ở) thông ra con sông nhỏ bên ngoài Thành Nội bằng cái cống nhỏ mà một chiếc xuồng nan có thể chui qua lọt. Có lẽ hai cụ Thái Phiên và Trần Cao Vân đã dùng loại xuồng nan ấy giả đi câu cá rồi cho xuồng đi qua cống nói trên để lọt vào Hậu Hồ gặp vua.”
( Hồ sơ vua Duy Tân, tr.140)

Trong một cuộc phỏng vấn trước 1975, bà Hoàng phi Mai Thị Vàng, vợ cũ của vua Duy Tân, có kể lại:

“Vào khoảng tháng 4/1916, thỉnh thoảng bà phi thấy một ông già vào câu cá ở Hậu Hồ sau điện Kiến Trung [VHA nhấn mạnh], bà hỏi Ngài sao lại để cho người lạ vào câu như thế, thì Ngài bảo rằng người ta nghèo. Để cho người ta vào câu kiếm ăn, cũng chẳng sao. Về sau bà mới biết đó chính là nhà cách mạng Trần Cao Vân giả dạng ông câu để bí mật vào gặp Ngài.”
(Hồ sơ Vua Duy Tân, p.83)

Vậy thì vấn đề coi như đã rất sáng tỏ: những cuộc tiếp xúc bí mật của vua Duy Tân và Trần Cao Vân đã diễn ra tại Hậu Hồ sau lưng điên Kiến Trung trong Đại Nội (Hoàng thành), chứ chẳng phải hồ Tịnh Tâm, sông đào Ngự Hà, bến Phu Văn Lâu hay một nơi nào khác.

Người Huế, nếu không có dịp vào Đại Nội và Tử Cấm thành thì không thể nào biết đến Hậu Hồ và điện Kiến Trung ở nơi nào. Do đó, nếu có sự suy diễn tam sao thất bản thì cũng không có gì lạ. Như đã có trình bày trong bài viết Chuyện cung đình nghe kể lại (**), vì cha tôi là Thị vệ dưới hai triều Khải Định và Bảo Đại, thuở nhỏ, tôi có dịp vô ra Đại Nội và Tử Cấm Thành, có biết Hậu Hồ ở đâu vì đã từng theo xem mấy ông Thị vệ khi không có phiên trực, ra câu cá ở đó giải trí. Xin xem bản đồ in kèm bài viết để thấy rõ hơn những điều trình bày:

-A: là điện Kiến Trung, nơi vua ở, nằm bên trong Tử Cấm thành;

-B: là Hậu Hồ, nằm sau điện Kiến Trung, ngoài Tử Cấm thành nhưng ở bên trong Đại Nội.

-C: cửa Hòa Bình, một trong 4 cửa của Đại Nội, nằm về phía sau, mặt bắc.

Thu xếp những cuộc gặp gỡ bí mật ở Hậu Hồ quả thật an toàn, kín đáo và tự nhiên. Nhờ vậy tai mắt của Pháp không để ý vì không ngờ đến. Sau lưng điện Kiến Trung có hai cửa Tường Loan [1] và Nghi Phụng [2] để vô ra Tử Cấm Thành. Một khi Trần Cao Vân giả trang thành ông già đi câu và được đưa lọt vào Hậu Hồ thì vua Duy Tân chỉ việc thả bộ tà tà ra khỏi cửa Nghi Phụng (bên trái, hướng bắc-nam), làm như đi dạo mát, với bộ hạ thân tín có nhiệm vụ cảnh giới và bảo vệ, thì cuộc gặp mới thật là an toàn và bí mật.

 

1

 

Ở đây cũng xin có vài ý kiến bên lề về các nguồn thông tin đã dẫn.

Trong cuộc phỏng vấn, bà Phi (Mai Thị Vàng), vợ cũ vua Duy Tân, có kể rằng, “Vua và bà Phi ở tại điện Kiến Trung, vua ở căn tả, bà phi ở căn hữu, còn căn giữa để thờ Đức Thánh Trần” (Sđd, tr.81 ) và khi ở điện Kiến Trung, có thấy ông già vào câu cá ở Hậu Hồ, về sau mới biết là Trần Cao Vân.

Sự thật, bà và vua không bao giờ ở điện Kiến Trung, mà là ở lầu Du Cửu, chỗ xây điện Kiến Trung về sau. Có lẽ vì lầu Du Cửu không còn nữa nên người kể và người ghi lại đều nói về điện Kiến Trung cho dễ hiểu.

Nguyên lầu này được xây ngay trên vị trí của lầu Minh Viễn ngày trước, trong khu Tử Cấm thành. Ngày 4/7/1915, làm lễ đặt viên đá đầu tiên và ngày 31/12/1915 làm lễ khánh thành, vua Duy Tân đặt tên là lầu Du Cửu. Lầu xây theo đồ án của kiến trúc sư Auclair, hội viên Hội Đô thành Hiếu cổ (Association des Amis du Vieux Hue)

Đó là ngôi nhà một tầng, xây bằng vật liệu mới với tiện nghi mới (điện, nước, phòng tắm), làm chỗ ở cho vua Duy Tân (1907-1916) Có lẽ ngôi nhà cũng không lớn lắm, nên “vua ở căn tả, bà phi ở căn hữu, còn căn giữa thờ Đức Thánh Trần” như bà đã kể. Công tác xây cất chỉ kéo dài trong 4 tháng là xong. Nhân dịp xây lầu này, cửa Tường Loan, là cửa trổ ra phía bắc của Tử Cấm thành được xây lại, cùng kiểu nhưng mở rộng ra cho xe hơi có thể vào ra đến tận thềm của lầu Du Cửu, tiện cho vua lên xuống xe. (BAVH, No1, 1916)

 

2

Toàn cảnh điện Kiến Trung

 

Đời Khải Định (1916-1925), điện Kiến Trung mới được xây tại vị trí này, to lớn hơn nhiều. Có lẽ khi xây điện Kiến Trung, vua đã cho phá bỏ lầu Du Cửu hoặc tân trang to rộng và đẹp đẽ hơn theo khiếu thẩm mỹ của vua. Xem hình điện Kiến Trung thì bạn đọc cũng có thể nhận ra rằng với một tòa lâu đài to lớn như thế mà vua ở căn tả, bà phi ở căn hữu, còn căn giữa để thờ Đức Thánh Trần thì nghe vô lý quá!

Bây giờ thử bàn qua về việc Trần Cao Vân đã làm cách nào lọt vào Hậu Hồ, giả dạng câu cá để gặp vua Duy Tân. Hậu Hồ trong Đại Nội có cống thông với hồ Kim Thủy là cái hồ bao bọc quanh Đại Nội. Hồ Kim Thủy lại có cống thông với sông đào Ngự Hà, (và sông này lại thông với nước sông Hương qua sông Kẻ Vạn và Đông Ba). Thời niên thiếu, vào mùa mưa lụt ở Huế, tôi đã từng theo xem mấy người trong xóm đi cất rớ tại các cống này vì cả hai cống đều ở trên đường Hòa Bình (nay là Đặng Thái Thân), gần nhà. Như đã dẫn, cụ Ưng An biết vị trí Hậu Hồ và biết hồ “thông ra con sông nhỏ bên ngoài thành Nội bằng cái cống nhỏ mà một chiếc xuồng nan có thể chui qua lọt”, từ đó suy đoán rằng hai ông Thái Phiên và Trần Cao Vân có thể đã dùng xuồng nan đi xuyên qua cống để bí mật vào hồ.

Giả thuyết này mới nghe qua có vẻ hữu lý nhưng không ổn khi đã biết thực địa. Thứ nhất, cái cống ngầm thông nước Hậu Hồ và hồ Kim Thủy dài cũng non 200m, hầu như chưa ai thám hiểm để biết đường đi như thế nào, liệu Đội Siêu và Thị vệ Tôn Thất Đề có dám đem cụ Trần ra làm người thám hiểm không? Nếu liều mà đi, cụ Trần có thể chết ngạt nửa đường. Mặt khác, nếu như lọt được vào Hậu Hồ, có thể bị lính Khố vàng bắt gặp và xét hỏi, sẽ lôi thôi to chuyện ngay. Vì vậy, tôi nghĩ đến một giả thuyết khác: chính Đội Siêu hoặc Thị vệ Tôn Thất Đề đã dựa vào chức vụ và sự quen biết với lính Khố vàng gác cửa để đưa Trần Cao Vân – như là một thân nhân lớn tuổi — đường hoàng qua cửa Hòa Bình vào câu cá ở Hậu Hồ, đã chỉ nơi thuận tiện để nhà cách mạng ngồi câu và đợi vua ra. Trên bờ Hậu Hồ có nhiều chỗ cây cao bóng mát, rất thích hợp cho việc ngồi buông câu , tự nhiên và kín đáo.

 

3

Cửa Hòa Bình (ngoài nhìn vào)

 

4

Cửa Hòa Bình bên trong nhìn ra với Hậu hồ bên phải và bên trái

 

Ở đây, một câu hỏi khác có thể được đặt ra: cụ Thúc Giạ, tác giả câu hò mái nhì nổi tiếng, Chiều chiều trước bến Văn Lâu …, là người làm quan đương thời, chả lẽ không biết rõ vụ vua Duy Tân xuất cung chống Pháp hay sao mà lại viết về bến Văn Lâu, thay vì Hậu Hồ hay Thương Bạc?

Theo thiển ý, cụ dư biết, nhưng nói ra sự thật thì “động thời văn”, cho nên mượn lời bóng bẩy gởi gắm tâm tình. Nhân bến Thương Bạc ở cùng một phía và không xa Phu Văn Lâu bao nhiêu nên nhà thơ mượn Phu Văn Lâu để ký thác tâm sự cho đặng thoải mái mà khỏi lo “động thời văn”. Phu Văn Lâu trong câu hò là hình ảnh phóng chiếu của một Hậu Hồ ra khỏi cái bóng âm u của Hoàng thành, mở ra một chân trời tưởng nhớ bát ngát, mênh mông. Phu Văn Lâu cũng có thể là sự nhắc khéo về một Thương Bạc gần đó, nơi một đêm kia có đấng quân vương trẻ đã dám coi nhẹ chiếc ngai vàng khi cất bước xuống thuyền, ra đi cứu nước cùng hai nhà cách mạng họ Trần họ Thái. Có lẽ hiểu như thế thì không phụ lòng tác giả câu hò tiếng tăm của bến Văn Lâu đã gắn liền với Huế và đã đi vào văn học.

Võ Hương An (12/2007)

 

(*) Hành Sơn Lương Vĩnh Thuật, Cụ Trần Cao Vân. Minh Tân, Paris, 1952) do Hoàng Trọng Thược trích thuật trong sách đã dẫn, tr.139/140 Lệ Vân, Một Hoàng Phi buồn, Tiếng Sông Hương, 1997, tr.143

(**) Võ Văn Dật, Vua Khải Định, hình ảnh và sự kiện, Nam Việt, California, 2007, tr.205-221

 

Tài liệu tham khảo

-Thái Văn Kiểm, Cố đô Huế, Nha Văn Hoá Bộ QGGD, Saigon, 1960, bản in lại ở Mỹ không đề năm

-Hoàng Trọng Thược, Hồ sơ vua Duy Tân, nxb.Mõ Làng, 2nd Edition, California, 1993

-Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại, Lô Giang Tiểu sử, bản dịch của Nguyễn Hy Xước, bản in ronéo, lưu hành gia đình.

-Phạm Văn Sơn, Việt Sử Toàn thư, ấn bản điện tử. -Võ Văn Dật, Vua Khải Định, Hình ảnh và sự kiện, Nam Việt, California, 2007

 

(Nguồn : Tác giả gửi)

***** Bạn đọc nếu quan tâm đến những đề tài về Huế của cùng tác giả, hãy nhấp chuột vào “Võ Hương An” nằm bên trên tựa bài đọc, bạn sẽ được dẫn ngay vào tủ sách của tác giả.

 

 

 

 

 

 

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: