//
you're reading...
Bút ký, Chiến Tranh, Dịch Thuật, Giải Cứu Huế Mậu Thân, Triệu Phong, Về Huế, về Lịch Sử

Giải cứu Huế Tết Mậu Thân (13) * Triệu Phong chuyển ngữ

 

 

CHƯƠNG CHÍN

 

Tường Trình Trực Tiếp Từ Huế

 

Tránh né rắc rối là cách hành xử hay nhất trong quan hệ giữa giới quân sự ở Việt Nam với báo chí. Mặc dầu không có luật lệ rõ ràng qui định về mối tương giao với nhà báo nhưng phe nhà binh ngầm chủ trương một câu trả lời nhất loạt khi bị phỏng vấn là ‘không có ý kiến’ (no comment). Cũng dễ hiểu thôi, phe nhà binh càng ngày càng thấy khó chịu về ngòi bút vặn vẹo của báo chí một khi họ đang phải đương đầu với cuộc chiến ngày càng khốc liệt hơn; những đoán già đoán non của nhà báo về các ý định của giới quân sự làm họ phải bị chùn bước. Các vị đơn vị trưởng chỉ vui lòng cho báo chí đi theo cuộc hành quân hay tham dự họp báo khi nào tình hình thuận tiện.

Với những cuộc chiến tranh trước đây, nhà báo và giới quân sự hay chính trị gia gần như là một. Sự chung sống hòa bình ấy không còn nữa trong cuộc chiến tranh Việt Nam vì hồi này giới báo chí đến xứ sở này quá nhiều, cả thành phần uy tín lẫn thành phần nói láo ăn tiền. Giữ bí mật quân sự về một kế hoạch hành quân nào đó là điều khó thực hiện nếu không muốn nói là không thể làm được.

Không biết nhà báo trong những cuộc chiến tranh khác ra sao chứ ở Việt Nam, đặc phái viên, chuyên viên thu hình hay nhiếp ảnh gia đều rất trẻ. Tôi từng thấy một sĩ quan tuổi ngoài bốn mươi, cấp bậc đại tá mè nheo một phóng viên tóc dài, râu để bờm xờm tuổi chỉ mới hai mươi, rằng chừng nào anh ta mới chịu hớt cái ‘ổ quạ ấy đi’. Cái hố ngăn cách về cảm thông ấy quả là lớn nơi các sĩ quan cao cấp, nhưng ở các chiến binh trẻ thì không có.

Tuy còn trẻ nhưng các phái viên tuờng thuật trận đánh tại Huế rất xuất sắc. Mỗi ngày tin cập nhật đến với công chúng Hoa Kỳ nóng sốt không che giấu điều gì, khiến dư luận càng vững tin rằng quân Mỹ đang tham chiến không đúng nơi không đúng lúc. Giới làm báo len lỏi vào ra các nơi giao tranh đôi khi phe nhà binh cũng không ngờ có sự hiện diện của họ, đến độ các quân nhân phải ngạc nhiên rằng có những nơi họ chưa đến được mà nhà báo đã đến rồi.

Đến ngày 4 tháng Hai đã có ít nhất 50 nhà báo hiện diện khắp khu vực Hữu Ngạn cùng với TQLC Hoa Kỳ. Trước khi chiến dịch giải cứu Huế chấm dứt ba tuần sau đó, con số này đã lên đến 150; có nhiều người bay đến rồi đi trong ngày mang theo nhiều chuyện để viết, trong đó có Walter Cronkite bình luận gia đài truyền hình CBS. Nhiều người liều thân ở lại đến giờ phút cuối cùng để săn tin nóng sốt. Có nhiều trường hợp sự gan dạ của họ không thua gì ngưới lính. Làm báo cũng có hai hạng, hạng xông pha ra trận địa, có hạng nằm ở hậu tuyến nghe ngóng lấy tin (front-line and rear-echelon types). Hạng đi theo các cuộc hành quân cho đến khi chấm dứt trận đánh được hân hạnh mang danh thông tín viên tiền tuyến (combat correspondent); họ khinh nhờn hạng phóng viên chỉ biết ngồi trong phòng có máy lạnh tại thủ đô Sài Gòn để viết tin.

*

Thông tín viên kỳ cựu George McArthur vào nghề nhà báo từ cuộc chiến Triều Tiên, sau đó chuyển qua tường thuật về cuộc chiến tranh Việt Nam suốt mười năm mãi cho đến ngày cuối cùng của Sài Gòn năm 1975. Ông bay đến Huế ngày 3 tháng Hai với tư cách là Trưởng Phòng Báo Chí cho Thông Tấn Xã AP và ở lại cho đến khi trận đánh Huế chấm dứt. McArthur người thẳng tính và nóng nảy, ông dễ nổi sùng với đám viết báo ngồi tại văn phòng, kể cả những nhà truyền thông nổi danh. Ông không nể nang một ai kể cả Cronkite là người tạo được sự tín nhiệm của khán thính giả Hoa Kỳ như là người tường thuật tin trung thực nhất. Trong một cuộc phỏng vấn nhiều năm sau khi chiến tranh kết thúc, McArthur phát biểu như sau:

‘Tôi không coi Cronkite là người hùng. Khi thu hình tường thuật cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, ông đứng trên sân thượng cơ quan MACV đội nón sắt mặc áo giáp trong khi tôi đang đứng đó phơi áo quần đầu trần thân trụi.’

Cronkite từ Sài Gòn bay ra Huế hôm 10 tháng Hai, lúc ấy tôi đã vào Thành Nội rồi nên không có dịp thấy ông ta làm việc. Ông ta cho thu hình kỹ lưỡng rồi bay về Mỹ. Một tháng sau, Cronkite bước ra khỏi vị thế vô tư của nhà truyền thông để buông lời bình phẩm cho Hoa Kỳ là điên rồ khi dính líu đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông phát biểu trước một lượng khán giả truyền hình khoảng 9 triệu người, rằng Hoa Kỳ đã ‘sa vào ngỏ bí’ (mired in stalemate) ở Việt Nam, một cuộc chiến mà họ không thể nào chiến thắng được.

Lối dùng chữ trau chuốt điêu luyện của Cronkite làm công luận Mỹ vốn đã vỡ mộng và ngày càng chán ngán cuộc chiến, nay càng thêm xúc động.

“Chúng ta đã thất vọng quá nhiều về sự lạc quan của giới lãnh đạo Hoa Kỳ đến nỗi không thể còn tin vào chuyện trên mây của họ nữa,” Cronkite phát biểu như thế trước khán giả toàn quốc Hoa Kỳ trong đó có cả Tổng Thống Lyndon B. Johnson. “Bây giờ cách rút ra hợp lý nhất là thương thuyết, không phải với tư cách của kẻ chiến thắng mà với tư cách của con người danh dự đã từng sống chết với lời cam kết bảo vệ nền dân chủ, và đã làm hết sức mình rồi.”

Buổi truyền thanh ấy rồi ra cũng đạt được điểm son là đã thuyết phục được công luận Hoa Kỳ và nhất là TT Johnson chấp nhận từ bỏ cuộc chiến.

 

8

Bình luận gia Walter Cronkite trong studio đài truyền hình CBS. (academics.wellesley.edu)

 

Trong khi đó sự đánh giá của McArthur về lần xuất hiện của Cronkite ở Huế được giới truyền thông chia sẻ, coi nhẹ về sự trung thực của con người này. Cronkite từng là phái viên lừng danh của UPI hồi Đệ Nhị Thế Chiến khi cùng đổ bộ lên Bắc Phi và Normandy với quân đội Đồng Minh. Ông cũng từng nhảy vào Hòa Lan với quân Dù của SĐ 101. Ông tự cho mình là phóng viên nhà báo chỉ biết xông pha để lượm tin chứ không ngồi một chỗ để làm tin. Trong chiến tranh Việt Nam mặc dù Cronkite không hiện diện ở đó thường xuyên bằng các đồng nghiệp khác nhưng ông cũng xoay sở để có bài tường thuật đều đặn.

2

Walter Cronkite phỏng vấn Tr/tá Mark Gravel qua chương trình tường trình trực tiếp trận Mậu Thân tại Huế. (USNA&RA)

 

Ở Huế giới truyền thông được tự do tuyệt đối muốn đi đâu thì đi, muốn viết gì thì viết. Và vì họ quá đông nên không thể nào có thể giám sát họ được. Họ như ma cà bông hết quá giang quân xa lại xin đi nhờ trực thăng để đi đó đi đây. Thường xuyên xuất hiện nơi gió cát sa trường, họ ăn đồ lính ăn, ngủ chỗ lính ngủ và cũng chịu đựng gian khổ như người lính.

Nhiều lúc ở Huế sự hiện diện của họ chỉ gây thêm phiền toái.

*

“Trời đất ơi tụi dân sự này là ai thế?” Cố Vấn Trưởng Đ/tá Adkisson gầm gừ lúc mới thấy họ ngày đầu tiên.

“Họ là nhà báo đó Đại Tá.” Tôi đáp.

“Được rồi bảo với họ tránh đi nơi khác. Anh lấy tên của họ cho tôi,” Adkisson ra lệnh. “Tôi muốn biết tất cả bọn họ là ai với ai và để xem họ có nên ở nán lại đây không.”

Tôi mang sổ tay ra đưa cho họ ghi tên vào. Nào là nhà văn, nhiếp ảnh gia, người làm truyền thanh truyền hình ôi thôi thì đủ loại, dĩ nhiên là tôi vẫn để sót rất nhiều.

Cạnh tranh nghề nghiệp trong giới săn tin săn hình cũng rất mãnh liệt và nhiều người tỏ ra thật can đảm. Có lúc họ lăn xả ra làm công việc khiêng tải thương binh hoặc làm cả sứ giả đưa tin nữa. Có người phụ khiêng đạn tiếp tế ra nơi chiến địa, có người cũng cầm súng bắn bừa vào địch quân.

Một trong những thông tín viên tôi ngưỡng mộ nhất là Mike Morrow. Anh là nhà báo độc lập (freelancer) vì tò mò đã bỏ ngang lớp ở Đại Học Dartmouth để sang Việt Nam xem cuộc chiến nó ra làm sao. Anh có bộ râu quai màu đỏ, di chuyển không ngừng khắp đất nước, nhảy từ đơn vị này sang đơn vị khác. Anh đến Huế từ sớm và ở lại đến khi tàn trận đánh. Một con người trẻ tuổi với cảm quan lạ thường. Không bao giờ anh công khai tỏ thái độ bất kính với quân đội, ngược lại nữa là khác. Cũng như đa số đồng nghiệp khác, anh không thể không kinh ngạc trước sự quả cảm của các binh sĩ Hoa Kỳ và Miền Nam trong cuộc chiến dã man này. Anh ta và tôi từng thảo luận hằng đêm về những lập luận chống đối hay tán đồng về sự tham chiến của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh phức tạp và gây nhiều tranh cãi nhất này.

Nhiều cây viết ví von chiến tranh VN là ‘chiến tranh phòng khách’ (living room war) mà đúng vậy. Ba hệ thống truyền hình Mỹ đều có mặt ở Huế từ ngày 2 tháng Hai, những hình ảnh thu được lập tức được phát hình ngay tại Hoa Kỳ trong cùng ngày đó; ngồi tại phòng khách nhà mình dân chúng Mỹ có thể nhìn thấy được những gì đang xảy ra ở bên kia trái đất mà phần lớn nội dung đều có tính cách bất lợi cho cuộc chiến.

Một số đơn vị chiến đấu đôi khi bị chậm trễ về tiếp liệu và viện binh, nhưng bên báo chí họ không bị trở ngại trong việc chuyển tin và đưa phim ảnh ra khỏi vùng chiến địa. Tiềm lực năng động của họ thực đáng phục.

Trong mới vài hôm đầu tiên, CBS đã có 3 toán thu hình đến Huế, trong khi NBC và ABC mỗi đài có một toán. Cuộc chiến càng khốc liệt họ càng đến nhiều hơn; cuối cùng tin chiến sự ở Huế chiếm địa vị độc tôn, lấn át các bản tin chiến sự khác về chiến tranh VN. Về báo chí có Charles Mohr của nhật báo the New York Times, Peter Braestrup của the Washington Post, Don Sider của tuần báo Time, Don Kirk của the Washington Star, và John Carroll của the Baltimore Sun.

 

Ngoài ra còn có hai nữ đặc phái viên xuất hiện ở MACV hôm 2 tháng Hai là Isabelle von Green, cây bút của một tạp chí Đức ngữ, và Cathy Leroy một phóng viên kiêm nhiếp ảnh gia có tiếng tăm của Pháp.

9

Catherine Leroy, 20 tuổi, cao 1m52, phóng viên độc lập Pháp, luôn đi theo các toán quân Mỹ để săn hình. (HistoricalFirearms.Info)

Leroy đã trở nên một nhân vật truyền kỳ ở Việt Nam mặc dù đồng nghiệp của cô có ít nhiều hoài nghi. Cô cao chỉ 5 feet, nặng 85 cân anh và tóc bím đuôi sam. Sinh trưởng ở Paris, nơi đây cô theo học khóa huấn luyện nhào lộn trên không trung; một vài năm trước đây Leroy từng nhảy với quân dù Mỹ xuống chiến trường và có lần bị thương ở mặt trận Khe Sanh. Có lúc cô bị cấm lai vãng ra Vùng Một Chiến Thuật 6 tháng về tội nhạo báng một sĩ quan cao cấp của TQLC Mỹ, nhưng vụ này lại được đồng nghiệp của cô ca tụng.

Từ ngày đầu vụ Tết Mậu Thân Leroy và một đồng nghiệp người Pháp khác tên Francois Mazure đã có mặt ở Phú Bài. Hai người quá giang theo một đoàn công-voa TQLC lên Huế, nhưng thay vì đi thẳng đến MACV họ nhảy xuống xe ở gần Huế để đi hướng khác. Bỏ lại đồ nhà binh và thay bằng áo quần dân sự rồi nhảy lên xe đạp loại hai người cỡi mà họ đã thuê sẵn. Bài tường thuật về chuyến đi này sau đó được đăng trên tạp chí Life số ngày 16 tháng Hai năm 1968; trên trang bìa là hình màu của hai binh sĩ CSBV, bên trong là bảy trang phóng sự cùng các hình ảnh khác.

“Lúc này thì ngoài đường hoàn toàn vắng hoe, dân chúng trốn chui trong nhà cả,” Leroy mô tả trong bài báo cảnh vật họ nhìn thấy sau khi từ giả đoàn xe nhà binh. “Dần dần chúng tôi cảm thấy lo sợ hơn; hễ thấy ai đó hé cửa nhìn ra ngoài là chúng tôi cất tiếng chào thân mật thật lớn ‘bon jour, bon jour’ để tỏ cho họ biết chúng tôi là người Pháp chứ không phải Mỹ.”

Đến gần một khu chợ có lẽ không xa MACV lắm thì họ nghe tiếng súng; lập tức họ xuống xe. Có mấy người mặc thường phục xuất hiện rồi dẫn họ đến một ngôi nhà thờ gần đó.

“Francois luôn mồm nói ‘báo chí Pháp, báo chí Pháp’ nhưng họ vẫn thờ ơ tỏ vẻ không ưa sự hiện diện của chúng tôi,” Leroy viết.

Một linh mục người Việt nói với hai người rằng họ có thể ngủ lại qua đêm. Leroy ước lượng ở cả trong lẫn ngoài nhà thờ lúc ấy có khoảng 4000 dân tị nạn.

Ngày hôm sau vị linh mục nói với hai ký giả rằng sự hiện diện của họ làm nhiều người tị nạn sợ quân CS biết sẽ trả thù về tội dung dưỡng người ngoại quốc. Một em nhỏ tình nguyện dẫn hai người ra khỏi khu vực CS kiểm soát để tới một cơ quan của Mỹ; ông linh mục còn đưa họ một bức thư giới thiệu hy vọng sẽ được an toàn hơn. Vừa đi ra được vài phút thì họ bị quân lính BV bắt, cả hai bị trói tay ra sau lưng bằng giây dù, máy ảnh bị lấy mất. Mấy người CS chẳng thèm quan tâm đến bức thư giới thiệu.

“Để tỏ vẻ mình không sợ hay mặc cảm có tội, Francois vùng vằng như thể đang bị xúc phạm và giận dữ vì bị sỉ nhục,” Leroy viết tiếp trong bài báo. “Trên trời xuất hiện một máy bay định vị mục tiêu của Mỹ và một oanh tạc cơ của quân lực Miền Nam đang bay đảo vòng quanh. Mỗi lần phi cơ trở lại là tôi và Francois bổ nhào xuống hố tìm chổ núp trong khi mấy người lính bộ đội không màng đến, họ không hề nhúc nhích.”

Trong lúc bị cầm giữ, hai ký giả có gặp một người Pháp làm quản lý Nhà Đèn thành phố. Ông này trạc độ 50, người to lớn; họ được nghe kể một chuyện lạ lùng.

Một năm về trước trong khi lái xe ban đêm ở ngoại thành ông ta bị VC phục kích, một viên đạn làm mất đi hai ngón tay. Khi VC chạy ập tới tính kết liễu đời ông thì ông la lên ‘tôi là người Pháp.’ Người trưởng toán nghe vậy liền băng bó vết thương cho ông rồi giúp ông đề máy xe đi về.

Một năm sau quân BV tấn công vào Huế dịp Tết, một đoàn quân xung phong vượt qua cánh đồng vào chiếm nhà của người Pháp này. Sau đó có nhiều chính trị viên đến và nói chuyện với mấy người bộ đội; lạ lùng thay người trưởng toán cũng là người phục kích ông năm trước. Quân CS đối xử với ông thân thiện đặc biệt; từ đó ông Tây, người vợ Việt và hai đứa con gái tuy là tù nhân ngay trong nhà mình nhưng được đối xử tử tế.

Trong khi Leroy chuyện trò với người Pháp thì cửa phòng chợt mở và một sĩ quan bộ đội bước vào.

“Người này trạc độ 25, có mang cây súng ngắn nòng .38, dáng vẻ thật bảnh bao như một số sinh viên VN thường thấy ở Paris,” Leroy viết. “Sau khi vợ người Pháp cho anh ta biết chúng tôi là ai anh liền ra lệnh cởi trói và hỏi chúng tôi có mang theo máy ảnh hay không.”

Nhận lại đồ nghề rồi, Leroy và Francois quyết định phải nương theo chiều gió mới, phải hành động như nhà báo thường làm.

10

Bài tường thuật của Leroy đăng trên tạp chí Life số ngày 16 tháng Hai năm 1968; trang bìa là hình màu của hai binh sĩ CSBV. (DigitalJournalist.org)

“Khi chúng tôi xin phép được chụp hình thì người sĩ quan BV đồng ý ngay, anh dẫn chúng tôi ra ngoài,” Leroy viết tiếp. “Mấy người bộ đội nghe được chụp hình đều có vẻ khoái chí. Rắc rối một điều là họ chỉ muốn sửa điệu bộ như thường thấy ở các hình ảnh trong tài liệu tuyên truyền của CS Miền Bắc. Đến khi trở lại vào bên trong Francois hứng chí nói,

“Xong rồi chúng tôi cần trở lại Paris để viết bài tường thuật.

“Rõ ràng người sĩ quan CS không hề cản ngăn chúng tôi, không những thế anh ta còn giúp đỡ chúng tôi những gì anh ta có thể làm được.

“Ông Tây đem xì gà ra mời Francois và người sĩ quan, mọi người cùng đốt thuốc. Sau đó chúng tôi bắt tay một vòng, ngỏ lời từ giả và cầu chúc may mắn,” Leroy viết.

Vài giờ sau hai phái viên này đến cơ quan MACV với câu chuyện vừa mới bị quân CS bắt rồi lại được thả ra, tất cả đều có thâu hình. Một số người biết rõ Leroy từ trước tỏ ra hoài nghi về tính trung thực của câu chuyện; họ cho rằng Leroy chỉ nói thế cho thỏa mãn tự ngã kiêu kỳ của mình chứ thực ra cô ta và Francois đã bị người CS tống khứ đi cho khuất mắt họ.

Francois Mazure làm việc cho hãng thông tấn AFP (Agence France-Presse) cũng thu hút sự chú ý về bài viết của riêng mình khi tường thuật lại việc bị cầm giữ. Trong bản văn gởi đến cho cơ quan này hôm 2 tháng Hai, anh viết:

‘Lúc rạng đông những ông chủ mới của thành phố đi từng nhóm mười người. Mỗi trưởng nhóm dùng loa cầm tay để nhắn nhủ với dân chúng…trong khi những người khác thì phân phát truyền đơn. Bộ đội đi ngoài đường đùa giởn với nhau, họ không tỏ vẻ gì là sợ hãi cả…Họ tạo cho kẻ bàng quan cảm thấy nơi họ là những kẻ có tinh thần kỷ luật và được huấn luyện tốt…Rất đông dân chúng mang thật nhiều thức ăn ra mời; không có dấu hiệu gì cho thấy hành động này là do bị cưỡng ép.’

Vài ngày sau Sài Gòn tống khứ Mazure ra khỏi xứ về hành động ‘phổ biến tuyên truyền có lợi cho Cộng Sản’

*

Ở Huế nơi những cuộc phỏng vấn thường diễn ra là ở bãi đáp trực thăng cạnh bờ sông. Nơi đây ngoài những xác chết bọc sẵn trong bao xếp thành từng dãy ra, các ký giả được thoải mái và an toàn đi tới đi lui phỏng vấn các thương binh đang nằm chờ được di tản về Phú Bài.

Tôi từng tháp tùng thông tín viên hãng thông tấn UPI Dana Stone ra đó đôi ba lần. Anh thường hỏi thương binh tên gì, quê nhà ở đâu, bị thương trong trường hợp nào. Đa số mấy anh chàng TQLC đều ưa được phỏng vấn, họ sẵn sàng cung cấp đầy đủ dữ kiện; nhiều khi thêm mắm thêm muối chút chút và trau chuốt lời văn cho bóng bẩy. Stone thích phỏng vấn TQLC vì họ năng lực sung mãn và có óc hiếu kỳ. Sinh quán ở Vermont, Stone có mái tóc màu hơi đỏ, anh mang kính gọng sắt, tuổi đời chỉ mới 26 nên dễ hòa đồng nhanh với lính. Anh ưa bông đùa và hoàn toàn bất phục thành phần sĩ quan cao cấp trong quân đội, đặc điểm này làm hàng binh sĩ ngưởng mộ anh thêm . Ở khắp Quân Khu 1 anh được biết đến qua biệt danh ‘gã ngông cuồng’ (crazy dude). Năm 1970 anh cùng bạn là Sean Flynn con trai của tài tử Errol Flynn đi săn tin ở Căm Bốt; Stone bị mất tích từ đó, về sau không ai còn nghe nhắc đến anh nữa.

5

Các mũi tên chỉ đường tiến phản công của quân Mỹ (xanh) ở Hữu Ngạn và Nam Việt (lục) bên Tả Ngạn, từ ngày 1 đến 6 tháng Hai, 1968. Các đường gạch ngắn đứt quãng là đường tiếp tế của Cộng quân. (DoD.MarineCorps)

 

Ngày 5 và 6 tháng Hai, TQLC đánh mạnh về hướng Tây, đi theo họ có Don Webster và toán thu hình đài CBS. Ba đại đội thuộc Tiểu Đoàn 2/5 tiến qua được một khu phố mà không gặp sức kháng cự nào, đến khu vực Bệnh Viện Trung Ương Huế địch bắt đầu chống trả dữ dội khiến họ phải dừng quân; vì trời tối nên họ quyết định nghỉ đêm tại chỗ, hôm sau sẽ tiếp tục.

Đêm ấy một xà-lang Hải Quân cập bến ở bãi đổ hàng để tiếp tế thêm những quân bị cần thiết lẫn viện binh. Được bổ xung đầy đủ, 7 giờ sáng hôm sau họ hành quân tiếp tục và lần này có tiến triển tốt đẹp. Chiếm được Bệnh Viện T.Ư. xong đến nhà lao Thừa Phủ, và sau cùng là Tòa Hành Chánh Tỉnh; đặc biệt ở đây CBS thu hình TQLC hạ cờ của địch xuống và kéo cờ sao sọc lên, lá cờ Mỹ này do một anh chàng TQLC chôm ở cơ quan MACV, anh này tên gì vẫn còn là một bí ẩn.

 

6

Lính Mỹ phụ khiêng một bà mẹ quê chân còn bó bột, tìm thấy đang bơ vơ trong bệnh viện vừa mới tái chiếm. (Archives.MarineCorps)

 

“Không có đội kèn đồng và nhiều TQLC khác vì quá bận nên không chào cờ đủ hết được. Ít có dịp cờ được kéo lên một cách đáng tự hào như vậy.” Webster tường thuật giọng đầy xúc động trong khi đang thu hình.

DoD-MarineCorps_9

(DoD.MarinesCorps)

Tr/tá Cheatham, mà binh sĩ của ông đã đổ máu để lấy được Toà Tỉnh này, hiểu rằng kéo cờ Mỹ lên trong một cơ sở của Việt Nam là vi phạm nguyên tắc nghi lễ nhưng vẫn ra hiệu cho binh sĩ cứ tiếp tục.

“Chúng ta không được phép kéo cờ của chúng ta lên ở đây,” Cheatham nói với người Trung Sĩ Xạ Thủ Frank A. Thomas, “nhưng thây kệ cứ kéo lên đi đến bao giờ có người yêu cầu hạ xuống rồi hẳn hay. Chúng ta đang chiến đấu, cờ chúng ta phải được tưởng thưởng công trạng chứ. Tôi muốn tụi Cộng ở bên kia cầu nhìn thấy.”

Khi toán thu hình đài CBS và một vài nhiếp ảnh gia với dụng cụ sẵn sàng rồi thì xạ thủ Thomas chạy bổ ra phía cột cờ; với sự phụ giúp của hai người nữa họ kéo lá cờ của địch xuống rồi bắt đầu thượng cờ của tổ quốc mình lên. Binh sĩ TQLC reo hò tán thưởng, một số đã ví von hành động này với cuộc dựng cờ ở Iwo Jima thời Thế Chiến Thứ Hai. Tr/tá Cheatham gọi về báo cáo với thượng cấp là Đ/tá Hughes lúc này đang ở trạm chỉ huy (command post):

“Xin cho chỉ thị, chúng tôi vừa chiếm được Tòa Hành Chánh Tỉnh Thừa Thiên, và hiện tại vừa kéo cờ Mỹ lên ở đây.”

Việc tái chiếm được Tòa Hành Chánh Tỉnh, nơi mà địch dùng làm bộ chỉ huy và việc treo lá cờ Hoa Kỳ lên được xem như là một biểu tượng của sự chiến thắng. Hai hành động này là một dấu hiệu cho thấy khởi đầu của một sự chấm dứt những kháng cự mãnh liệt của quân CS ở bờ Nam sông Hương.

Tr/tá Cheatham thích đối đầu với báo chí, ông phát biểu với đám phóng viên và truyền hình một câu ngắn ngủi, “Chiếm được trung tâm đầu não của tỉnh rồi thì xem như chúng ta đã đập gãy lưng chúng.”

 

7

Xe nhà báo kéo theo quân TQLC sau khi họ khai quang vừa xong đoạn đường Lê Lợi, qua khỏi trường Quốc Học. (USMC Archives)

 

Phải mất thêm bốn ngày càn quyét nữa TQLC mới chính thức tuyên bố là vùng Hữu Ngạn đã hoàn toàn an ninh. Vào lúc ấy các đơn vị TQLC khác đang chuẩn bị để vượt sông sang thử thời vận ở Thành Nội.

5

Dân tị nạn ở Huế. (USMC Archives)

Mặc dù giao tranh đã giảm cường độ ở khu Hữu Ngạn nhưng điều quan ngại khác lại bùng lên. Vấn đề dân tị nạn nay càng trở nên khá trầm trọng. Mỗi vùng vừa tái chiếm mang đến một làn sóng tị nạn mới. Những gia đình này sống sót nhờ ẩn trốn trong các hầm hố làm ngay trong nhà. Nơi nào quân đội tiến qua nơi ấy xuất hiện từ trong đống đổ nát ông già bà lão tay phe phẩy cây gậy có buộc miếng vải trắng, theo sau họ là trẻ con và thanh thiếu niên. Nhiều gia đình mang theo cả hành lý đủ loại đủ cỡ như thể họ đã cụ bị sẵn sàng cho giây phút này từ trước.

Công việc thanh lọc được giao phó cho các viên chức chính quyền Nam Việt. Nơi tạm cư là một cao ốc gần bên MACV và khuôn viên trường đại học mà dân tị nạn ở đây lên tới con số 22.000 người. Đa số họ là dân lành vô tội nhưng len lỏi trong đó có binh đội CS hoặc cảm tình viên, và nhiều người là quân lính Miền Nam bị kẹt lúc đang nghỉ phép, thành phần này được sử dụng giúp TQLC và các cố vấn trong vấn đề người tị nạn; sau đó họ tái nhập với đơn vị hiện đang chiến đấu ở Thành Nội.

Công việc vất vả nhất là thu dọn các xác chết ở ngoài đường hay trong những khu đổ nát. Tìm kiếm là điều dễ dàng nhờ mùi hôi của xác đã thối rửa; những tử thi đã trương sình thu hút chuột bọ và những bầy chó hoang. Vì vấn đề vệ sinh công cộng người ta phải cố gắng tìm để đem chôn càng sớm càng tốt.

Một vấn nạn khác nữa là hôi của mà cả hai phe đều phạm phải. Trong những ngày đầu, binh sĩ TQLC phạm tội lấy tiền bạc và rượu ở bất kỳ đâu họ thấy nhưng chỉ giới hạn ở mức họ mang theo được thôi. Lính Miền Nam thì ở mức độ trầm trọng hơn; nhờ được giao nhiệm vụ càn quyét tàn dư sau khi TQLC đánh xong rút đi, một số đã dã tâm bòn rút ngay cả của dân mình. Họ lấy từ TV, tủ lạnh đến xe hơi đem thu giấu ở nơi an toàn rồi sau này sẽ trở lại lấy về nhà hoặc đem bán. Hành động hôi của của chính dân mình bởi một số binh sĩ Miền Nam khiến TQLC Mỹ nhìn đó để khinh nhờn đồng minh của mình.

Người Mỹ nắm chủ động việc thanh lọc và tái lập an ninh ở khu vực Hữu Ngạn vì người Việt hoặc không thiết tha đến hoặc không đủ sức cán đáng trách nhiệm. Kết quả là các cố vấn quân sự bị buộc phải làm công việc cảnh sát để ngăn ngừa các vụ hôi của, đồng thời thanh tra việc thu dọn xác chết. Tôi từng được cắt cử làm việc này ở một số địa điểm bắt đầu từ ngày 6 tháng Hai. Các TQLC cũng phụ giúp việc đào bới tìm xác ở nơi đổ nát cũng do chính tay họ gây ra. Có lần họ lôi ra được một xác lính BV, một TQLC không kềm được lòng, nói: “Này đồng chí đi chơi Huế có vui không?”

 

(Tiếp kỳ 14)

Trở về kỳ trước

 

 

 

 

 

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: