//
you're reading...
Bút ký, Chiến Tranh, Dịch Thuật, Giải Cứu Huế Mậu Thân, Triệu Phong, Về Huế, về Lịch Sử

Giải cứu Huế Tết Mậu Thân (2) * Triệu Phong chuyển ngữ

 

 

CHƯƠNG MỘT

Việt Nam, trạm dừng chân kế tiếp

 

Con đường dẫn đến Việt Nam đối với tôi bắt đầu ở Panama vào giữa Tháng Bảy 1967 nơi tôi được đưa đến để theo học khóa Rừng Núi Sình Lầy kéo dài hai tuần lễ.

Bấy giờ tôi mới 27 tuổi, cấp bậc đại úy Bộ Binh, đã 3 năm phục vụ tác chiến, vừa mới phục vụ cho một tiểu đoàn bộ binh cơ động tại Tây Đức. Hầu hết sĩ quan trong đơn vị tôi đều tốt nghiệp trường Võ Bị Westpoint, một số từng phục vụ ở VN trong vai trò cố vấn quân sự. Một số trưng binh mang phù hiệu cho thấy đã từng tham dự Thế Chiến Thứ Hai và Triều Tiên. Một sĩ quan từng là thành viên của đội quân Lê Dương của Pháp (French Foreign Legion). Việt Nam là trạm dừng chân kế tiếp cho hầu hết những người đã trót chọn đời lính làm binh nghiệp, và nhiều người hướng về xứ sở đó mong sao được sang phục vụ.

Nếu bạn đã chọn nghề lính rồi thì tác chiến là con đường ngắn nhất và nhanh nhất để thăng tiến; hầu hết dân Võ Bị và hàng hạ sĩ quan lão thành đều mang cùng tâm trạng đó.

Trường hợp của tôi thì khác. Tôi chỉ là sĩ quan trừ bị được gắn cấp sĩ quan sau khi học hết chương trình Huấn Luyện Sĩ Quan Trừ Bị ở college, và tôi chỉ cần phải phục vụ hai năm trong một đơn vị tác chiến mà thôi. Đúng ra thì tôi đã có quyền xin ngưng nghĩa vụ quân sự sau khi đã xong vòng công tác ở Đức nhưng thời đó Việt Nam là mục tiêu ao ước trong đầu mọi người nên tôi tự nhủ nếu mình xin ngưng mình sẽ mất cơ hội một đời mới có một lần.

Lịch sử quân đội Hoa Kỳ vốn thường mê hoặc tôi; tôi trưởng thành trong phim ảnh chiến tranh Thế Chiến Thứ Hai, và môn học chính của tôi ở college là Lịch Sử Mỹ Quốc. Hơn nữa tôi luôn tâm niệm rằng phục vụ cho đất nước tôi là nhiệm vụ của mọi công dân Hoa Kỳ, thi hành nghĩa vụ đó thì không có giá nào gọi là quá cao. Do những suy nghĩ như vậy tôi đã tình nguyện xin được kéo dài thời gian tại ngũ và ước ao được tham dự vòng công tác ở VN. Trời đất, tôi tự nhủ, nếu chuyến này không được đi VN thì chẳng khác nào mình đã bỏ ngang college sau ba năm đèn sách và chẳng ra ông ra thằng vì không lấy được bằng biếu nào cả. Hơn nữa mình đã đi sâu vào đời binh nghiệp như vậy rồi thì việc gì mà không đi tới luôn cho trót?

Tôi khá tin tưởng rằng mình sẽ được chọn đi VN do quá trình huấn luyện mà tôi đã từng trải qua ở Đức. Chúng tôi thường xuyên được thao dượt tác chiến giống như thật gồm nhiều trận đánh giả bằng đạn thật ở những trận mạc lịch sử thời Thế Chiến Thứ Hai như Wildflecken, Hohenfels, và Grafenwohr. Việt Nam hiện thực cỡ nào hơn thế nữa chứ?

Tôi rời Đức Tháng Sáu 1967 vừa lúc đơn vị tôi đặt trong tình trạng báo động chuẩn bị có khả năng đi công tác ở Trung Đông, thời gian biến động sau này trở thành Cuộc Chiến Bảy Ngày (The Seven-Day War). Vài tuần sau đó, sau khi báo cáo trình diện ở Fort Jackson, South Carolina, tôi bay sang Panama để theo học khóa 2 tuần về rừng núi sình lầy. Trong đêm đen, chiếc phản lực cơ Braniff mang theo 200 sĩ quan cấp đại đội cùng hạ sĩ quan thâm niên đáp xuống phi trường của Căn Cứ Không Quân Howard nằm ngay bên ngoài Panama City. Thêm hai giờ chuyển vận bằng xe buýt băng qua dải đất nhỏ hẹp, chúng tôi đến trại Fort Sherman một căn cứ quân sự nhỏ của Mỹ nằm ở phía bên kia vịnh biển.

Chương trình huấn luyện rất súc tích và bao hàm toàn diện. Trọng tâm chương trình chú trọng đến mưu sinh thoát hiểm trong rừng sâu. Địa điểm huấn luyện là những địa hình khác nhau, nhiều bài học rừng núi mang đến cho bạn cảm giác tương tự một xứ Việt Nam có lắm bụi rậm.

Ngày nào nhiệt độ cũng nóng hơn 100 độ F tôi nghĩ còn có nơi nào cùng trên đường xích đạo vào tháng Bảy có thể mát hơn được? Vắt hiện diện ở mọi khe suối và muỗi thì hết sức ghê gớm đến nỗi huấn luyện viên nhắc nhở chúng tôi phải bám chặt vào đâu đó kẻo không thì muỗi sẽ tha đi mất. Vùng này còn có nhiều bọ cạp nữa.

Chúng tôi học leo xuống các vực sâu, vượt qua những dòng suối nước chảy siết, kể cả tham dự những cuộc đổ bộ bằng tàu há mồm. Ngoài ra còn có bài học lùng và diệt địch, phục kích đêm và đặc biệt là bài dạ hành kéo dài tới sáng khiến tất cả chúng tôi mệt nhoài. Bài học vượt thoát kéo dài 2 ngày đêm bao trùm cả một vùng hoang vu của xứ Panama.

Trong lớp chúng tôi có cả quân nhân của các quân chủng khác như TQLC, Không Quân và cả một toán Biệt Hải (Navy SEALs) nữa.

Tin vui nhất đến đúng ngày chúng tôi làm lễ mãn khóa khi chúng tôi được biết vòng công tác một năm ở VN được tính từ ngày chúng tôi bắt đầu trình diện ở Fort Sherman. Ngoài việc tiếp nhận phù hiệu chứng nhận đã học khóa rừng núi sình lầy chúng tôi nhận lệnh trình diện đơn vị. Tôi được đề cử đến Sư Đoàn 9 BB đang hoạt động ở vùng châu thổ sông Cửu Long ở phía Nam của Sài Gòn, Việt Nam.

Sau một thời gian nghỉ phép ngắn ngủi, tôi đến trình diện ở Căn Cứ Không Quân Travis gần San Francisco rồi hai ngày sau tôi đáp chuyến bay dài 20 tiếng trên chiếc phi cơ quân sự C-141 bay sang Việt Nam. Vì chỗ ngồi của hành khách trên phi cơ quân sự quay mặt về phía đuôi nên tôi ngẫm nghĩ, ‘Gớm, mình phải ngồi nhìn về phía mình khởi hành chứ không phải nơi sẽ đến.’ Cho những buổi ăn tối trong suốt cuộc hành trình, tôi thủ 2 phần thịt gà tây và năm chai martini. Phi cơ dừng lại ở đảo Wake một tiếng đồng hồ để lấy thêm nhiên liệu, sau đó lại hạ xuống Căn Cứ Không Quân Clark ở Phi Luật Tân trước khi đáp xuống trạm cuối cùng ở Biên Hòa, Việt Nam. Tôi đặt chân lần đầu tiên lên đất Việt Nam lúc 7 giờ 45 sáng.

Điều đầu tiên tôi chú ý là đa số người Việt tôi thấy lúc ấy toàn là đàn bà. Trước khi tôi kịp mở miệng hỏi thì một gã lính Mỹ giữ an ninh phi trường đã lên tiếng giải thích với chúng tôi: “Tôi biết các anh đang nghĩ gì rồi. Đàn ông đi đâu hết chứ gì? Họ không có ở đây đâu. Họ theo VC vào trong rừng. Họ đang lo đặt mìn, mài lưỡi lê chờ thịt tươi mới đến như các anh để mà lụi.”

Khôi hài thật. Nhưng theo tôi biết gã có thể nói đúng.

Việt Nam thật nóng, bụi bặm và ồn ào. Tiếng trực thăng xành xạch bay qua đầu không bao giờ ngưng. Thêm một cái thường xuyên nữa là kẹt xe. Những chiếc xe buýt đưa chúng tôi đến trung tâm chuyển tiếp phải giành đường với hàng đoàn công-voa, xe gắn máy và xe đạp. Mọi người mọi vật có vẻ như ùa ra đường cùng một lúc hối hả đi đâu đó trong thái độ ‘tôi trước tôi trước’. Thật giống như thành phố New York vào giờ cao điểm, chỉ khác là ở đây có nhiều người mang súng.

Dọc hai bên đường đầy dẫy những người ăn xin hoặc rao bán bất cứ món gì, từ kẹo, thuốc lá cho đến radio, TV.

Nhiều cao ốc có rào lưới che phủ.

“Họ rào để khỏi bị VC ném lựu đạn vào cửa sổ,” người tài xế xe buýt giải thích. “Tuy vậy đôi khi cũng chẳng ăn nhằm gì. Tụi VC quấn lựu đạn bằng dây có buộc nhiều móc câu. Khi ném vào móc câu móc lựu đạn dính vào lưới làm nổ bung cửa sổ và mọi thứ gần đó.”

Ban đêm có những âm thanh mới khác thay vào những âm thanh đã nghe trong ngày. Tiếng súng nhỏ bắn lẻ tẻ xen lẫn với tiếng đại bác ì ầm suốt đêm đến sáng. Tuy nhiên ngày đầu tiên chẳng có thứ âm thanh nào làm bận tâm tôi được vì qua một chuyến bay dài vượt Thái Bình Dương tôi đã hết xí quách rồi nên lăn đùng ra ngủ không biết trời trăng gì nữa. Phải rồi, vì đây là giấc ngủ của một kẻ ngây thơ vô tội mà.

Chúng tôi làm quen với thủy thổ thật nhanh. Chỉ sau hai ngày, đám người mới được đưa ra phía ngoài hàng rào phòng thủ của căn cứ Bear Cat, căn cứ gốc của SĐ 9 BB, để thực tập bắn đạn thật. Chúng tôi vô tình dẫm chân lên một toán khác cũng đang thực tập tương tự, thế là chúng tôi bắn nhau loạn xạ một hồi. May mắn không có thương vong nào. Sau đó trong khi xem biểu diễn mìn claymore anh chàng trung sĩ đứng cạnh tôi bị trúng vào chân một viên bi thép từ trái mìn bay lạc đến. Thấy vậy một tên bi quan yếm thế đứng đàng sau lên tiếng mỉa mai: “Cứ theo đà này thì chỉ mới tuần đầu tiên tất cả chúng ta đều sẽ được truy tặng chiến thương bội tinh.” Cuộc hướng dẫn dã chiến kết thúc bằng cuộc tuần tra đêm xuyên qua đồn điền cao su ở gần bên căn cứ; rất may khu vực tương đối an ninh nên không có việc gì xảy ra.

Học hiểu tiếng Việt đối với chúng tôi không cần phải mất nhiều thời gian; chỉ cần một ít để có thể thông tri một cách có hiệu quả là được. Khi đồng ý một điều gì người Việt chỉ nói ‘number one’, nếu tệ quá thì ‘number ten’. Ở VN tôi học được là tất cả mọi sự đều hoặc quá tốt hoặc quá tệ chứ không có chuyện lưng chừng đồi. Trong suốt vòng công vụ ở VN tôi chưa hề nghe ai đánh giá điều gì là ‘number 2’ hay ‘number 9’ cả.

Ngay tuần lễ đầu tiên đó tôi nhận được công tác đặc biệt là đến trình diện ở phòng thông tin thuộc căn cứ Bear Cat; tôi đoán có lẽ khi xét đơn họ nghĩ tôi có kinh nghiệm về lãnh vực này. Số là sau khi hoàn tất khóa huấn luyện ở Trường Bộ Binh Fort Benning, Georgia, năm 1964 tôi được đề cử làm sĩ quan thông tin ở Đệ Nhất Lộ Quân tại Governors Island, New York. Tôi hoàn toàn không hề bận tâm khi được giao cho làm việc ấy.

Công việc thông tin khiến tôi có cơ hội được đi khắp vùng châu thổ sông Cửu Long để viếng thăm từng đơn vị thuộc SĐ 9 BB Hoa Kỳ. Tuần đầu tôi đến viếng tổng hành dinh Lữ Đoàn 1 ở Tân An và tiểu đoàn đóng các tiền đồn ở Tân Trụ và Biên Phước. Tại địa điểm sau cùng tôi tình cờ gặp lại người bạn cũ là Đ/úy Tom Russell trước đây từng phục vụ chung ở Tây Đức. Anh ta bây giờ là đại đội trưởng một đại đội thuộc Tiểu Đoàn 5 Trung Đoàn 60 Bộ Binh (Cơ Giới). Gặp lại khuôn mặt quen thuộc thật là thích thú biết bao; có điều bây giờ anh ta trông già hơn xưa.

Trong khi thị sát nơi đóng quân của Russell tôi hỏi anh ta Việt Nam theo anh thấy như thế nào. Tôi còn dò hỏi về những lời đồn đãi rằng có nhiều hành vi thô bạo xảy ra ở trong khu vực trách nhiệm của anh đặc biệt là xác địch bị xẻo tai và bị rạch số 9 lên thân thể nữa. Nghe vậy anh ta không xác nhận cũng chẳng phản đối lời nào mà chỉ nói:

“Tụi địch cứ rình bắn lén chúng tôi hoài rồi thỉnh thoảng lại rót súng cối vào nữa. Chúng tôi chỉ biết bắn trả nhưng có bao giờ thấy chúng đâu, chúng biến dạng vào rừng hoặc các đầm lầy ngay. Chuyện cứ xảy ra như thế mãi khiến chúng tôi phải phát khùng. Anh nghĩ coi mình cứ mất con cái mà không bao giờ thấy được kẻ làm hại mình.”

Chỗ đóng quân của Russell tại Biên Phước tọa lạc trên một vùng đất phẳng phiu trống trải có hàng rào kẽm gai bao quanh, ở mỗi góc đều có đặt tháp canh. Cách bố trí trông rất sơ sài tạm bợ như thể mọi người đều sẵn sàng khi có lệnh rút đi là có thể nhổ neo ngay. Doanh trại nghỉ quân đều toàn là lều vải và mỗi lều có bao cát chấn chung quanh cao chừng một hai mét. Chỗ chứa xe thiết vận xa là những bãi sình lầy. Nhiều M-113 nằm ụ vào đó để sử dụng như là vị trí chiến đấu.

“Ở đây chúng tôi không ai ăn không ngồi rồi,” Russell vừa nói vừa nhìn đảo một vòng quanh doanh trại. “Không ai ở vị trí cách xa hầm trú ẩn hoặc nơi cất vũ khí của mình. Chúng tôi luôn sẵn sàng ứng chiến.”

Phần việc của tôi là lượm lặt dữ kiện để viết những mẩu chuyện về con cái của SĐ 9 BB. Bài viết sẽ được in trên tờ nhật báo của đơn vị đồng thời cũng được gởi đến tờ báo địa phương của cá nhân về bài đó. Nhiều khi có bài được chọn đăng trên tờ nhật báo chính thức của Lục Quân Hoa Kỳ Stars and Stripes (Sao và Sọc) xuất bản ở Tokyo.

Phần lớn thời gian di chuyển của tôi là bằng trực thăng qua đó tôi lấy làm lạ được biết những phi công loại phi cơ này đều rất trẻ và rất điềm tĩnh. Có lần đang bay, động cơ chợt ngưng hoạt động và phi cơ rớt tự do chừng hơn 100 mét mới khởi động trở lại. Bấy giờ hai anh hoa tiêu ngước nhìn nhau nhún vai mĩm cười, họ không hề có chút mảy may hốt hoảng nào cả. Bản thân tôi thì không được vậy đâu nhé.

Một anh phi công khác tuổi chưa tới hai mươi làm dấu thánh theo truyền thống dân đạo Chúa trước khi cất cánh, xong mới quay qua phía tôi nói: “Tôi rất hi vọng chúng ta sẽ đi đến nơi về đến chốn.”

Xạ thủ trực thăng lại còn trẻ ghê hồn nữa. Họ là dân màu mè hoa lá cành thấy rõ, một số chơi nón cao bồi thay vì nón sắt trong khi bay. Một số coi dưới đất đâu cũng là vùng tác xạ tự do, thấy cái gì nhúc nhích là bắn không cần biết đó là người hay cái quái gì.

Cuối Tháng Tám tôi nhiều lần được lên Sài Gòn để viếng các cơ sở có dịch vụ viễn thông và truyền thanh. Tôi tham dự một buổi họp báo quân sự ngắn diễn ra hằng ngày lúc ban chiều mà giới dân sự ưa gọi mỉa mai buổi này là ‘The five o’clock follies’ (chuyện nhảm lúc năm giờ) hoặc ‘jive at five’ (chuyện vớ vẩn lúc năm giờ). Bản văn cuộc họp báo thật trau chuốt, có bản đồ khổ lớn, biểu đồ và ngay cả vài đoạn phim ngắn kèm theo. Phụ trách gồm một số cán bộ sĩ quan và hạ sĩ quan mặc đồ ủi hồ láng cón, bảnh bao, thuyết trình trước đám nhà báo dân sự trong đó một số trông rất toe tua như thể họ vừa mới chui từ dưới đầm lầy vùng châu thổ lên; mà quả thật không sai.

Dưới nhản quan của đám dân sự và ngay cả một số nhân viên quân sự đã từ lâu họ xem cuộc họp báo loại này chỉ là một hình thức tuyên truyền để trau chuốt càng nhiều càng hay cho bộ mặt của Hoa Kỳ trong nỗ lực chiến tranh ở VN. Ở đây chẳng ai nể nang một ai, ngay cả ông tướng có lên thuyết trình cũng vẫn bị nhà báo xoay như thường.

Tôi còn có thêm nhiệm vụ tháp tùng nhà báo và giới chức quan trọng (VIP) trong công tác đi tìm hiểu sự thật (fact-finding mission), về sau công việc này trở thành chính thức của tôi. Trong suốt 6 tháng ở vùng châu thổ tôi có dịp đi theo nhiều cuộc hành quân và được viếng nhiều trận địa để lượng định tổn thất. Tôi từng mở nhiều cuộc phỏng vấn, thường là chung với một phái viên báo chí hoặc toán thu hình. Có lần tôi đi theo 3 ngày với Lực Lượng Lưu Động Sông (Mobile Riverine Force), tham dự cuộc rải truyền đơn và dự khán nhiều lễ trao tặng huân chương tại mặt trận. Tôi có dịp được gặp tài tử Charlton Heston, Tướng William Westmoreland, và cô đào bốc lửa Raquel Welch, người này tôi gặp trong chương trình văn nghệ lưu động dành cho lính xa nhà của Bob Hope mùa Noel 1967. Nói chung thì đi đâu tôi cũng có dịp được ăn pháo kích hoặc bị bắn sẻ nhưng không lần nào bị nguy hiểm cả.

Đầu Tháng Giêng tôi được sếp triệu về căn cứ Bear Cat để thông báo cho tôi hay là tôi được thuyên chuyển về Huế, một thành phố nằm bên trên và gần Vùng Phi Quân Sự (The Demilitarized Zone: DMZ) để làm cố vấn thông tin liên lạc cho SĐ 1 BB của quân đội Nam Việt. Cơ Quan Chỉ Huy Cố Vấn Quân Sự Mỹ tại Việt Nam gọi tắt là MACV (the Military Assistance Command, Vietnam) ngày càng trở nên khó chịu về những bản tường trình công khai tố cáo hành vi tham nhũng của nhiều phần tử trong quân đội Miền Nam và sự bất lực của họ. Các giới chức quân sự cao cấp Hoa Kỳ mới quyết định đưa các cố vấn thông tin Mỹ xuống làm việc chung với các đơn vị VN trong nhiệm vụ giao tiếp với quần chúng (public relation) với hy vọng sẽ giúp báo chí nhìn thấy rõ hơn thực trạng để tường thuật đúng đắn và tốt đẹp hơn với công chúng Hoa Kỳ.

Sư Đoàn 1 Bộ Binh của quân đội Miền Nam được coi như là đơn vị xuất sắc nhất nước nên theo lời sếp của tôi, Tướng Westmoreland muốn chúng ta đưa đến đó người sĩ quan thông tin nào xuất sắc nhất. Nếu thật là vậy thì rõ là xạo quá, tôi nào có đáng được vinh dự đó.

Đêm ấy trong dòng nhật ký, tôi ghi chú về công việc mới được chỉ định và hùng hồn kết thúc với một câu: “Đây quả là một nhiệm vụ thích thú vô cùng.” Lúc ấy tôi đâu có ngờ đời tôi sắp trở nên ‘thú vị’ biết chừng nào và biết đâu chừng tôi suýt để mất cơ hội đó.

 

Xem tiếp kỳ (3)

 

Xem lại kỳ trước :  Giải cứu Huế Tết Mậu Thân (1)

 

 

 

 

 

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: