Advertisements
//
you're reading...
Triệu Phong, Truyện Dịch

Đánh cuộc – Anton Chekhov * Triệu Phong dịch

 

 

 

5

 

Anton Pavlovich Chekhov (tiếng Nga: Антон Павлович Чехов; 1860–1904) là nhà viết kịch người Nga nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn trên thế giới với thể loại truyện ngắn.

Chekhov sinh ngày 29 tháng 1 năm 1860 (lịch Julian: 17 tháng 1 năm 1860) ở thị trấn Taganrog miền nam nước Nga, nơi cha ông làm chủ một cửa hiệu tạp hóa nhỏ. Năm 1879, ông theo học ngành y tại Đại học Quốc gia Moskva. Ở đây, ông bắt đầu vẽ biếm họa cho một số tạp chí hài để hỗ trợ gia đình. Sau khi tốt nghiệp năm 1884, Chekhov hành nghề y nhưng vẫn tiếp tục sáng tác. Đến năm 1887, văn tài của ông đã được chấp nhận rộng rãi, và việc sáng tác không cho phép ông dành nhiều thì giờ cho y khoa.

Thời kỳ từ 1886 đến 1888 là giai đoạn Chekhov chuyển tiếp từ thể loại truyện ngắn khôi hài dưới 1.000 chữ qua những truyện ngắn dài hơn, có chủ đề nghiêm túc hơn và văn phong chững chạc hơn. Những truyện ngắn trong thập niên 1890 đem lại một cái nhìn rộng lớn về xã hội nước Nga cuối thế kỷ 19, miêu tả sự chính xác về xã hội của cuộc đời những nông dân, trí thức, tư thương, giáo sĩ, phụ nữ và trẻ em trong những bối cảnh có tính phổ cập và bất biến với thời gian.

Chekhov bị bệnh lao, và năm 1897 phải dời đến cư ngụ ở vùng ấm áp Yalta, nằm kề Biển Đen. Năm 1901, ông kết hôn với nữ diễn viên Olga Leonardovna Knipper. Trong thời gian này, sức khỏe của ông đi xuống dần. Ông qua đời năm 1904 ở khu nghỉ mát Badenweiler tại Đức trong khi đang tìm cách chữa trị.

(Theo Wikipedia)

 

 

~*~*~*~*~*~*~*~*~

 

 

2

(AudiobooksSTORE.com)

 

 

Đó là một đêm Thu tối thui. Lão chủ nhà băng đi tới đi lui từ góc này đến góc nọ của căn phòng làm việc của lão, hồi tưởng lại buổi tiệc lão thết đãi vào mùa Thu mười lăm năm trước. Trong buổi tiệc có nhiều người thông thái và cuộc đàm luận hết sức hứng thú. Họ bàn bạc đủ thứ chuyện kể cả án tử hình. Khách khứa, không ít học giả và nhà báo, hầu hết không chấp nhận án tử hình. Họ nhận thấy việc ấy đã lỗi thời và thiếu đạo đức, không thích hợp với một xứ sở Ki Tô giáo. Một số nghĩ rằng án tử hình nên được hoàn toàn thay thế bằng án tù chung thân.

“Tôi không đồng ý với quí vị,” gia chủ nói. “Cá nhân tôi tuy chưa từng thọ án tử hình hay chung thân, nhưng nếu có thể xét theo một định kiến, thì theo thiển ý của tôi án tử hình có đạo đức hơn và nhân đạo hơn tù cấm cố. Tử hình làm người ta chết ngay tức khắc, còn tù chung thân thì phải chịu chết từ từ. Ai nhân đạo hơn đao phủ, kẻ làm quí vị chết trong tíc tắc hay kẻ liên tục lấy đi đời sống quí vị, năm này qua năm khác?”

“Cách nào cũng vô lương tâm cả,” một người khách nhận xét, “chẳng qua mục đích của chúng đều giống nhau, đó là tước mất sự sống. Nhà nước không phải là Thượng Đế. Nhà nước không có quyền lấy đi cái mà họ không thể trả lại, nếu họ muốn làm vậy.

Trong số khách khứa có một luật sư, một người đàn ông trẻ, tuổi khoảng hai mươi lăm. Khi được hỏi ý kiến thì gã đáp :

“Tử hình hay chung thân đều vô đạo đức như nhau; nhưng nếu tôi được phép chọn một trong hai, ắt hẳn tôi sẽ chọn cái thứ nhì. Thà được sống như thế nào đó còn hơn hoàn toàn mất sự sống.”

Tiếp đó là một cuộc tranh cãi sôi nổi. Lão chủ nhà băng đột nhiên nổi nóng, đập nắm tay xuống bàn, quay về phía gã luật sư trẻ, hét lớn :

“Đó là sự dối trá. Tôi đánh cuộc anh hai triệu rằng anh không thể ngồi yên trong tù dù chỉ có năm năm.”

“Nếu ông có ý nghiêm túc,” gã luật sư đáp, “vậy thì tôi cuộc rằng tôi sẽ chịu ngồi tù không phải năm mà mười lăm năm.”

“Mười lăm! Vậy là xong!” lão chủ nhà băng hô to. “Thưa quí vị, tôi chịu giá hai triệu.”

“Đồng ý. Ông đặt hai triệu, tôi đặt sự tự do của tôi,” gã luật sư nói.

Như thế cuộc cá cược điên rồ qua đi. Lão chủ nhà băng, kẻ lúc đó tiền của có hằng triệu đếm không hết, trong lúc ăn uống, nói đùa với gã luật sư :

“Hãy lấy lại tỉnh táo trước khi quá muộn. Hai triệu đối với tôi không là gì, nhưng anh phải chịu thiệt mất ba, bốn năm đẹp đẽ nhất của đời anh. Tôi nói ba hoặc bốn vì anh không bao giờ dính vô đó lâu hơn nổi. Cũng chớ quên anh bạn trẻ bất hạnh tôi ơi, rằng cảm giác khi tự nguyện để bị nhốt nặng nề hơn nhiều so với bị bắt buộc phải ở tù. Mãi canh cánh với ý nghĩ rằng mình có quyền trả tự do cho mình bất cứ lúc nào chỉ độc hại thêm cho cuộc đời ở trong khám. Tôi thấy tội nghiệp cho anh quá.”

Giờ đây lão chủ nhà băng rảo bước tới lui từ góc này sang góc kia căn phòng, nhớ lại trọn vẹn câu chuyện và tự hỏi :

Tại sao ta bày ra cái vụ cá cược này? Có lợi chi đâu? Gã luật sư mất mười lăm năm cuộc đời còn ta thì ném hai triệu qua cửa sổ. Việc ấy có thuyết phục được thiên hạ tử hình là tệ hay tốt hơn tù chung thân không? Không, không! Tất cả đều là rác rưởi. Về phần ta, đó là tính thất thường của kẻ dư ăn dư mặc; còn về gã luật sư thì thuần túy xuất phát từ lòng tham vàng tham bạc.

Lão nhớ thêm điều xảy ra sau buổi tiệc tối hôm ấy. Quyết định được đưa ra là gã luật sư phải chịu sự giám sát hết sức chặt chẽ trong thời gian bị giam cầm tại một cánh của khu vườn nhà lão chủ ngân hàng. Thỏa thuận qui định rằng gã luật sư bị tước mọi quyền vượt qua lằn ranh, nghĩa là không được trông thấy cũng như nghe tiếng nói của con người, kể cả nhận thư và báo chí. Tuy vậy gã được phép sở hữu một nhạc cụ, được đọc sách, viết thư, uống rượu và hút thuốc. Theo thỏa thuận, gã có thể liên lạc, nhưng chỉ qua sự im lặng, với thế giới bên ngoài bằng một cửa sổ nhỏ được thiết kế đặc biệt cho mục đích này. Mọi thứ cần thiết như sách vở, nhạc, rượu, gã được phép nhận không hạn chế số lượng, bằng cách ghi các đòi hỏi lên một tờ giấy và chuyền qua cửa sổ. Thỏa thuận nêu tất cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất, khiến cho kiếp cầm cố hết sức quạnh hiu, thỏa thuận bắt buộc gã luật sư phải chịu sự biệt giam đúng mười lăm năm, từ mười hai giờ ngày 14 tháng Mười Một, 1870, đến mười hai giờ ngày 14 tháng Mười Một, 1885. Mọi toan tính tối thiểu về phía gã luật sư nhằm vi phạm các điều kiện, như ra sớm dù chỉ hai phút trước lúc đáo hạn, lão chủ nhà băng coi như không bị bắt buộc phải trả cho gã số tiền hai triệu.

Trong suốt năm đầu tiên, gã luật sư, căn cứ theo những tấm giấy ghi chép ngắn ngủi, đã hết sức khổ sở phải chịu đựng sự cô độc và nhàm chán. Từ phòng giam của gã suốt ngày lẫn đêm vẳng ra tiếng dương cầm. Gã từ chối không nhận thêm rượu và thuốc lá. “Rượu,” gã viết, “kích thích lòng ham muốn, mà dục vọng là kẻ thù chính của một tù nhân; hơn nữa, không gì chán hơn là phải uống rượu ngon một mình, còn thuốc lá chỉ gây thêm độc hại cho căn phòng.”

Cũng trong năm đầu tiên ấy, gã luật sư được cung cấp nhiều sách có tính cách tiêu khiển; các tiểu thuyết với những chuyện tình rắc rối, chuyện tội ác, chuyện thần kỳ, chuyện hài, vân vân.

Qua năm thứ hai không ai còn nghe thấy tiếng dương cầm nữa và gã luật sư chỉ đọc sách loại văn chương cổ điển. Đến năm thứ năm tiếng nhạc lại vẳng ra, và người tù lại đòi rượu. Người canh chừng gã kể rằng suốt năm đó gã chỉ có ăn, uống và nằm. Gã thường hay ngáp và độc thoại một cách giận dữ. Gã không đọc nữa. Đôi khi vào ban đêm gã ngồi vào bàn để viết. Gã viết thật lâu để rồi xé hết tất cả vào sáng hôm sau. Có đôi lần người ta nghe tiếng gã khóc.

Vào nửa cuối của năm thứ sáu, người tù bắt đầu miệt mài học ngoại ngữ, triết và sử. Gã háu đói sách với những đề tài này đến nỗi lão chủ nhà băng không cung cấp kịp. Trong bốn năm, khoảng sáu trăm tác phẩm được đặt mua theo yêu cầu của gã.

 

3

(eNotes.com)

 

Trong thời kỳ của niềm say mê kéo dài ấy lão chủ nhà băng nhận được lá thư từ người tù như sau : “Thưa ông chủ ngục, tôi viết những dòng này bằng sáu thứ tiếng. Hãy đưa cho những người chuyên môn xem. Nếu họ không tìm thấy một lỗi nào, thì tôi xin ông hãy ra lệnh cho bắn phát súng ở trong vườn. Với tiếng nổ ấy tôi có thể biết được mọi nỗ lực của tôi không đến nổi vô ích. Những thiên tài của mọi lứa tuổi và những đất nước nói các thứ tiếng; nhưng trong họ đều cháy bùng cùng ngọn lửa giống nhau. Ôi, ước gì bây giờ ông hiểu được niềm hạnh phúc vô biên của tôi, đó là tôi đã có thể hiểu được họ!” Ước nguyện của người tù được thỏa mãn. Hai phát súng được bắn trong vườn theo lệnh của lão chủ nhà băng.

Sau đó, vào năm thứ mười, gã luật sư ngồi bất động trước bàn và chỉ đọc kinh Tân Ước. Lão chủ nhà băng thấy lạ là một người trong bốn năm từng đọc hiểu rành rẽ sáu trăm đầu sách loại uyên thâm nay bỗng bỏ ra gần hết một năm để chỉ đọc duy nhất một cuốn, loại dễ hiểu, và cũng chẳng có dày gì mấy. Nhưng Tân Ước rồi ra lại được thay thế bằng sách lịch sử tôn giáo và thần học.

Suốt hai năm cuối cùng, gã tù lại đọc một số lượng sách kinh hồn, toàn do chọn lựa ngẫu nhiên. Giờ thì gã chuyên tâm vào khoa học tự nhiên, rồi lại chuyển qua sách của Byron hoặc Shakespeare. Những tờ ghi chép do gã gửi ra thường đòi hỏi gởi cùng một lượt một cuốn về hóa học, một sách giáo khoa về ngành y, một tiểu thuyết, và một số luận thuyết về triết hoặc thần học. Gã đọc như thể đang bơi trong vùng biển giữa các mảnh vỡ, trong ước muốn cứu lấy đời mình bằng sự gom lượm hết mảnh này đến mảnh khác đó.

 

Lão chủ nhà băng nhớ lại tất cả những điều này, và nghĩ :

Ngày mai vào lúc mười hai giờ gã ấy sẽ nhận lại sự tự do. Theo thỏa thuận, ta sẽ phải trả cho gã hai triệu. Nếu ta trả đủ, thì ta coi như tàn đời. Ta vĩnh viễn trắng tay…

Mười lăm năm trước, lão có quá nhiều tiền triệu, đếm không hết, nhưng giờ đây lão sợ không dám tự hỏi, liệu xem thứ gì lão có nhiều, tiền hay nợ. Chơi trò may rủi với chứng khoán, đầu cơ liều lĩnh, và tật khinh suất mãi không chừa ngay cả vào lúc tuổi già đã dần dần đưa kinh doanh của lão vào sự đình đốn; và con người kinh doanh vốn kiêu hãnh, tự tin, không biết sợ, đã trở thành một lão chủ nhà băng tầm thường, luôn sợ hãi trước mọi sự lên xuống của thị trường.

“Cuộc cá cược đáng nguyền rủa ấy,” lão già đầu óc chìm đắm trong nỗi thất vọng nhủ thầm, “Tại sao gã đàn ông nọ không chết phứt đi? gã chỉ mới bốn mươi. Gã sẽ tước mất đồng xu cuối cùng của ta, lấy vợ, vui hưởng cuộc đời, chơi may rủi với chứng khoán, còn ta sẽ đứng nhìn như một tên ăn xin ganh tỵ và mỗi ngày nghe cùng một giọng điệu từ miệng gã : ‘Vì hạnh phúc của mình, tôi buộc lòng phải gia ơn cho ông. Hãy để tôi giúp ông nhé.’ Không, như vậy là quá đáng! Cách duy nhất để tránh khỏi khánh tận và ô nhục là gã ta phải chết.”

Đồng hồ vừa điểm ba tiếng. Lão chủ nhà băng lắng nghe. Trong nhà mọi người đang say ngủ, nghe chăng chỉ có tiếng rên rỉ của những cây cối giá lạnh bên ngoài cửa sổ. Cố không gây tiếng động, lão lấy từ tủ két ra chiếc chìa khóa của cánh cửa vốn chưa từng được mở trong suốt mười lăm năm, mặc chiếc áo khoác vào, rồi bước ra khỏi nhà. Khu vườn tối và lạnh. Trời đang mưa. Một cơn gió ẩm, xuyên suốt, gào rú trong vườn khiến cây cối không yên nghỉ.

Dù cố nhướng mắt nhìn, lão chủ nhà băng cũng không thể nhìn thấy rõ mặt đất, những bức tượng màu trắng, cánh vườn, và cả cây cối. Đến gần cánh vườn, lão hai lần cất tiếng gọi người canh giữ. Không có tiếng trả lời. Rõ ràng là người canh giữ đã kiếm chỗ núp cái thời tiết khắc nghiệt và giờ đây đang ngủ vùi đâu đó trong bếp hay nhà ươm cây.

Nếu ta có đủ can đảm để thực hiện ý định, lão già nghĩ ngợi, mọi sự nghi ngờ trước tiên sẽ trút hết lên đầu gã canh giữ.

Trong bóng tối, lão lần lên mấy bậc cấp rồi cánh cửa và bước vào hành lang của cánh vườn, rồi mò mẫm đi sâu vào một lối đi hẹp và đánh lên một cây diêm. Không có ma nào ở đấy cả. Một chiếc giường không có khăn trải nằm đó, và một lò sấy bằng sắt thu mình tối tăm trong một góc nọ. Dấu niêm trên cánh cửa dẫn vào phòng tù nhân vẫn chưa hề bị ai chạm đến.

Khi diêm tàn, lão già run rẫy vì khích động, lén nhìn vào bên trong khung cửa sổ bé tí.

Trong căn phòng của tù nhân, một ngọn đèn cầy đang cháy mờ nhạt. Gã tù nhân đang ngồi trước bàn. Chỉ có thể nhìn thấy được lưng, tóc và hai bàn tay gã. Mấy cuốn sách mở sẵn nằm đó đây trên bàn, và trên thảm, hai chiếc ghế được đặt ở cạnh bàn.

Năm phút qua đi mà tù nhân không hề một lần cựa quậy. Mười lăm năm cầm cố chắc đã dạy cho gã cách ngồi bất động. Lão chủ nhà băng dùng ngón tay gõ lên cửa sổ nhưng gã tù nhân không hề đáp lại bằng một cử động nào. Thế rồi lão chủ nhà băng thận trọng xé miếng niêm phong khỏi cánh cửa rồi tra chìa khóa vào ổ. Cái khóa hoen rỉ cất tiếng rên khàn đục, còn cánh cửa thì kêu kèn kẹt. Lão chủ nhà băng đinh ninh sẽ nghe tức thì tiếng kêu kinh ngạc và âm thanh của bước chân. Nhưng ba phút trôi qua mà bên trong vẫn lặng yên như tờ như ban đầu. Lão quyết định bước vào bên trong.

 

4

(chekhov Twitter)

 

Ngồi trước bàn là một gã đàn ông không giống với một con người bình thường. Đó là một bộ xương, với da dẻ dính sát, mái tóc dài quăn như tóc đàn bà, và một bộ râu lởm chởm. Da mặt gã có màu vàng của đất; đôi má lõm vào, cái lưng dài và hẹp, và bàn tay mà cái đầu với mái tóc rậm của gã đang tựa lên thật gầy guộc trông rất đau lòng. Tóc gã đã chuyển sang màu bạc, và không ai ngay khi nhìn thoáng qua cái vẻ lão hóa hốc hác của khuôn mặt có thể tin rằng gã chỉ mới bốn mươi. Trên bàn, ngay trước cái đầu cúi xuống, có đặt một tờ giấy, trên đó bàn tay bé xíu ấy đã hí hoáy điều gì đó.

Con quỉ đáng thương, lão chủ nhà băng ngẫm nghĩ, gã đang ngủ say và chắc đang thấy tiền triệu trong giấc mơ. Ta chỉ việc quăng cái vật nửa sống nửa chết này lên giường, rồi lấy gối đè lên mặt trong một chốc, thì cho dù sau này người ta có khám nghiệm cẩn thận cách mấy cũng không tìm được dấu vết nào cho thấy cái chết này là bất bình thường. Nhưng trước hết hãy đọc xem gã viết cái gì đã.

Lão chủ nhà băng lượm tờ giấy lên và đọc :

“Ngày mai vào lúc mười hai giờ đêm tôi sẽ lấy lại sự tự do và quyền được hòa nhập với mọi người. Nhưng trước khi rời khỏi căn phòng này để nhìn ánh mặt trời, tôi thấy cần phải nói với ông vài lời. Trước lương tâm trong sáng của tôi và trước Thượng Đế, tôi tuyên bố với ông rằng tôi xem thường sự tự do, cuộc sống, sức khỏe, và tất cả những gì mà sách vở của ông gọi là phúc lành của thế gian.

“Trong suốt mười lăm năm tôi đã miệt mài học hỏi đời sống thế gian. Đúng vậy, tuy tôi không được thấy thế giới và con người, nhưng qua những sách vở của ông tôi đã uống được hương vị của rượu nho, ca những bài hát, đi săn hươu và lợn hoang trong rừng, yêu thương phụ nữ … Và phụ nữ đẹp, như những đám mây trên các tầng trời, tạo bởi phép mầu của những thi nhân thiên tài của ông, đã viếng tôi hằng đêm và thầm thì với tôi những câu chuyện tuyệt vời, làm cho đầu óc tôi cuồng say.

“Qua sách vở của ông, tôi đã leo lên đỉnh của các ngọn núi Elbuz và Mont Blanc và từ đó đã nhìn thấy mặt trời mọc lúc ban mai như thế nào, và vào ban chiều bầu trời, đại dương và các rặng núi, ngập tràn với ánh vàng tím ra sao. Từ đó tôi nhìn thấy phía trên tôi sấm chớp lờ mờ tách chia những đám mây như thế nào. Tôi thấy những cánh rừng, đồng xanh, sông suối, hồ ao, phố thị; tôi nghe tiếng ca của còi hụ, tiếng ngâm những vần thơ pipes of Pan; Tôi đã sờ cánh của những quỉ sứ đẹp đẽ, họ bay đến bên tôi để nói với tôi về Thượng Đế … Trong sách vở của ông, tôi buông mình vào vực thẳm không đáy, tạo nhiều phép lạ, thiêu rụi các đô thị, thuyết giảng các tôn giáo mới, chinh phục toàn thể các xứ sở …

“Sách vở của ông mang lại cho tôi trí huệ. Tất cả tư tưởng mà con người không ngừng sáng tạo qua hằng thế kỷ nay được cô đọng trong một khối u nhỏ trong sọ tôi. Tôi biết tôi thông thái hơn tất cả mọi người các ông.

“Và tôi xem thường sách vở của ông, xem thường tất cả mọi điều sung sướng và kiến thức trần tục. Tất cả đều là trống không, mong manh, hư ảo, và hão huyền như ảo vọng. Dẫu ông có tự kiêu, khôn ngoan và đẹp đẽ, nhưng rốt cùng cái chết sẽ quét ông khỏi bề mặt trái đất như lũ chuột ở dưới hang; và hậu duệ của ông, lịch sử của ông, và sự bất tử của các thiên tài của ông cũng sẽ như những vảy sắt đông cứng, cùng bị thiêu rụi với thế gian.

“Ông điên rồ, và đi sai đường. Ông chọn sự lừa dối thay cho chân lý và sự xấu xa thay cho cái đẹp. Hẳn ông sẽ lấy làm kinh ngạc khi đột nhiên cây táo, cây cam, sinh ra ếch nhái và thằn lằn thay vì quả, trái; và hoa hồng lại bắt đầu tỏa ra mùi mồ hôi ngựa. Vậy thì tôi có kinh ngạc về ông không, người vừa đánh đổi thiên đường cho trần thế. Tôi không muốn hiểu ông.

“Rằng thật sự tôi có thể tỏ cho ông thấy cái sự khinh miệt của tôi về cái cách mà theo đó ông sống, tôi khước từ hai triệu mà tôi từng mơ tưởng như là thiên đàng của tôi, thứ mà ngày nay tôi khinh miệt. Rằng tôi có thể tự mình tước đi cái quyền sở hữu của tôi đối với hai triệu ấy, tôi sẽ bước ra khỏi nơi này năm phút trước thời hạn qui định, và như thế sẽ vi phạm thỏa ước.”

Đọc xong, lão chủ nhà băng đặt tờ giấy xuống bàn, hôn lên đầu người đàn ông lạ, và bắt đầu khóc. Lão bước ra khỏi căn nhà nơi cánh vườn. Chưa bất cứ khi nào, ngay cả sau khi thua xiểng liểng vụ chứng khoán, lão cũng chưa hề tự khinh miệt bản thân mình như lúc này. Về nhà, lão nằm dài xuống giường, nhưng sự rung động và nước mắt cứ làm lão thao thức mãi chưa chợp mắt được …

Sáng hôm sau người canh giữ đáng thương chạy xộc vào tìm lão, cho lão hay rằng họ trông thấy người đàn ông sống trong cánh vườn leo xuống khu vườn bằng lối cửa sổ. Gã đi thẳng ra cổng chính rồi mất hút. Lão chủ nhà băng lập tức cùng đám gia nhân tới khu cánh vườn và làm xác minh sự kiện vượt trốn của tù nhân. Khi trở về phòng, để tránh những dị nghị, đồn đại không cần thiết, lão lấy tờ giấy khước từ đem cất kỹ trong tủ két.

 

 

 

Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Advertisements
Advertisements
%d bloggers like this: