Advertisements
//
you're reading...
Chiến Tranh, góp nhặt cát đá, Tìm Hiểu, Thời Sự, về Lịch Sử

Trận chiến Midway nhìn dưới góc cạnh đối đầu của hai văn hóa

 

 

 

Dương Thành Tân

“..Trung Cộng đang đi theo vết đổ của phát xít Nhật. Nhưng dù sao chép, cải tiến như thế nào đi chăng nữa, thì họ cũng vẫn không thể trông mong gì thắng nổi những quốc gia Tây phương khi các nước này liên kết lại…”

 

2

Tranh họa trận chiến Midway

 

Nhiều người thắc mắc rằng sự đối đầu giữa Trung Cộng và Hoa kỳ sẽ đi đến đâu? Nếu có chiến tranh thì sẽ ra sao?

Xin mổ xẻ lại một trận đánh giữa Hoa Kỳ và phát xít Nhật để tìm những sự tương đồng, và qua đó, độc giả sẽ hình dung được những gì sẽ diễn ra nếu có chiến tranh.

 

Ngày 4 tháng 6 năm 1942, 6 tháng sau khi bị Nhật đánh bất thình lình tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), nước Mỹ đã lật ngược thế cờ với trận Midway. Nhiều sử gia mô tả sự chiến thắng này như sự may mắn vì thiếu kinh nghiệm, thiếu hụt hàng không mẫu hạm, máy bay chiến đấu lỗi thời, không kinh nghiệm trận mạc… Vậy mà quân đội Mỹ đã đánh chìm tất cả những hàng không mẫu hạm và đẩy lùi đội tàu hùng hậu của Nhật. Nhưng đối chiếu theo tư duy về lối sống, cách suy nghĩ và nhất là cách quản trị của hai dân tộc Mỹ và Nhật thì mới thấy hết những nguyên do cho phép quân đội Mỹ chiến thắng. Từ đó suy ra, độc giả sẽ hiểu tại sao Mỹ, nếu lỡ có vũ khí không bằng Trung Cộng, vẫn trên cơ đối phương.

1. Giải Mã Hệ Thống Truyền Tin

Ưu điểm đầu tiên tạo được chiến thắng Midway, trước khi đụng trận thật sự, là hải quân Mỹ đã giải mã được hệ thống truyền tin của quân đội Nhật. Vì vậy đã dồn tất cả lực lượng (vỏn vẹn 3 hàng không mẫu hạm!) vào nơi xảy ra trận đánh. Còn quân đội Nhật ỷ y rằng không ai giải mã được những mật số trong hệ thống truyền tin của họ. Vì muốn làm được chuyện này thì phải có khả năng về toán học rất phức tạp, hiểu biết về tiếng Nhật rất cao siêu, có kiến thức về xã hội và lịch sử Nhật rất thâm sâu, nắm rõ cách thức truyền tin của Nhật và cuối cùng là phải biết phân biệt tầm quan trọng của những loại tin khác nhau. Tóm lại là một chuyện không thể tưởng tượng nổi!

Trong thế chiến thứ hai, chỉ có Mỹ và Anh phá giải được hệ thống mật mã của đối phương. Và những nhân vật chủ chốt trong công việc này đều là những kẻ khác thường, nếu không gọi là chẳng bình thường. Trong cuốn The Pacific Campaign, World War II, tác giả Dan Van de Vat có mô tả hai nhân vật chủ chốt của cơ quan giải mã:

Giữa thiếu tá Joseph J. Rochefort và đại úy Larance Saffort, không biết ai dị hợm hơn ai?

Những người này không thể nhập vào một khuôn khổ theo đúng những tiêu chuẩn xã hội. Dù là sĩ quan hải quân, Joseph Rochefort lại làm việc với quần áo ngủ, báo cáo lượm thượm, không có hồ sơ lẫn tường trình, rất ghét cấp bậc mà cũng chẳng ưa hệ thống giấy tờ văn phòng. Nhưng đô đốc Nimitz lại triệt để yểm trợ và bảo vệ tối đa cơ quan giải mã HYPO do Rochefort điều hành.

Xã hội lẫn quân đội Nhật thời đó không cho những con người lắm tài (lớn) nhiều tật (nhỏ) có đất sống. Trong một chế độ độc tài, những con người khác với thiên hạ đều bị loại khỏi xã hội và những ý kiến của họ đều bị bỏ qua. Những chính trị gia Nhật ôn hòa bị ám sát. Tháng 10 năm 1940, nhóm Soryokusen Kenkyujo, gồm 36 trí thức lỗi lạc của xã hội Nhật gồm quân nhân, ký giả, doanh nhân… đã nghiên cứu về chiến tranh toàn diện mà nước Nhật sắp triển khai. Kết luận của nhóm “think tank” này là nước Nhật chắc chắn sẽ thua trận! Họ còn dự báo cuối năm 1943, Nhật sẽ bị cắt đứt đường hàng hải. Cuối năm 1944, quân đội Nhật sẽ không còn khả năng chiến đấu. Nước Nga sẽ trở mặt gây chiến dù đã ký hiệp định hòa ước với Nhật. Những dự báo không được tầng cấp thống trị nghe theo và lịch sử đã diễn ra y như thế!

2. Sữa Chữa Hàng Không Mẫu Hạm USS Yorktown Trong Vòng 72 Tiếng Đồng Hồ.

Sau trận đánh bất phân thắng bại ở biển San Hô ngày 8 tháng 5 năm 1942, hai bên thiệt hại khá nặng. Chiếc hàng không mẫu hạm Yorktown bị hư hại khá trầm trọng, lê lết với tốc độ chậm về Trân Châu Cảng (Pearl Harbor). Sau một vòng khảo sát, các chuyên gia cho rằng phải mất 3 đến 6 tháng sữa chữa thì mới hoạt động trở lại. Đi cùng với họ và vì nhu cầu chiến trường, đô đốc Nimitz yêu cầu sữa chữa lập tức và tham chiến càng sớm càng tốt. Kết quả là 68 tiếng đống hồ sau, chiếc USS Yorktown ra khơi khi những thợ điện lẫn thợ máy vẫn còn làm tiếp công việc sửa chữa. Sử liệu khen ngợi sự sáng suốt của cấp chỉ huy mà thường quên đi công lao của 1400 kỹ sư và thợ thuyền làm việc ngày lẫn đêm. Mỗi cá nhân, từ mọi cấp bậc, thấy cái gì không chữa sữa được thì cắt bỏ, thay thế được gì thì thay thế. Hầu hết mọi người làm việc chẳng có bản thiết kế mà do tinh thần đồng đội phối hợp với ý kiến cá nhân.

Hai chiếc hàng không mẫu hạm Shokaku và Zuikaku về đến cảng hải quân sự Kure. Sĩ quan trông coi hải cảng, chuẩn đề đốc Yoshitake Miwa quyết định là sẽ sữa chữa, bổ xung, tái huấn luyện trong ba tháng dù tổn thất rất nhẹ. Cấp dưới chỉ biết tuân theo mệnh lệnh. Thế là trong trận đánh Midway, hải quân Nhật chỉ tham chiến với 4 hàng không mẫu hạm. Nếu họ khôn khéo xoay sở, thì có thể có thêm 2 chiếc nữa. Mỹ sẽ chật vật hơn nhiều vì chênh lệch, 6 chọi 3, thay vì 4 chọi 3.

3. Sự Uyễn Chuyễn Trong Nhận Thức Về Chỉ Huy

Với chức vụ tư lệnh hải quân Nhật, đô đốc Isoroku Yamamoto đã bày mưu tính kế cho trận chiến khá phức tạp và tỉ mỉ. Đến nỗi như bao nhiêu phi công làm việc gì, vào thời điểm nào, vân vân. Không một thuộc cấp nào có quyền cãi lại và cũng không ai dám đưa ý kiến trái chiều. Phó đô đốc Kusaka, tổng tham mưu của bộ chỉ huy tiền phương, nói riêng với những sĩ quan cao cấp :

Bộ tư lệnh đã quyết định kế hoạch tác chiến như thế thì dù muốn hay không, chúng ta phải thi hành !

Ngược lại, tổng tư lệnh hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, đô đốc Nimitz giao toàn quyền cho hai thuộc cấp dự trận trực tiếp. Ông chỉ nhắn nhủ với Fletcher và Spuance là :

Tránh đụng độ với một lực lượng mạnh hơn mình nếu không có cơ hội gây cho đối phương thiệt hại tối đa. Hãy tự lấy những mạo hiểm có tính toán !

Lúc những máy bay cất cánh, thì những vị đô đốc này lại giao toàn quyền lại cho các phi công. Khi bay đến địa điểm được chỉ dẫn nhưng không thấy hạm đội Nhật, một số phi đoàn trưởng như Jack Waldron, Wade McClusky… linh tính là hạm đội Nhật đã di chuyễn về hướng Bắc. Thay vì chờ đợi lệnh thì họ lại kêu những đồng đội trong phi đoàn: Hãy theo tôi! Và họ đã tìm được hạm đội Nhật.

Vì có máy bay hiện đại và có kinh nghiệm trận mạc hơn, quân Nhật bẻ gảy dễ dàng 7 đợt tấn công liên tiếp. Nhưng dần dần họ bị dồn vào tình thế nguy hiểm, phi công chiến đấu nhiều giờ liền nên bị mệt mõi, máy bay thiếu hụt nhiên liệu lẫn đạn dược. Những máy bay Mỹ kế tiếp chui vào lổ hỗng trong phòng thủ, bổ nhào xuống ném bom. Ba hàng không mẫu hạm Nhật bị đánh cháy và chìm trong vòng 10 phút. Vài tiếng sau bị đánh chìm thêm một chiếc nữa. Từ đó cán cân quân sự lật ngược, quân đội Nhật bỗng trở thành kẻ yếu, bị Mỹ và Đồng Minh vây đánh và cuối cùng phải đầu hàng.

 

3

Chiến hạm Mỹ ở Midway

 

4. Chủ Nghĩa Tự Do và Sáng Kiến Của Các Phi Công

Nhiều bình luận gia quân sự cho rằng trận đánh Midway, Mỹ thắng được là vì may mắn. Vì về số lượng chiến hạm, trình độ chiến đấu, máy bay hiện đại… thì rõ ràng là quân Mỹ thua kém đủ mọi mặt. Nhưng những sử gia lại bỏ quên yếu tố tâm lý và văn hóa của hai dân tộc, dù hiểu biết nhau nhưng rất khác biệt nhau. Hai quân đội đều có tinh thần chiến đấu, nhiều người trong số họ sẵn sàng hy sinh khi cần thiết. Nhưng văn hóa Nhật đã thổi phồng sự hy sinh thành một đạo đức. Còn bên kia thì ngược lại, nếu tránh được thì nên tránh!

Nhận thấy máy bay chiến đấu Wildcat thua kém máy bay Zero, thiếu tá John Jimmy Thach than thở :

-Thế nào cũng bị bắn trúng, vấn đề chỉ là sớm hay muộn!

Biết vậy nên Thach đã nghĩ ra cách chia đội hình thành từng đôi bay lượn xéo vào nhau . Chiếc này bảo vệ chiếc kia và cầm cự ngang tay được với đối phương ( Thach Weave, chiến thuật được các không quân thế giới áp dụng đến ngày nay. 

 

 

Ông làm được việc này vì máy bay Mỹ có hệ thống radio liên lạc. Phía Nhật không kết hợp tác chiến ở mức phức tạp được vì radio hoạt động không tốt. Trong mô hình chỉ huy hình tháp, ở trên ra lệnh ở dưới nghe theo, không cần liên lạc nhiều nên nhiều phi công Nhật đã vứt bỏ cả radio để cho máy bay được nhẹ hơn.

Khi hàng không mẫu hạm Kaga bị đánh chìm, phó đô đốc (Rear Admiral) Tamon Yamaguchi, người được xem là lỗi lạc nhất và có tiềm năng kế vị Yamamoto trong tương lai, lựa chọn ở lại và chìm theo tàu. Bên Mỹ thì ngược lại, khi soái hạm USS Yorktown bị đánh bom và bất khiển dụng, đô đốc Frank Fletcher trao quyền chỉ huy lại cho Spruance rồi thản nhiên rời tàu cũng các thủy thủ khác. Giống như Nimitz, ông cho rằng có người khác, ở một địa điểm ảnh hưởng trực tiếp với cuộc chiến, sẽ có những quyết định sáng suốt hơn mình. Cấp bậc, đối với quân đội Mỹ, không để sai khiến người khác, mà chỉ là một vị trí để làm những nhiệm vụ cần thiết.

Xa hơn một bậc, những chế độ độc tài đều xem thường mạng sống con người, một trong hệ lụy là hệ thống cứu thương của họ rất thô sơ. Phi công ách Harada Kaname, thuộc hàng không mẫu hạm Hiryu, được cứu vớt khi máy bay rơi xuống biển, bị thương sơ sài, thắc mắc tại sao được bác sĩ chăm sóc cho anh, trong khi những người khác thì không. Bác sĩ trả lời rằng hết sử dụng được thì cứ để cho chết! (Mở ngoặc thêm là chúng ta nên nhớ lại, những người lính cộng sản Việt Nam, Liên Xô, Trung quốc, Triều Tiên hy sinh nhiều hơn là bị thương. Mà lẽ thường trong những trận đánh thì ngược lại, người bị thương gấp đôi hay gấp ba người tử trận.)

Những chế độ dân chủ, mà Mỹ là một, coi trọng con người và tìm mọi cách để bảo vệ họ. Nào là hàng không mẫu hạm có hệ thống bọt CO² phòng cháy chữa cháy, nào là ghế phi công được bọc sắt chống đạn, túi cao su tự tóp lại trong bình nhiên liệu để chống lữa… toàn những ưu điểm nhỏ nhặt nhưng lần hồi thành những vũ khí vượt trội.

Kết Luận

Khi hai quân đội đối đầu nhau, chỉ diễn tả những gì xảy ra ngoài mặt trận mà bỏ qua những yếu tố chính trị, văn hóa, phong cách chỉ huy, tâm lý người lính… là những điều thiếu sót. Nước Nhật hấp thụ nền kỷ thuật văn minh của Tây phương, họ đã cải tiến, làm hay hơn. Nhưng trong bản chất, dù có sao chép thì họ vẫn không sao chép được phong cách sống và văn hóa của các nước này. Muốn làm vậy thì họ phải xóa bỏ chế độ quân phiệt, cho bầu cử dân chủ, xóa bỏ giai cấp phong kiến… Toàn những điều mà họ không làm được.

Oái ăm thay, 80 năm sau, Trung Cộng đang đi theo vết đổ của phát xít Nhật. Nhưng dù sao chép, cải tiến như thế nào đi chăng nữa, thì họ cũng vẫn không thể trông mong gì thắng nổi những quốc gia Tây phương khi các nước này liên kết lại. Đô đốc Yamamoto (trong chế độ độc tài, chỉ có một hay một nhóm người quyết định) không thể đánh bại những đầu óc của những con người, nếu tách ra mỗi cá nhân thì không thể so sánh bằng, nhưng vì sống trong môi trường dân chủ, biết cộng hưởng sự thông minh.

Tập Cận Bình, với địa vị độc tôn xuốt đời, sẽ không thể đối đầu được với thế giới khi họ ý thức được mối nguy từ đế quốc xâm lăng kiểu mới vào thế kỷ 21.

Dương Thành Tân

.

(Nguồn : ethongluan.org)

.

.

 

 

 

Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Advertisements
Advertisements
%d bloggers like this: