//
you're reading...
góp nhặt cát đá, Truyện ngắn, Văn Hóa Nghệ Thuật

Một tóe lửa, một vòng đen * Nguyễn Mạnh Côn

 

 

2Nguyễn Mạnh Côn sinh ngày mùng 7 tháng 5 năm Canh Thân (1920) tại Hải Dương, nhưng cư ngụ ở Hà Nội. Thuở nhỏ, ông học ở Hà Nội. Năm 1939, ông cộng tác với báo Đông Pháp, và sau đó (1945) là báo Thống nhất.

Năm 1949-1950, Nguyễn Mạnh Côn làm nhân viên Trường võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Đại học Trần Quốc Tuấn, hay còn gọi là Trường Sĩ quan Lục quân 1) ở Sơn Tây.

Năm 1951, ông hồi cư về Hà Nội, rồi đi dạy học tư.

Năm 1954, ông di cư vào Nam làm việc ở Đài phát thanh Sài Gòn. Sau đó, ông còn viết sách và làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút báo Chỉ đạo (19561961), Chủ bút báo Văn Hữu, đồng thời cộng tác với các báo, như: Tia sáng, Tin mai

Sau 30 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Mạnh Côn bị chính quyền mới bắt đi học tập cải tạo, và mất ngày 1 tháng 6 năm 1979 khi còn ở trong trại.

 

Tác phẩm chính

  • Việt Minh, Ngươi Đi Đâu? (1957)
  • Đem Tâm Tình Viết Lịch sử (1958)
  • Kỳ Hoa Tử (1960)
  • Truyện Ba Người Lính Nhảy Dù Lâm Nạn (1960)
  • Lạc Đường Vào Lịch sử (1965),
  • Con Yêu Con Ghét (1966)
  • Mối Tình Màu Hoa Đào (1967)
  • Giấc Mơ Của Đá (1968)
  • Tình Cao Thượng (1968)
  • Đường Nào Lên Thiên Thai? (1969)
  • Hòa Bình…Nghĩ Gì…Làm Gì (1969)
  • Sống Bằng Sự nghiệp (1969)
  • Yêu Anh Vượt Chết (1969)

(Nguồn: wikipedia)

 

@@@@@@@@@@@@

 

Tối hôm ấy trời phân phất mưa, gió hơi lành lạnh. Trong cái quán có ít người biết đến; và, có cái tên thơ mộng Mây bốn phương — một người trẻ đang hát trên micro một bản tình ca buồn, bằng giọng thấp hết sức ấm áp. Phía dưới, bộ râu nổi tiếng nhất nước — có lẽ nhất thế giới, sau bộ râu Sta-lin đôi môi mỏng tham lam, thốt ra những lời nhớ thương day dứt. Bên trong cạnh một chiếc bàn vuông; một người trẻ khác, có bộ tóc gợn sóng màu xám pla-tin; có lẽ cũng nổi tiếng nhất trong một quân chủng, đang nói nhỏ với mấy người cùng bàn:

“Thật ra, nhiều người đã kể chuyện tương tự. Ít ra ở Việt Nam, cũng có Khái Hưng, viết về người tài xế xe lửa phải từ biệt vợ hấp hối; để cầm máy chuyến xe lửa chở quan Toàn quyền Đông dương. Dọc đường, ông ta thấy có bóng người thấp thoáng trước mặt; ra hiệu cho tàu ngừng lại. Ông ta không dám làm theo, nhưng đến lúc nghe tiếng gọi cấp bách; thì, trong cơn mê hoảng; ông ta hết sức phanh tàu cho dừng lại. Mọi người đổ xô đến, thấy cách nơi tàu ngừng một quãng ngắn; có một con sông nước chảy xiết, còn cẩu đã gãy. Ông ta nhìn đồng hồ. Khi về, được biết bà vợ đã qua đời đúng vào đêm, giờ ông chồng thoát nạn.”

Chuyện được Khái Hưng phóng tác, từ một câu chuyện ngoại quốc — một người đứng tuổi nói tiếp. Cách đây mấy chục năm; địa vị Việt Nam còn khiêm tốn quá đối với quốc tế, nên không ai thấy cần phải ghi rõ xuất xứ những truyện ngắn được phỏng dịch, hay phóng tác.

“Câu chuyện của Khái Hưng có một phần khiến cho tôi chú ý — một người khác nói — người tài xế thấy con bướm mắc kẹt trên mắt kính ngọn đèn ở đầu máy xe lửa. ‘Bóng người trong sương mù’ là nhan đề của truyện; như vậy, rõ rệt ý tác giả có ý muốn gây nên, trong độc giả; một vài ý niệm bâng khuâng liên hệ từ cánh bướm trước ngọn đèn; ánh sáng chiếu thành bóng trắng trong đêm, rồi từ bóng trắng đến người vợ bạc mệnh.

Câu hỏi không được đặt thành lới; mà xao xuyến trong lòng ta, phải chăng là người vợ chết, thì linh hồn bà dõi theo đường đi, để cứu ông ta kịp lúc. Nếu bóng trắng trong sương thật sự là con bướm — theo lẽ, thì thân hình nó ngăn trở ánh sáng của ngọn đèn, bóng chiếu trên màn sương phải là bóng đen — thì linh hồn bà vợ đã nhập vào con bướm một phần — còn một phần quanh quất bên ông tài xế, đã tạo thành tiếng gọi ‘dừng lại’; chỉ một mình ông ta nghe thấy –có nhà văn nước ta diễn tả như một tiếng im lặng, một thứ tiếng im lặng; một thứ tiếng của quá khứ; hay, được giao truyền lại theo phương pháp cách cảm.

“Phải, người mang bộ tóc pla-tin nói: ‘vấn đề được đặt ra, gian tiếp hay trực tiếp; là vấn đề linh hồn. Trong truyện ngắn của Khái Hưng: con bướm đã chết — và, bóng người trong sương cũng quá mơ hồ, người đọc xong chỉ có thể cảm xúc mang mang, chứ không có y nghĩ nào rõ rệt; có lẽ, vì chính tác giả cũng không có chủ đích trình bày một quan điểm rõ rệt. Còn câu chuyện, tôi sắp kể cho các anh nghe; có một đặc tính là minh bạch hơn nhiều; cũng vì thế phi lý hơn nhiều”.

Một chàng phi công trẻ bất thần nghe được mấy lời nói sau cùng; anh ta đến gần, nói:

“Còn gì phi lý hơn những chuyện xảy ra hàng ngày chung quanh chúng ta? Thưa thiếu tướng, thằng Hoạch nó chết 7 giờ 30 tối hôm nay, em vừa được báo tin qua điện thoại. Đại úy Hoạch, anh chàng phi công quay ra nói với những người khác, với ngót 2 trăm phi xuất trên mặt trận giới tuyến; 3 lần bị trúng đạn đều nhẹ, mấy lần bị lủng cánh; vỡ đuôi; đều đem được tàu về bãi đáp. Thế mà, nghe tin vợ đẻ con trai; mừng quá, chạy gấp từ lầu 3 xuống; chân đạp vào một quả nho rơi mà ngã chết… thưa các anh, cuộc đời nó phi lý như vậy đó.”

“Đại úy Hoạch chết rồi! — người có mái tóc đẹp ngậm ngùi — linh hồn nó có nhớ đường về thăm vợ con; hay, về đây uống chút rượu này với chúng ta — ly rượu từ từ ngã; dòng nước vàng chảy lênh láng xuống nền nhà — và, nghe kể chuyện về bạn thân cùa nó’ thằng Phúc, hỗn danh Phúc Hên.”

Trung tá Trần Lương Phúc, còn gọi Phúc Hên, hôm nay đã ra khỏi quân chủng. Đời người phi công, đến tuổi nào đó, sẽ mất dần tính chất bén nhạy của phản ứng giác quan; đồng thời, cũng kém dần về sức chịu đựng dẻo dai của thân thể. Đến lúc nào đó, hay tuổi nào đó; một phi công chiến đấu sẽ không được lái tàu chiến đấu nữa. Đời người phi công đến đây là chết mất quá một nửa. Anh ta sẽ tìm cách xin biệt phái sang lái những chiếc tàu hạng ì-ạch, 3, 4 trăm/ cây số giờ; hoặc, lái những máy bay chở khách hạng trung, không vượt quá nghìn cây số.

Trung tá Phúc khi phải chọn lựa, đã không chọn cả 2 biện pháp. Ra khỏi hàng ngũ, anh tìm đến trú ngụ tại một thị trấn nằm bên bờ biển. Mỗi buổi sáng mua nhiều cá thả xuống một cái hồ nước nhỏ; và, mua thêm nhiều thứ ngô, đậu; làm thức ăn cho một giống chim trắng toát có vết đen nâu, có đôi cánh rất rộng; thường bay chập chờn, rỡn chơi trên những làn sóng bạc đầu, vào những ngày biển động. Ở nhiều nơi, người ta gọi loài chim đó là những con mố.

Mấy người thủy thủ Việt đi trên tàu xuyên đại dương cũng gọi chúng như vậy.

Trung tá Phúc có người em trai, kém 1 tuổi; cũng tên Phúc, Trần Nhân Phúc; nhưng không phải là Phúc Hên, vì hiện nay gọi là cố thiếu tá Phúc. Trong quân chủng, thiếu tá Phúc là Phúc Em. Em ngã tàu vào một buổi chiều mưa. Ba tháng sau, Phúc Hên không còn khả năng lái tàu chiến đấu nữa; nhưng anh ta vẫn còn trong hàng ngũ được mấy năm, làm phi công vận tải. Rồi sau đó, anh ta xin giải ngũ; ra ở ngoài bờ biển, ngày ngày nuôi những con mố đó; thì, có một con là em anh ta. Hay nói cho đúng; thì, có một con mố nào đó; ở một miền duyên hải nào đó của nước Việt Nam, nơi trú ngụ của linh hồn Phúc Em.

Câu chuyện thực buồn nhưng không đến nỗi đau khổ. Hai anh em Phúc cùng lớn lên trong một gia đình đoàn tụ, nên rất thương yêu nhau. Phúc Em có phần thông minh hơn; nhưng Phúc Em khỏe mạnh, to lớn hơn.

Phúc Em học giỏi, vượt theo kịp anh; rồi vượt luôn trong bảng sắp hạng tam cá nguyệt. Nhưng Phúc Hên không ghen với em, vì anh ta ham chơi hơn ham học — chơi, ở đây chơi thể thao, bóng đá, đánh quần vợt. Đấu võ, Phúc Hên có nhiều dịp bênh em trong những cuộc tỉ thí; nguyên nhân không mấy khi là ngoài mấy cô bạn gái xinh đẹp. Nhờ thế, anh ta không mang mặc cảm đối với cậu học giỏi; trong khi Phúc Em đã không dám coi thường anh — ngược lại, còn biết ơn và kính phục Phúc Hên, như một tay hiệp sĩ giang hồ.

Đến cuối ban trung học, Phúc Hên thi trượt phần 2 bằng tú tài. Anh không ngần ngại tình nguyện vào không quân. Phúc Em đậu cao, lên đại học được hơn 1 năm; rồi cũng tình nguyện vào không quân, tình nguyện theo học lớp hoa tiêu. Người ta có thể tin rằng thái độ sống ngang tàng, những cử chỉ hào hoa, phong nhã và, có lẽ cả bộ quân phục của Phúc Hên đã ảnh hưởng đến em anh ta không ít. Người tuổi trẻ làm bạn với nhân vật trong sách vở nhiều hơn với người đời, chắc hẳn đã qua người anh đã tạo thành một mẫu mực lý tưởng cho cuộc sống.

Phúc Em vào không quân, tốt nghiệp sĩ quan hoa tiêu, rồi nài nỉ xin về cùng đơn vị với anh. Vả từ bấy giờ, anh em không rời nhau lấy một giờ. Khi xuất trận thì cùng một phi tuần, khi dạo phố cũng cặp đôi… Thậm chí khi gặp Mến, cô sinh viên không bao giờ đánh phấn của đại học Y, Dược; thì, anh em không ai bảo nhau, lại cùng mê nàng một lượt.

Mến có lần tâm sự với bạn thân:

“Thật khổ cho tao: chọn một, thì tao biết chắc sẽ có một gia đình êm ấm; với người chồng thi gì cũng đậu, làm gì cũng xứng đáng hết. Nhưng tao còn trẻ, việc lấy chồng còn xa xôi; mà, ngay trước mắt lại có một người yêu lý tưởng, một người yêu quàng tay dạo phố; tao biết chắc không thiếu gì có đứa ghen tức, thèm thuồng. Băn khoăn quá, có lần tao đem đồng tiền xu mang hình cụ Diệm để xin ‘âm dương’ — ngửa chọn anh, xấp chọn em; sau lại sợ, không dám…”

“Thì mày chỉ việc nhận lời tên nào nói trước” — lời đứa bạn thân.

“Nhưng, chưa có tên nào nói cà”.

Đúng như thế, Phúc Hên không nói, Phúc Em không nói. Thâm tâm, anh nào cũng yên chí Mến ngả về mình nhiều hơn. Cả 2 anh em đếu không nói ra, hình như họ quyết định nhường cho nhau.

Một người bạn là cấp trên có dịp được nghe Phúc Em phân trần:

“Những kẻ đọc sách như tôi, nước ta không thiếu; mà thiếu những người như anh tôi. Đối với tôi, may có điều kiện học thêm, cũng đậu được cái bằng tiến sĩ, kỹ sư; rồi về nước, gặp hoàn cảnh thì tôi cũng có thể làm đến tổng giám đốc một xí nghiệp nào đó. Chỉ thế thôi, trừ phi tôi lao vào chính trị, cũng lừa lọc, gian dối như ai; hẳn là cũng có thể có một chân trong chính phủ… Còn anh tôi thì khác, đầu óc thực tế hơn, có tài tổ chức, lại chỉ huy vững vàng. Anh có đủ khả năng tự bảo vệ, đủ khả năng tấn công bất cứ ở đâu, lúc nào… nhất là trong công cuộc cải tạo xã hội; chúng ta cần đến hạng người có khả năng lôi cuốn nhiều người khác; hạng người tin tưởng vừa phải vào công lý; mà, cũng tin tưởng vừa phải vào sự thật.”

Rồi không biết liên tưởng thế nào, Phúc Em nói tiếp:

“Chính anh tôi mới đáng sống; cuộc chiến còn kéo dài, chưa biết ai sẽ thoát được. Nhưng, nếu tôi có quyền gì, tôi sẽ nhường sự sống cho anh ấy. Anh ấy đáng được hưởng hạnh phúc.”

Câu nói cuối cùng kỳ lạ, có thể là lời nói gở; Phúc Em gặp nạn sau đó ít bữa.

***

Vảo một buổi chiều vần vũ, trần mây thấp, gió mạnh; có một phi tuấn A-1 trên đường về; lại chỉ có 2 chiếc tàu của anh em Phúc. Tàu tránh mây đen phải bay thấp, giữ bình phi dưới 3000 bộ. Phúc Hên gọi em:

“Lốc Đen 2, đây 1, trả lời”.

“1, đây 2; nghe anh 5/5”.

Tiếng cười ngắn trên làn sóng, đoạn:

“Phúc coi chừng, chúng mình đang bay trên đất địch”.

“Lốc Đen 1 yên chí lớn đi… mấy thằng tay mơ không dám để lộ mục tiêu đâu!”

“Nghe nói có SA7 tầm nhiệt phóng tay; và 57 ly phòng không đấy. Đừng khinh địch, Phúc.”

Phúc Em cười thành một chuỗi dài:

“Phải rồi, ông bao giờ cũng thế, chỉ lo cho tôi. Ông quên rằng địch chỉ lo nhắm bắn thằng đấu đàn”.

“Nhưng tao là Phúc Hên, tao nhiều may mắn, mày quên sao?”.

Phúc Hên bỗng khựng lại. Phi tuần có 2 anh em; mình hên thì ai xui đây? Một chút gì tê tái mới chớm lên trong lòng, đã bị đè chặt xuống; Phúc gọi em bảo sang tần số của phi tuần:

“À này Phúc, tối nay về, đến chơi đằng Mến nhé”.

“Nên lắm, nhưng ông đi một mình.”

“Còn mày, sao không đi?”

“Tôi hơi mệt”.

“Láo. Mày phải đến, mày không đến, nó buồn.”

“Sức mấy mà buồn!”

“Sao lại không! Mày không thấy ư, hễ có mày, Mến tới ngồi sát bên mày suốt buổi sao?”

“Phải rồi, ngồi suốt buổi để tập đàn mà thôi. Còn ông, cứ ra ngoài đường, ai bám lấy tay ông kè kè đấy?”

“Thì… thì… nhưng, tao là anh, tao có nhiều kinh nghiệm hơn mày. Tao muốn mày…”

Một tiếng cười dở dang, bỗng tắt lịm. Một lóe sáng bên cánh phải. Một cách rất máy móc, Phúc Hên duỗi chân phải, co chân trái, nghiêng một nửa thân tàu. Và liếc thật nhanh, thấy tàu Phúc Em chao động.

“Hello… Phúc, Phúc, có sao kh… ô… ng?”

“Có”.

Tiếng cười đứt đoạn được tiếp nối. Phúc Hên mở thắng gió, nghiêng tàu trở lại. tàu của Phúc Em chao động mạnh, làn khói đen mù mịt phun về phía sau. Nơi chân, khói lửa vàng liếm chung quanh cốc-pít.

“Phúc, Phúc… đừng cười, tàu nổ đến nơi rồi, bấm dù mau đi”.

“Thong thả…” Tiếng cười ngắt quãng, nhưng vẫn là tiếng cười. Phúc Hên từ phiá dưới nhìn lên, hình như Phúc Em quay đầu lại tìm mình”.

“Phúc! nhảy ngay đi!… Anh bắn cô-vơ, đợi trực thăng đến bốc đi. Hello! Võng Mây, nghe thấy không? Trả lời?”

“Đâ, Võng Mây. Tôi nghe anh 5/5, mọi chuẩn bị đều sẵn sàng. Hãy cho tôi tọa độ, tôi cho…”

Tiếng Phúc Em cắt ngang, bình tĩnh:

“Lốc Đen 2 nói với Võng Mây… cảm ơn bạn, quá muộn rồi. Chúng nó bắn tôi hơi đau. Pháo bắn ghế không nổ… Tôi chỉ còn 1 tay…”

Đoạn, bất thình lình:

“Anh! Anh Phúc! Địch ở 2 giờ, coi chừng… để em xuống với chúng nó.”

Tàu của Phúc Em bốc cháy phừng phừng, bắt đầu nghiêng cánh phải. Từ một khoảng rừng thưa, màu xanh tươi giữa biển cậy xanh đen, có những đốm lửa bay lên, cách quãng nhau khá xa. Tàu của Phúc Hên rung rinh, vì những tiếng nổ gần. Những đám mây nhỏ nở hoa đen trắng trước cánh quạt, bên cánh đằng sau. Đúng rồi, chúng nó phục 57 ly kiểu mới của Nga ở đây, trước sau gì cũng có anh em bị.

Tĩnh Thúy đứng sau chàng trai vừa cất tiếng nói:

“Đằng sau vẫn yên, chỉ ly chén đổ lung tung. Hình như đuôi tàu đụng hơi mạnh. Anh Phúc này, đèn tê-moanh ra sao anh?”

“Không có gì, 3 máy đều, lái đuôi vững. Không hiểu… không hiểu tàu đụng phải cái gì. Biết đâu một SAM trúng vào, mà không nổ.”
Người trong tàu không thể nào hay biết được, nhưng viên sĩ quan vô tuyến giao liên đã biết:

“Anh Phúc, tôi vừa bắt được tần số thằng Jack của bạn nước vĩ đại cho biết, ‘nó vừa sát nhẹ vào một phi cơ ngược chiều; sau khi thoát khỏi đụng thẳng mặt. Nó nói ra-đa của nó nhận ra thì quá muộn; trong khi tàu trước mặt đã chúc xuống về phiá tay phải nó, vừa vặn kịp. Nó hỏi ‘có sao không’; nó đang bay vòng lại, bay ở cao độ 40 ngàn bộ; nó hỏi ta có can gì không; để nó còn báo về Cam Ranh… nó còn nói ‘ta ‘năm-bờ-oăn’.”

“Mẹ nó, cậu hỏi tại sao nó đi vào ‘way’ này?”

“Nó xin lỗi, nó nói ‘cao độ kế’ của nó bị hư’.”

“Mẹ nó, cậu cho nó biết ‘chúng ta ‘ô-kê’; trừ những hư hại có thể đến sau.”

Vừa lúc đó, Phúc Hên ngước mắt nhìn, thấy đèn sáng của chiếc khu trục.

“Cậu bảo, “ta tha cho nó, đi đi. Nó có theo mình cũng vô ích, lần sau thì tôi đập vỡ mặt nó ra.”

Chuyến bay tiếp tục; mọi người vây quanh hoa tiêu. Hỏi, ‘tại sao anh tránh kịp?’ Nhưng anh chỉ mỉm cười, yên lặng, xa vắng; cho đến khi Tĩnh Thúy nói một câu thật chính xác:

“Thì anh ấy là Phúc Hên, Phúc Hên mà!”

***

Sáng hôm sau, Phúc Hên về đến nhà. Ăn điểm tâm xong, ngồi hút thuốc lá ngoài hiên, nghe Mến kể:

“Lạ lắm anh, anh đi rồi thì có con chim trắng đến đậu trên hàng rào. Em đuổi, nó không bay đi; mà, em nói cái này, anh đừng cười em nhá… Em đến gần con chim, xua nó; nó không sợ; hình như nó cón ngoẹo cái đầu; rồi nhắm một mắt lại; y hệt chú… y hệt chú Hai trước kia, hay trêu em đó…”

Phúc nhảy một bước xuống sàn, nhìn quanh quẩn, hỏi: ‘đâu, nó đâu rồi…”

-Anh trung tá Soạn bảo, ‘nó là con ‘mố’, giống nó ở biển, khi vào đất liền là xui lắm, lấy súng bắn nó. Bắn hụt hoài, hình như nó có vẻ quyến luyến nhà mình. Nhưng săn nó mãi rồi nó cũng bay đi luôn. ”

“Mẹ nó, thắng khốn nạn!”

Mến ngạc nhiên, qua câu chửi rủa quá nặng. Nhưng nàng vẫn không ngạc nhiên bằng việc thấy Phúc nói, ‘xin giải ngũ, rồi bán nhà, ra biển lập nghiệp, để mỗi buổi cho chim ăn… như cố tìm lại ‘một con chim biết nhắm một mắt, ngoẹo đầu’ — là cố tìm thấy dấu vết người em thân mến xưa kia…

Nguyễn Mạnh Côn
(trong “Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến”, nxb vàng son, Saigon 1974)

.

(Nguồn: yeunuocvietnam.org)

.

.

Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: