Advertisements
//
you're reading...
Thiền, Thơ, về Phật pháp, Viên Linh, Văn Hóa Nghệ Thuật

Ni Sư Trí Hải và Ngọa Bệnh Ca – Viên Linh

 

 

Tác giả Trí Hải dịch nhiều hơn sáng tác, dịch giả đúng hơn là tác giả, nhưng văn xuôi của tác giả thì cuồn cuộn như thác nước, nhất là văn kể truyện, và nhất là trong tập san văn hóa Tuệ Uyển do Ni trưởng (chữ HT Minh Châu gọi Trí Hải) sáng lập điều hành từ 1994 ở Sài Gòn, ra tới năm thứ chín thì con thiên nga đầu đàn bay về cõi Niết Bàn. Có thể nói Tuệ Uyển là tập san mà chủ nhiệm chủ bút viết từ đầu tới cuối, từ “Lời Đầu Quyển” cho tới “Kho Tàng Nguyên Thủy” (dịch kinh), “ Phật Pháp Song Ngữ” và nhất là ký sự “Những Chuyến Đi,” đều do một người dịch, giảng, và kể. Trong bài “Đàm Hoa Lạc Khứ,” Trí Hải đặc biệt viết về Huế, Huế của riêng mình, mà Huế là tất cả của Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh.

 

2

 

Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh, pháp hiệu Trí Hải, dòng dõi Tuy Lý Vương, sinh ngày 8 Tháng Ba, 1938 tại Vỹ Dạ, Huế, nguyên quán Gia Miêu Thanh Hóa, khi còn trong bụng mẹ đã được qui y tam bảo bởi Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, sau này là đệ nhất Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam. Cô đậu tú tài năm 17 tuổi, tốt nghiệp sư phạm và dạy học tại trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng. Du học Hoa kỳ, đậu cao học ngành thư viện, về nước năm 1963. Quản thủ thư viện Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm 1970 thọ Bồ Tát Giới tại đại trai đàn Vinh Gia, sau đó giảng dạy tại các trường cao đẳng và đại học. (1)

Người viết bài may mắn có một tập bản thảo thơ nhan đề Ngọa Bệnh Ca do Trí Hải sáng tác các tháng đầu năm 2003, khoảng 9 tháng trước khi xả thân trong một tai nạn lưu thông trên đường tự nguyện đi cứu tế xã hội, lúc từ Phan Thiết về Sài Gòn, ở thế 65 năm. Tập thơ bản thảo do ni sư Tuệ Dung dàn trang và in ra bằng máy vi tính, dày 250 trang, với non 200 bài thơ ngắn dài.

Trong bản thảo Ngọa Bệnh Ca, có vài chục trang Trí Hải Phùng Khánh viết cho thân quyến hay viết về bà mẹ, về người cha, các anh các chị, bằng thơ hoặc ngũ ngôn hay bảy chữ, có thể coi như phần tự truyện – chỉ khác tự truyện thông thường là văn xuôi, ở đây mối thân tình ràng buộc đó, từ lúc ấu thời tới khi tự coi mình như “một người gỗ,” nằm trên giường bệnh trước và trong đầu năm 2003 vì bệnh xương cốt trầm trọng – Trí Hải viết bằng văn vần. Nhiều chỗ, đoạn văn vần ấy trở thành một bài thơ hay.

Trí Hải có thời là quản thủ thư viện đại học Vạn Hạnh, được Hòa Thượng Viện Trưởng Thích Minh Châu gọi là Ni trưởng.

Ni trưởng trong mấy năm cuối đời bị bệnh xương cốt, phải nằm yên một chỗ, thỉnh thoảng bị giật bắn người, đau đớn khôn tả xiết. Có lúc bà nghĩ: Hay hồi trước ta đã hạ dao chặt một con cá, nên bây giờ ta bị chặt quả báo như thế này? Riết rồi, coi mình như một người gỗ, bà chấp nhận những ngày tháng nằm trên cái giường xoay như những ngày tháng bình thường:

Phải chăng cá bị chặt
Hóa thân vào trong đây
Để cho ta nếm thử
Quả báo sát sinh này?
(Hỏi cột sống, Ngọa Bẽnh Ca, 42)

Hãy biến ngay giường bệnh
Thành một chốn đạo tràng
Cho mọi người vui vẻ
Đất trời cũng ngát hương.
(Nhắn nhủ, NBC, 9)

Phùng Khánh mồ côi mẹ lúc 6 tuổi, ở với cha là ngự y trong triều vua Khải Định (trị vì 1916-1925). Gà trống nuôi con nên khi ông vào triều phải mang con gái theo, để cho rong chơi trong cung An Định, do đó được Hoàng Thái Hậu Đoan Huy dạy dỗ, tắm rửa cho, mà lúc ấy Đoan Huy còn là một cung nữ, do đó bà mẹ Phùng Khánh coi cung khuyết như nhà riêng, chạy nhảy khắp ngõ ngách trong cung. Khi ở nhà, có thày dạy riêng mà không tới trường học, vì một lần ở trường “vì biếng học,” (chữ Phùng Khánh) bị thày đánh cho một roi, nên không tới trường nữa.

Tới tuổi đôi mươi, bà mẹ được tuyển vào “làm dâu” phòng Tuy Lý Vương.

Theo Phùng Khánh, bà mẹ “suốt đời soi tâm theo sách “Minh Tâm Bửu Giám,” để vàng cho con cháu không bằng truyền lại cho chúng nếp sống theo âm đức, gìn giữ thiện tâm, việc mình làm được thì dù có quyền cũng không nên sai phái kẻ khác, thọ ơn ai không được quên, gia ơn cho người không chờ được trả. Lúc nằm trên giường bệnh, nhớ lại lời mẹ dạy, dịch giả cuốn “Tạng Thư Sống Chết” tự nhủ với nếp sống ấy, Trí Hải cho biết mình  đang yên bình “trên đường về bến đỗ.” Còn người cha? Ông lúc nào cũng đọc sách văn chương kim cổ, sách tây sách tàu, giảng văn giọng sang sảng, “thân tại chốn hỏa binh và lòng Phùng tăng nơi chân không khách địa.”

Trong phần thân quyến, Phùng Khánh tả từng người, tả các anh trước rồi đến các chị, anh Minh thay cha nuôi các em, anh Đích là cuốn từ điển bách khoa cái gì cũng biết, anh Đệ hiền từ; các chị thì có Khánh Trợ, Phùng Mai, bị chị Khánh la là “dại cách chi,” bảo ngồi ngoài xe trông đồ để chị chạy vào chợ mua thêm một món cần, ra thấy mất mấy món đồ quí hỏi em thì Phùng Khánh chỉ vào trong chợ nói có một bà đến lấy đi vào trong chợ chỗ chị vào đó! Thế là bị bà chị than thở: “Đấy là kẻ ăn cắp, sao không la lên? Em quá dại cách chi!” Sau này nhắc đến, bà chị còn cười hoài, mà không trách cứ gì, chỉ thấy cô em bé khờ dại quá. Phùng Khánh cũng nhớ đến vài chuyện ăn trộm nữa, vì nhà ở gần sông, phía sau nhà có bến, nên kẻ trộm thường thừa cơ bơi thuyền qua xẹt vào lấy cái này cái kia mang xuống thuyền, mà bà chị cũng chỉ nói, “mấy thứ đó bán chẳng được bao nhiêu, chúng vơ vét càng hay, ta có dịp mua cái khác hay may đồ mới.”

Ngọa Bệnh Ca dày đến 250 trang, không rõ đã được in thành sách chưa? Đó là tập thơ làm trên giường bệnh, và rất nhiều bài nhiều đoạn nói về chuyện sinh tử. Nhân ngày kỵ giỗ Trí Hải (mất ngày 7 tháng 12 năm 2003 tại Phan Thiết) chúng ta hãy đọc một bài điển hình của người đã khuất:

Sống chết
Sống trong hơi thở vào
Chết cùng với hơi ra
Ngày đêm liên tục chuyển
Kiếp số như hằng sa

Hít vào, ta còn đó
Thở ra, đã hết ta
Ta hòa cùng với gió
Thành vũ trụ bao la

Ta như làn sóng nhỏ
Giữa đại dương cuộc đời
Sóng có khi còn mất
Biển cả không đầy với.
(NBC, trang 23)

1.Trí Hải đã cho xuất bản các tác phẩm chính sau đây:

-Câu Chuyện Dòng Sông, dịch Herman Hesse, Lá Bối, 1965.

-Con Đường Thoát Khổ, dịch W. Rahula, Ban Tu Thư Vạn Hạnh ,1966.

-Huyền Trang, Nhà Chiêm Bái và Học giả, Vạn Hạnh, 1966.

-Bắt Trẻ Đồng Xanh, dịch D. Salinger, Thanh Hiên 1967, Nhã Nam 2008.

-Gandhi Tự Truyện, dịch Gandhi, Võ Tánh, 1971.

-Câu Chuyện Triết Học, dịch cùng Bửu Đích, Will Durant, Viện Đại Học Vạn Hạnh.

-Thanh Tịnh Đạo, dịch B, Buddhaghosa.

-Tư Tưởng Phật Học, dịch W. Rahula, Vạn Hạnh, 1974.

-Giải Thoát Trong Lòng Tay, Thanh Văn xuất bản.

-Đường Vào Nội Tâm, dịch, 1993.

-Tạng Thư Sống Chết, dịch The Tibetan Book of Living and Dying của S. Rinpoche, 1996.

-Tâm Bất Sinh, dịch Bankei, Hoa Đàm, 2005.

.

(Nguồn: nguoi-viet.com)

.

.

Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Advertisements
Advertisements
%d bloggers like this: