//
you're reading...
góp nhặt cát đá, Phong Tục Tập Quán, Về Huế

Phong tục ma chay của người Huế

 

Bài viết của Trần Như Lãm

 

“Sinh hữu hạn tử vô kỳ”. Có sanh ắt có tử. Sinh, lão, bệnh, tử là quy luật của tạo hóa. Phong tục ma chay của nhiều địa phương trên địa bàn Thừa Thiên Huế tuy có nhiều nét khác nhau nhưng vẫn giống nhau ở những điểm cơ bản.

Khi có người qua đời, nếu chết ở đường xa, quan tài không đem vào nhà, mà làm tang ở ngã ba đường cái. Nếu qua đời trong sự bình thường, quan tài thường được quàng ở nhà lớn. Tùy theo địa vị trong gia đình quàng ở căn giữa, căn trên hay căn dưới. Người ta truyền miệng cho nhau trong làng cùng biết. “Nhất cận thân, nhì cận lân”, bà con lối xóm tập trung đông đúc, người làm rạp, người trang hoàng, người tẩm liệm. Công việc rộn rịp trong ngày đầu. Từ chết không ai được dùng đến, mà gọi là mất. Người vừa mất được đặt trên cái giường quay đầu ra ngoài sân.
Cơm gối đầu: Liền sau khi mất, người nhà đơm một chén cơm đầy vung, chén cơm để một cái trứng vịt đã lột vỏ và cấm vào chén cơm đôi đũa tre, trên đầu đũa có vót cho tre quấn lại thành cái bông, rồi để chén cơm ấy phía trên đầu người chết.

Tẩm liệm: Người chết được tẩm liệm bằng nước sôi để nguội, dùng vải sạch lau lên thi thể. Có khi phun rượu để uốn nắn chân tay đã cứng và cong. Thay bộ quần áo cũ bằng bộ quần áo tang vải sô. Mặc thêm bộ quần áo thường dùng còn mới, cắt bỏ khuy nút bằng kim khí, xương, sành, để tránh sau này thi thể thối rữa, nút lẫn lộn với xương. Người ta nhét vào miệng người chết miếng bã trầu và vài hột gạo hoặc cái khâu màu vàng, tục này gọi là phạn (ăn) hàm. Ở tay đặt vào vài đồng tiền xu xưa, hoặc tiền đang lưu hành, mục đích để người chết dùng tiền mà “đi đò” (đò âm dương – từ dương gian sang âm phủ). Đặt trên bụng một con dao hay cái liềm để trừ tà ma. Lúc khâm liệm, người lớn tuổi tin Phật, đắp thêm trên người chiếc áo Quan Âm. Những người chết oan, giờ xấu thêm vào quan tài lá bùa do thầy pháp vẽ, hay bỏ thêm bộ bài trùng. Thân thể được vấn lại bằng cây vải thô dài trắng. chọn giờ tốt mà nhập liệm tránh tương khắc những người thân trong gia đình, nhất là người trưởng.

Quan tài (hòm) được trét đất sét phía trong, đất nhào thật nhuyễn với nước cơm (hồ) trát đầy phía trong, ở các góc và các kẽ hở. Dùng lá chuối xanh dán vào lớp đất, lót ở trong đáy hòm nhiều mạc cưa, mun (tro bếp) phòng hờ nhiều năm sau, có thể cải táng mà nhận dạng.

Khi làm lễ hạ thổ thi thể đàn ông đưa lên đưa xuống đất 7 lần (7 vía), đàn bà 9 lần (9 vía). Nói như vậy nhưng mục đích là để khí dương trong thân thể người chết thoát hết vào đất. Sau khi đặt thi thể người chết vào quan tài, phủ đất kín mít. Đậy nắp quan tài cũng phải coi giờ tốt. Dùng dây mây hoặc tre dài làm dây néo ở hai đầu quan tài thật chắc (hơi trong quan tài mạnh có thể làm bật nắp quan tài). Quan tài đặt trên hai ghế ngắn. Chân ghế có cột vải tẩm dầu hỏa để phòng ngừa kiến leo lên. Dưới quan tài đặt một dĩa đèn dầu phụng thắp sáng ngày đêm, mục địch hơi dầu phụng thơm, xông lên đánh tan mùi tử khí. Vì vậy, lúc bốc mộ dùng dầu phụng bôi vào mũi tay chân tránh được mùi xú uế, mùi tử khí. Các thứ dầu Nhị thiên đường, dầu thêm đến mức nào cũng không ngăn được loại mùi chết đó!…Ngoài hòm trang trí các hoa văn, cánh sen hoặc sơn phết cho đẹp, còn phủ lên trên hòm vải trắng có “đăng ten”, bấy giờ hòm gọi là linh cữu. Trước linh cữu có bàn soạn thiết trí linh vị có ảnh, chúng ta thường gọi là linh sàn. Trước linh sàn, đôi khi có nhà đặt bàn Phật, có nhà lập bàn Phật xây qua hướng khác.

Chùa có sắn cây triện, lên đó mượn, rồi viết lên một miếng vải hoặc giấy ghi tên tuổi làng xã… người mất. Chữ viết trên triện phải theo quy luật:

Người chết là nam, tổng số chữ viết trên triện chia cho 4, còn lẽ ba (quỹ, khóc, linh). Người chết là nữ, chữ trên triện chia cho 4 là chẵn (quỹ, khóc, linh, thính). Viết xong treo trước quan tài. Không có lá triện là “ma chết không triện” nên phải có.

Đám ma ở làng, nhà giàu thường mời thầy chùa, thầy pháp, nếu không, nhờ khuông hội Phật giáo làng cúng kiến tụng kinh. Chương trình tang lễ được đặt ra tùy theo xem được ngày giờ chôn cất. Nếu không coi ngày giờ, nội trong ba ngày là phải chôn cất: “Tam nhật nội chi nội bất khán lịch nhật”. Người chết gặp lúc cận Tết phải chôn cất vào ngày 30 tháng Chạp, không được để sang năm mới.

Sau khi lập liệm xong, trang hoàng nhà cửa tươm tất rồi làm lễ thành thục. Lễ thành thục là lễ chịu tang, con cháu nội ngoại, dâu, rễ, chắt chiu họp lại bịt khăn tang. Ai cũng dùng sắc phục màu trắng; riêng chắt nội mặc áo và bịt khăn màu đỏ, chắc ngoại mặc áo và bịt khăn màu vàng.

Lễ thành phục xong, con trai, cháu nội đích tôn đội mũ rơm, chống gậy tre (nếu ông nội hoặc cha mất), gậy vông (nếu bà nội hoặc mẹ mất). Phụ nữ là con, vợ, dâu trùm vải lên đẩu gọi là mũ mấn. Quanh quẩn bên quan tài không được lớn tiếng và ngồi ăn uống với khách đến viếng thăm, chỉ được phép đứng. Trước lúc làm lễ thành phục phải có cau trầu rượu thưa chuyện và mời một vị làm chấp lệnh nội (thường là các vị trưởng Họ, Phái; nếu gia đình neo đơn phải mượn người lớn tuổi quen biết). Ông chấp lệnh là người điều hành tang lễ trong suốt thời gian tang chế. Mọi người trong hàng tang chủ phải tuyệt đối chấp hành, trình bày với “quan” chấp lệnh vì “tang gia bối rối” nên không sáng suốt để điều hành công việc. Tập quán làng hễ có người qua đời, việc đầu tiên là đến thăm hỏi, sau đó ngày khác phúng điếu. Lễ vật cúng điếu là hương (nhang) và tiền (không nhiều). Đây là nghĩa vụ của người dân hương thôn gọi là “thù tạc vãng lai” (có qua có lại). Nếu là sui gia, Họ, Phái, tổ chức tập thể phải có thêm mâm cau trầu rượu. Lệnh kiểng để làm lễ có phân loại:
-Ba hồi lệnh và ba đùi (tiếng) dành cho các đơn vị lớn hơn như Làng, Họ, Phái, Xóm
-Một hồi lệnh và ba đùi (tiếng) dành cho thông gia hoặc ai có mâm cau trầu rượu
-Ba đùi (tiếng) là tình làng nghĩa xóm.
Nghe tiếng lệnh là phân biệt được ai đang phúng điếu.

Trước ngày đưa đám có lễ cúng như: yết cáo từ đường (trình với tổ tiên ngày mai đến ở chỗ mới), triêu điện (lễ buổi sáng), tịch điện (lễ buổi tối). Đêm trước ngày mai đưa linh cữu về nơi an nghỉ cuối cùng có lễ nhiễu quan. Lễ nhiễu quan là lễ đi quanh hòm, để tỏ sự luyến tiếc lần cuối đối với người chết.

Lễ cáo đạo lộ là lễ trình xin đường với thần giữ đường ngày mai đưa đám, đặt bàn có hương hoa và cáo ở đường lộ gần nhà (lễ này cáo ban đêm, chủ lễ là người không bịt khăn tang). Sáng ngày di quan có lễ khiển điện và lễ triệt linh sàng.

Âm công: Trước vài ngày, tang quyến lên danh sách mời một số trợ tang để đưa linh cữu ra đồng (nghĩa trang). Bộ phận trợ tang này gồm rất nhiều người:
1 “quan” Chấp lệnh ngoại
1 “quan” Quản áp (cai giang)
1 ông giàn đồ thứ (người phân công việc)
4 vị đầu roi
50 âm công

Nếu có nhiều trướng liễn, lẵng hoa, vòng hoa…phúng điếu, số người tăng lên, tổng cộng gần cả trăm người. Những vị này có thể nhờ những người trong Họ, Phái và bà con xóm giềng. Lệ làng không nhận thù lao. Thông thường tang quyến dù giàu hay nghèo đều có tổ chức ăn uống. Có thể dùng bữa trước khi di quan hoặc sau khi chôn cất xong. Sau khi chôn cất xong, về nhà làm lễ “phản khóc” (hết khóc) là công việc đã xong, có thể ăn uống giải lao.

Giàn đám
Trước một ngày đưa đám, mọi người tập trung làm mọi công việc. Cánh đàn ông đi khuân vác giàn đám về kết. Giàn đám làm bằng gỗ tốt, có hai đòn bông to dài, đà chịu lực, nhiều xà bang và một khung gỗ hình chữ nhật, trang hoàng lộng lẫy để che quan tài. Quan tài được đặt bàn chính giữa bàn đám, chung quanh gồm 8 hoặc 10 bụp (chỗ âm công gánh). Người trước cách người sau nửa bước chân, nên khi gánh đám không thể đi nhanh vì sợ vấp chân người trước. Vì vậy phải đi chậm rãi “như đưa đám mệ”. Nhìn từ xa như con rết khổng lồ chuyển động.

Di quan:
Ban âm công gồm:
1 Cai giang thắt lưng màu đỏ, cầm hai cây đèn sáp lớn và một cặp sanh (trắc)
4 ông Đầu roi thắt lưng màu trắng, cầm một cây đèn sáp nhỏ và một cây cờ nheo (cờ ba cạnh)
16 âm công hoặc nhiều hơn cầm mỗi người một cây đèn sáp nhỏ, áo dài đen quần dài trắng

Sau khi nghe gióng lệnh kiểng của ông chấp lệnh, ông Cai Giang đánh ba hồi trắc và ba tiếng báo hiệu giờ di quan bắt đầu. Ban âm công sắp một hàng dài trước sân theo thứ tự như trên, đi vào nhà, vòng quanh quan tài một vòng (theo chiều kim đồng hồ) rồi ra sân, mục đích quan sát trước chỗ đặt quan tài để khi di quan khỏi bỡ ngỡ. Lúc này gia chủ để một mâm cau trầu và tiền bạc trên chiếc bàn đặt trước linh cữu gọi là lễ bái quan. Sau khi bái quan, âm công nhận lễ vật này.

Ra đến sân, âm công thắp tất cả đèn sáp (vẫn giữ một hàng dọc và thứ tự như trước). Từ đó, Cai Giang cất cặp sanh, im lặng ra lệnh bằng đèn sáp, không ra lệnh bằng tiếng. Cai Giang dẫn đầu đoàn âm công đi năm bảy vòng (theo chiều kim đồng hồ) trong sân như rắn bò (liên xà). Sau cùng, một vòng lớn rồi tiến thẳng vào nhà đến trước quan tài. Cai Giang dừng lại trước quan tài. Đoàn âm công tiếp tục rẽ phải, rẽ trái chia làm hai hàng đi ra; dẫn đầu mỗi hàng là một ông Đầu roi.

Cai Giang bấy giờ đứng trước mặt bốn hàng âm công. Đứng đầu mỗi hàng là một ông Đầu roi, đồng làm lễ bái quan một lạy. Tang chủ đứng hai bên linh cữu lạy ra một lạy (lạy trả). Bái quan xong, hai hàng âm công ở giữa quay đằng sau mà bước tới (đi ra) để chắp vào đuôi của hai hàng ở hai bên, làm thành hai hàng dài, đầu đầu và đầu đuôi của một hàng có một ông đầu roi. Cai Giang bấy giơ giơ cao đèn sáp ra lệnh hàng bên phải, hàng bên trái vào đứng hai bên quan tài để di quan.

Quan tài vừa ra khỏi nhà, một người ở trong nhà dùng tấm ngói hoặc om đất, dĩa đất ném mạnh xuống đất tạo ra tiếng động lớn “choảng” sau đó rút một tấm tồn trên mái nhà hoặc rạp, mục đích để hồn ma đi ra không vương vấn lại nhà. Quan tài ra đến sân, tất cả đoàn âm công đều tắt đèn. Cai Giang dùng trắc và tiếng hô để ra lệnh âm công đưa quan tài vào bàn địa dư (bàn để linh cữu). Bốn góc quan tài có bốn ông Đầu roi giúp Cai Giang ra lệnh nâng góc quan tài lên hay hạ xuống hoặc chuyển lệnh của Cai Giang đến âm công.

Trước khi khởi hành, Cai Giang thường báo cho âm công biết lộ trình đến huyệt mả xa gần, dễ đi hay trắc trở khó khăn, khuyên cố gắng bình tĩnh. Lệnh ra dõng dạc và nghiêm, thường dùng các từ sau đây:
“Tiền hậu bơi hai đốc (âm công dạ…)”. Dãy trong cho chí dãy ngoài, tất cả nghe cho rõ, nghe cho lọt trắc. Gõ nhịp dắp hai tiếng trắc là đi. Gõ một tiếng là đứng lại. Bốn góc có bốn ông Đầu roi trợ giúp. Cho một lớp eo mà eo giả, eo thật. Không xách, không nhún, khom lưng, chống đầu gối, tay bóp nài. Cho một lớp vai. Đi chậm chậm, rà chân. Cai Giang tùy ý điều khiển, sắp xếp hiệu lệnh. Nghề này không có sách vở dạy, miễn sao âm công gánh cho đầm, hạ huyệt cho êm là nhiệm vụ chính của Cai Giang.
Đưa đám ra đồng đi xa hay gần đều phải gánh bộ. Đoàn người tiễn đưa rất đông. Nếu đường xa phải thay đổi lớp âm công dự bị gánh. Linh cữu ngang qua các nhà thờ lớn, đình chùa, miếu, Cai Giang cho dừng lại, ra lệnh ra vai xuống eo để tỏ sự tôn kính. Qua khỏi, mới lên vai đi tiếp. Người trợ tang dùng lọng che phần cổng của am miếu cho đến khi linh cữu qua hết mới cất đi. Việc di quan từ trong nhà ra xe là quan trọng, nhộn nhịp, người nào cũng khẩn trương. Người đi xem nô nức như xem hội múa hoa đăng.

Tế đạo trung:
Đi được nửa đường làm lễ tế đạo trung, cũng là dịp để âm công nghỉ ngơi. Thân bằng quyến thuộc ai chưa đi điếu được, đây cũng là dịp để phúng điếu vì sau khi chôn cất xong không được đi điếu nữa.

Hạ khoáng – hạ huyệt
Huyệt đào chôn phải thâm thổ 3 tấc đất, nghĩa là đến lớp đất nguyên sơ (mặt đất cũ) phải đào sâu thêm ba tấc nữa (30cm). Vì chôn trên cao, xương bị khô; chôn quá sâu, xương bị mục. Chôn sâu ba tấc đất là đủ khí âm dương, là tốt. Trước khi hạ huyệt, có lễ trị huyệt để đuổi tà ma ẩn núp trong huyệt.

Lễ tạ thổ thần ở nghĩa địa: Chôn xong, làm lễ tạ thổ thần tại mả gồm bông hoa, bộ áo thổ thần. Chủ lễ là người không bịt khăn tang.

Mở cửa mả:
Ba ngày sau, tính từ ngày đưa linh cữu ra đồng, làm lễ mở cửa mả để linh hồn người chết về với gia đình nhờ rải giấy vàng trên mỗi đoạn đường từ nhà đến huyệt mả trong ngày đưa linh cữu ra nghĩa trang nên linh hồn người chết biết được đường về nhà khi mở cửa mả.
Làm lễ mở cửa mả là thầy cúng dùng con dao vạch lên phía chân nấm mả ba đường dọc và đọc thần chú (mỗi lần vạch dao là đọc một câu thần chú).
-Nhất trung, khai môn mộ, hung thần tốc xuất;
-Nhị tả, khai môn mộ, vong giả an cư;
-Tam hữu, khai môn mộ, gia phước an khang.
Dịch nghĩa:
-Một vạch ở giữa, mở cửa mả thần hung dữ phải ra mau.
-Vạch thứ hai phía trái, mở cửa mả, người mất ở yên ổn.
– Vạch thứ hai phía phải, mở cửa mả, gia đình được phước yên lành.

.

(Nguồn: khamphahue.com)

.

.

Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: