//
you're reading...
góp nhặt cát đá, Văn Hóa Nghệ Thuật

Bùi Giáng và những chuyện chưa kể

 

 

1

 

Sau năm 1975, anh Bùi Giáng về ở chung với chúng tôi trong nội xá Viện Đại học Vạn Hạnh cũ (222 Trương Minh Giảng, nay là Lê Văn Sỹ). Vào thời điểm này, Đại học Vạn Hạnh không còn hoạt động nên nội xá chỉ còn một số ít người ở lại với hòa thượng Thích Minh Châu. Chúng tôi quản lí chung, chú Chơn Thuần đi chợ và làm thị giả cho hòa thượng Viện trưởng, anh Trần Châu phụ trách an ninh, anh Bùi Giáng thì nhận nhiệm vụ đi mua lương thực.
Vào thời đó, mỗi hộ đều có một cuốn sổ lương thực. Anh Bùi Giáng giữ sổ cẩn thận và đảm trách công việc đi mua lương thực rất chu đáo. Trong khoảng thời gian ở chung, anh chưa một lần bỏ công việc. Chỉ khi nào hợp tác xã bán khoai sắn hay những loại lương thực giả rẻ, anh mới mua về rồi mang phân phát cho những người nghèo. Nhiều khi thấy anh vác những bao gạo 10kg hay 20kg lên cầu thang, chúng tôi ái ngại, xuống vác giùm, nhưng anh không chịu. Cứ mỗi lần buông bao gạo trên vai xuống, dường như anh vui hơn, khỏe hơn và tỉnh táo vô cùng, lạ thật!


Anh Giáng rất thương người. Nhiều lần anh xin chúng tôi tiền, đi rảo quanh chợ, cho những người nghèo khó mà anh đã theo dõi và biết rõ vê hoàn cảnh khó khăn của họ. Có lần anh muốn giúp người nào đó quá khó khăn túng thiều với số tiền nhiều nhưng không dám xin tiền chúng tôi, nên anh vào phòng gom quần áo, sách vở của chúng tôi đi bán ở đâu không biết. Hai ba ngày sau mới về, như một người biết lỗi, anh len lén vào phòng, ngồi im trong một góc giường. Nhìn thấy bộ dạng của anh, chúng tôi không còn giận nữa, nhưng vẫn làm nghiêm hỏi:
– Anh lấy quần áo sách vở của tôi phảỉ không?
– Phải!
–  Để làm gì?
– Giúp người!
– Tại sao anh lấy đồ vật của người ta mà còn kỳ thị địa phương?
Anh ngạc nhiên hỏi lại:
–  Cái gì?
–  Áo quần, sách vở của chúng tôi để chung với anh Châu. Anh Châu đồng hương Quảng Nam với anh, nên anh chỉ lấy quần áo sách vở của chúng tôi, còn của anh Châu thì anh không lấy thứ gì cả, kỳ thị địa phương chứ gì nữa?
Anh phì cười:
–  Không phải đồng hương đồng khói gì cả, chỉ vì thằng Châu sinh viên nghèo, lấy của nó tội!


Rồi sau đó, viện đại học Vạn Hạnh được sử dụng làm Trường Đại học Sư Phạm, chúng tôi dời về 716 Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận. Khi về nơi đây, anh Giáng không về theo. Anh đi đâu không rõ. Hơn nửa năm sau, anh mới trở lại. Anh lặng lẽ đi vào phòng chúng tôi, đặt lên bàn một nải chuối chin vàng rất đẹp và một lá thư rồi lặng lẽ đi như đã đến. Chúng tôi xúc động vì lâu ngày mới gặp lại anh và ngạc nhiên vì cử chỉ khác thường của anh. Chúng tôi trân trọng đặt nải chuối lên cúng Phật và cầm lá thư đọc:


“ Ngã hữu thốn tâm vô dự ngữ,
Hồng Sơn, sơn hạ Quế giang thâm…”


Không biết hai câu thơ này do chính anh làm hay trích dẫn của ai, nhưng đọc xong chúng tôi lặng cả người vì tình cảm nồng hậu của anh.


“ Ta có tấc lòng chưa ngỏ được
Dưới chân núi Hồng, sông Quế mãi sâu!”


Sau đó, anh thường xuyên lui tới với chúng tôi, nhiều khi ở đây đến hai ba tháng liên tục, rồi đi đâu đó nửa tháng mới trở lại.
Một lần, anh trở về với tiếng chó sủa, tiếng kêu inh ỏi của bầy chó, anh gọi chúng tôi ra ngồi dưới gốc cây hoa hậu nói chuyện. Anh cho biết, anh mới từ Long An về sáng nay, ghé chợ nhỏ Phú Nhuận, nhâm nhi cốc nhỏ cho ấm bụng. Nhưng nghe tiếng kêu của bầy chó và bộ dạng quen thuộc của anh, lũ nhỏ bán bánh kẹo quanh chợ liền tụ tập quanh anh khá đông. Anh đọc thơ, nói đủ thứ chuyện cho bọn trẻ nghe. Chúng mải mê theo anh nên quên cả bán buôn. Thấy trưa rồi, anh mới nói:
– Trong tụi bây, đứa nào làm được hai câu thơ thật hay, tau sẽ mua toàn bộ bánh kẹo, nếu không được thì tất cả phải đi bán nghe chưa?
Sau một đỗi, có đứa nhảy ra trước mặt anh và nói:
– Thật không bác?
Rồi chẳng cần anh trả lời, nó ứng khẩu đọc liền:
– Sáng nay bán ế quá chừng,
Vì nghe bác Giáng nói khùng, quên đi!
Thế là bao nhiêu tiền trong túi, anh đem cho hết bọn trẻ.
Mỗi lần hết tiền, anh thường tìm đến chúng tôi và lần này… kể xong chuyện, anh tặng chúng tôi hai câu thơ:
“Đến thăm sư phụ Chơn Nguyên
Trẫm từ vô tận ưu phiền tái lai…”
Sau khi trả tiền cho anh trả tiền rượu vầ tiền xích lô, chúng tôi gởi tặng lại anh hai cấu thơ:
“Nghe tin sư phụ thở dài
Đến đây Bùi Giáng đòi hoài tiền xe!”
Anh Bùi Giáng gọi chúng tôi với đủ danh xưng, như trong tờ giấy chép thơ tặng chúng tôi, anh ghi:
Kính gởi Sư phụ, Đồng chí, Đại ca Thích Chơn Nguyên:
Anh vẫn tưởng đầu đường thương xó chợ,
Có ai ngờ xó chợ cũng thương nhau…


Một hôm, có người rủ anh về lục tỉnh chơi, anh mải vui dưới đó hơn ba tháng mới trở lại, chắc là nhớ Thiền viện Vạn Hạnh lắm, nên mới sáng tinh mơ, anh đã đến Viện để trao tờ giấy:
Kính gởi Thầy Minh Châu, Thầy Chơn Thiện, Thầy Chơn Nguyên,
Kính dâng Vạn Hạnh một tờ,
Kể từ vô tận bất ngờ tái lai!
Chuyến đi anh quá phung phí sức nên đến Viện vài hôm, anh ngã bệnh. Chúng tôi săn sóc và tẩm bổ cho anh cả tháng mới hồi phục – vừa khỏe xong là anh lại đi. Trước khi đi, anh để lại bài thơ:
Thầy vui như thể thiên thần,
Con buồn như thể tuyệt trần bấy nay
Thầy vui Vạn Hạnh bấy chầy,
Con buồn chết đứng giữa ngày phù du!
Sau đó, vắng anh một thời gian khá lâu, mới biết anh về ở với người cháu sau lưng chùa Liên Ứng. Chúng tôi đến thăm anh vào một đêm rằm, trăng đổ đầy khu vườn anh ở, mới gặp nhau chưa kịp mừng, anh hỏi như kẻ lạ:
– Đi đâu đó?
– Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa!
Câu trả lời làm anh vui, phấn khởi như ngày tháng quen cũ. Anh đọc đủ loại thơ, với nhiều giọng, kể cả giọng “Quảng Nôm” của anh.
Trước khi ra về, anh đưa chúng tôi một bài thơ của Lý Bạch, anh nói; Bài thơ này có tư tưởng gần với giáo lý nhà Phật, về dịch xong, đưa lại anh xem. Nghe anh nói, tôi ngại, đâu dám múa may trước một người cao vời vợi về thơ ca cũng như chữ nghĩa – hơn nữa chúng tôi chưa làm việc này một cách nghiêm túc. Thỉnh thoảng, chúng tôi cũng có dịch Thơ Đường nhưng bài nào thích thì dịch, rồi đọc cho bạn bè nghe cho vui mà thôi. Hôm nay, anh lại nhờ, nhờ một cách trân trọng, vì thế chúng tôi không thể từ chối. Bài thơ của Lý Bạch như sau:


Nghĩ cổ.
Sanh giả vi quá khách / Tử giả vi quy nhân
Thiên địa nhất nghịch lữ / Đồng bi vạn cổ trần,
Nguyệt thố không đảo dược / Phù tang dĩ thành tân
Bạch cốt tịch vô ngôn / Thanh tùng khởi tri xuân
Tiền hậu cánh than túc / Phù vinh hà túc trần


Đọc xong nguyên tác, chúng tôi ngại việc dịch thuật không chuyên chở hết ý của bài thơ, nhưng nặng tình với anh, chúng tôi đem về dịch:


Theo dấu chân xưa.
Sống là như khách qua đường, / Chết là trở lại quê hương của mình
Đât trời quán trọ mông mênh / Nghìn năm cát bụi tâm tình đớn đau
Thời gian có đợi ai đâu / Dâu xanh hôm trước nay màu củi khô
Ngổn ngang xương trắng ngẩn ngơ / Hàng tùng xanh thẩm đâu ngờ xuân sang


Trước sau là tiếng thở than / Cuộc đời hư huyễn giàu sang làm gì?
Gởi anh bài thơ dịch. Chưa gặp lại anh để nghe ý kiến, thế mà anh đã không còn nữa. Nhưng biết đâu, việc dang dở này là cái cớ để anh thêm lần nữa: “Ngã hữu thốn tâm vô dự ngữ…”. Phải không anh Bùi Giáng?

.
Thích Chơn Nguyên

.

(Nguồn: thuvienhoasen.org)

.

.

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: