//
you're reading...
Cao Nguyên Lộc, Tùy Bút

‘Đã trả lời rồi sao còn hỏi nữa’ – tùy bút của Cao Nguyên Lộc

 

Vào Tháng Ba năm 1975 tôi đang là một sĩ quan điều hành một xưởng sửa chữa vũ khí và trọng pháo, đơn vị đóng gần phi trường Đà Nẵng, cạnh bên bộ tư lệnh Quân Đoàn I, không xa cầu Trịnh Minh Thế (thời Tây gọi là cầu De Lattre). Công việc khá nhàn hạ. Tiếp nhận vũ khí từ các đơn vị đưa về để sửa chữa hoặc thay thế cơ phận, rồi sớm gửi trả lại cho họ.

Sau khi ký Hiệp Định Paris, Mỹ rút hết quân về nước, rút luôn tiền viện trợ, miền Nam phải chiến đấu theo kiểu nhà nghèo, không tấn công mà chỉ đặt nặng vào phòng thủ và chỉ nổ súng khi nào bị tấn công vì phải tiết kiệm đạn dược. Trong quân đội, mọi thứ đều có lệnh phải tiết kiệm tối đa. Nòng đại bác thông thường phải thay nòng mới sau khi bắn chừng 10.000 quả hoặc dùng dụng cụ đo đường kính nòng, thấy rộng hơn nòng mới chừng bao nhiêu ly đó thì làm giấy đề nghị thay. Nhưng tiêu chuẩn mới lúc bấy giờ là chỉ thay nòng sau khi bắn 50.000 quả.

Việc của xưởng tôi trông coi thường là rãnh nhiều hơn bận nên tôi hay tà tà qua xưởng sửa chữa quân xa coi họ sửa xe. Hôm tôi qua chơi, Thiếu Úy Ái, dân Huế, đang chui dưới gầm chiếc xe Jeep để sửa đèn phía sau xe, anh nói vói lên dặn đệ tử của mình là một người lính dân Sài Gòn: “Sáu, mầy nhìn coi khi nào thấy đèn đỏ thì cho tao biết nghe.” Cứ một chốc Ái lại hỏi: “Đỏ chưa rứa mi?” Và câu trả lời vẫn luôn là “dạ chưa, thiếu úy!” Bực quá, Ái chui ra, nhìn vào đèn sau và miệng la ùm trời đất: “Ông nội mi, đèn đỏ rứa mà răng mi cứ nói chưa hả Sáu?” Sáu đáp: “Thì thiếu úy bảo em coi khi nào đèn đỏ thì cho thiếu úy biết nhưng em thấy đèn nó ‘dàng’ chứ có đỏ gì đâu nên em nói chưa.” Đúng là chuyện khôi hài do bất đồng ngôn ngữ của vùng miền mặc dù đều là tiếng Việt. Ở miền Trung cứ đèn sáng là người ta nói đèn đỏ và khi nào đèn không sáng tức là đèn bị cháy hoặc bị hư. Còn trong Nam, đèn cháy tức là đèn sáng chứ không phải đèn hư.

Anh con bác tôi kể chuyện thời gian từ Huế vào học MPC (Math, Physics và Chemistry) ở trường Đại Học Khoa Học Sài Gòn. Một hôm từ trường chạy Honda về nhà, xe bị hư đèn trước mà không hay nên bị cảnh sát Công Lộ phóng mô tô đuổi theo chận lại. Anh giải thích là đèn xe anh mới cháy, ý muốn nói là hỏng bóng, nhưng ông cảnh sát cứ bảo là ông có thấy cháy đâu. Cãi qua cãi lại một hồi vậy mà được tha.

Tôi vừa quay về thì nghe có tiếng xe Honda chạy tới gần phía sau lưng, nhìn lại tưởng ai hóa ra Trung Úy Khang, phi công trực thăng đóng trong phi trường, ra kiếm tôi. Khang hơn tôi cả cấp bậc lẫn tuổi tác, kể cả chiều cao. Anh chàng người cao ráo, cởi mở, vui tính, thích nói chuyện tếu, người như vậy mà vẫn còn sống kiếp “mồ côi” không đào như tôi. Chúng tôi quen biết nhau nhờ cùng ăn cơm tháng tại quán của Thượng Sĩ Châu nằm bên hông rạp Kim Châu, trên đường Độc Lập (nay là Trần Phú). Quán cơm này toàn sĩ quan đủ các binh chủng đóng ở Đà Nẵng ghé ăn. Ăn riết quen mặt, ai cũng ghi sổ, chờ đầu tháng sau lãnh lương trả tiền một lượt luôn. Ông thượng sĩ chủ quán này coi vậy mà cũng tâm lý ra phết, biết câu độ sĩ quan trẻ đồn nhau đến ăn vì khi nào cũng mở nhạc ngoại quốc, mà nhạc mới lên “Top Hits” nữa, có khi nhạc ở đây còn mới hơn mấy quán cà phê chuyên nghiệp có người đẹp ngồi két. Tới giờ ăn buổi trưa và tối, khách lần lượt kéo đến, thấy bàn nào còn trống thì tự động điền vào cho đủ 4 người để người trong quán dọn phần ăn. Trước lạ sau quen, dần dần ai cũng biết mặt nhau rồi thành quen nhau. Tôi quen Khang như vậy đó nhưng không hiểu tại sao anh chàng lại chọn tôi trong số thực khách để kết thân vì giữa chúng tôi có quá nhiều khác biệt: khác binh chủng, cách nhau đến ba tuổi, cách biệt cả cấp bậc như đã nói ở trên. Quả đúng là “huynh đệ chi binh!” Về sau, ngày nào Khang không đi bay mà chỉ ở lòng vòng trong phi trường, anh chàng thường chạy xe ra kiếm tôi, cùng đèo nhau một xe chạy lên phố. Khang quen một cô, gia đình kinh doanh tiệm may, mặt tiền ngó qua trường trung học Phan Châu Trinh. Khang đặt biệt danh cô này là “cây khèo trứng cá” vì cô cũng cao chẳng kém gì Khang nhưng trông còn lêu nghêu thêm vì cô tương đối gầy. Cô cho Khang biết là ông “già” không thích Khang lui tới và Khang nói đùa với tôi rằng mai mốt sẽ thuê xe đò cán ông cho chết phứt luôn để khỏi làm kỳ đà cản mũi.

Chúng tôi gặp nhau lần sau cùng đâu đó vào khoảng giữa Tháng Ba (1975), lần ăn cơm chung đó Khang nói với tôi rằng ba Khang là sĩ quan cao cấp trong Không Quân, và theo ông biết thì tình hình Huế có vẻ rất nguy ngập, tôi hãy liệu mà đưa gia đình vào Đà Nẵng càng sớm càng tốt. Sau đó tôi trình lại với cấp trên xin phép được mượn một chiếc GMC để di tản gia đình.

Đưa cả nhà gồm ba mẹ tôi, ông anh, ba đứa em gái và mẹ con chị giúp việc vào đến Đà Nẵng xong thì vài ngày sau, Huế thất thủ vào hôm 26 Tháng Ba.

Ngày 27 Tháng Ba phi trường Đà Nẵng ngưng các chuyến bay hàng không dân sự vì tình trạng hỗn loạn. Trước đó nhiều người tranh nhau leo lên máy bay để vào Sài Gòn, rồi khi máy bay lăn bánh ra phi đạo cũng khó cất cánh vì dân chúng chạy xe gắn máy tràn ra đường băng đón đầu máy bay.

Sáng 28, tôi lái xe Jeep đưa gia đình vào căn cứ Hải Quân ở Tiên Sa để lên tàu vào Nam. Khi mọi người leo lên tàu ai cũng bùi ngùi rơi lệ. Ba tôi nói: “Bỏ đơn vị mà vào Sài Gòn đi con, để cho cả gia đình được trọn vẹn vì dù sao thì đơn vị trưởng con cũng đã bỏ trốn từ tuần trước rồi.”

Thú thật từ hồi mãn khóa ở Thủ Đức đến lúc ấy tôi chưa có cơ hội đánh đấm lần nào. Tuần trước đó Tướng Ngô Quang Trưởng thành lập sư đoàn “thép” gồm các đơn vị đóng quanh Đà Nẵng để chận đường tiến của địch quân, nên tôi muốn nhân cơ hội này để thử lửa một phen. Nghĩ vậy tôi liền đáp: “Cả nhà đi trước được là con yên tâm, phần con, chỉ một mình, con có thể xoay sở không chút khó khăn. Nếu có việc gì con sẽ vào Nam sau.”

Tối hôm đó tôi đang say ngủ thì có người lính chạy vào kêu tôi ra hầm trú ẩn. Tỉnh giấc, tôi thấy bầu trời Đà Nẵng như đang trải qua một cơn giông tố bão bùng. Quân Cộng Sản pháo kích bằng hỏa tiễn liên tục suốt đêm, ánh chớp và tiếng nổ không khác những cơn giông kéo dài bất tận. Tôi ngái ngủ nói với anh lính rằng các anh cứ ra hầm đi để tôi ngủ trong này vì rằng địch quân chẳng thèm bắn mình đâu, mục tiêu của họ là phi trường.

Ngủ tiếp không biết được bao lâu thì lại có người chạy vào: “Thiếu úy, thiếu úy dậy mau! Bên Quân Đoàn họ rút đi hết rồi!”

Tôi liền xách xe chạy qua bên đó xem sự thể ra sao. Bình thường trước cổng bộ chỉ huy luôn luôn có lính gát thì nay không thấy ai, còn doanh trại bên trong thì vắng hoe, giấy má xả đầy mặt đất. Vậy là cả ông tướng lẫn bộ tham mưu của ông kéo nhau đi hết từ hồi nào mà chúng tôi ở gần bên không hề hay biết.

Tôi quay trở về trại, không ai bảo ai. Mọi người đều hiểu rằng đã đến lúc mạnh ai nấy thu dọn đồ chuẩn bị tan hàng.

Tôi đứng nhìn bãi quân xa, đủ thứ xe của các đơn vị đưa về đang nằm chờ sửa, kể từ giờ này trở đi sẽ coi như vứt bỏ hết. Quay vào trong, tôi lấy ra cây súng trường M-16 và bắt đầu tác xạ thỏa thích. Tôi nhắm đèn bắn trước, rồi két nước, rồi kính chắn gió. Tiếng nổ, tiếng đạn, tiếng kim khí vỡ do va chạm nghe đinh tai, thật khoái lỗ nhĩ.

“Làm gì vậy Lộc?” Nghe tiếng người hỏi, không cần nhìn tôi cũng biết ngay đó là đại úy đại đội phó, bấy giờ kiêm luôn trưởng vì ông trưởng cuốn gói trốn mất một tuần trước đó rồi. Tôi đáp tôi muốn bắn hư hết chừng nào hay chừng đó, không muốn để lại cho “họ” xài uổng lắm.

Chúng tôi tản mác ra đi tự động chia thành nhiều nhóm. Nhóm tôi có thêm một thiếu úy và vài người lính cũng xấp xỉ tuổi tụi tôi. Cả bọn đi về hướng căn cứ hải quân, nơi tôi đưa cả gia đình xuống tàu vào sáng hôm trước. Qua đến bên kia cầu được một đoạn thì thấy có đoàn người đi ngược trở lại, họ bảo đêm qua cả phi trường lẫn căn cứ hải quân đều bị pháo dữ dội khiến rất nhiều người chết. Vào lúc đó chúng tôi cũng vừa nghe tin quân Cộng Sản đã vào đến Đà Nẵng rồi. Một người lính trong nhóm đề nghị ra nhà anh ta ở sát biển Mỹ Khê ăn trưa lót bụng rồi tính sau.

Đang ngồi ăn, nhìn ra biển tôi thấy lố nhố đủ loại tàu ở ngoài khơi. Chúng tôi hỏi thuê ghe đưa ra ngoài đó. Mọi người dốc hết tiền trong túi ra, có nhiều góp nhiều, chúng tôi đưa hết cho chủ ghe. Vật đầu tiên tôi bỏ lại sau lưng là chiếc Honda SB-50 Scrambler “yêu dấu” vì nó từng là bạn đồng hành với tôi suốt bao năm tháng. Tôi mang theo khẩu Colt 45 và cây M-16, dù sao chúng là vũ khí cơ hữu được quân đội cấp phát, ai cũng có trách nhiệm phải giữ gìn không được để thất lạc.

Ghe cập vào một chiếc xà lan, leo lên thì thấy đầy cả dân chúng lẫn lính tráng. Đến chiều tối, một tàu hải quân đến móc chiếc xà lan vào phía sau và kéo đi về phía Nam.

Trưa hôm sau chúng tôi được kéo vào quân cảng Cam Ranh. Trời hôm ấy nắng gay gắt, từ bến tàu, đoàn người đi bộ ra phía quốc lộ, hai bên trống trải không có một bóng cây. Ra đến đường, điều chúng tôi thấy là xe cộ chở dân chạy nạn nối đuôi nhau đi về hướng Nam, cảnh tượng y hệt như tôi từng chứng kiến trước đây ở đèo Hải Vân và ở Quảng Nam. Một chiếc GMC đi qua, mấy người lính ngồi lẫn với gia đình họ đưa tay ra hiệu bảo tôi leo lên. Tôi chỉ cười lắc đầu. Với tình hình như thế này, tôi nghĩ không chóng thì chầy, cả miền Nam sẽ mất trọn, vậy tốt nhất là đi ngược về Nha Trang, nơi có gia đình ông chú ruột, em của ba tôi, chờ ngày thành phố này rơi vào tay quân miền Bắc, rồi sẽ tìm cách trở lại Huế, giữ nhà cho ba mẹ tôi.

Trong thời gian ở Nha Trang, tôi nghe tin một xà lan mới được kéo vào bến Cầu Đá, trên đó có rất nhiều người chết vì đói khát. Chú tôi lấy xe đưa tôi ra đó, lòng tôi cứ hoang mang lo lắng, nhớ lại cách đây hơn một tuần, khi đưa cả gia đình tôi lên tàu, không có ai mang theo thức ăn cả. Tại bến tàu, tôi thấy xác người bọc kín bằng áo quần được đặt nằm la liệt trên mặt đất. Tuy không thấy được mặt nhưng tôi có thể nhận định nhanh chóng rằng không ai trong số này thuộc gia đình tôi vì nhà tôi phần đông đều cao cẳng dài giò. Nỗi mừng vui chưa dứt thì nghe nói tối hôm qua người ta có đưa vào nhà xác thành phố một số khác nữa rồi. Tại nhà xác tôi thấy chỉ một lao công làm công việc tẩm liệm, ông này vừa làm vừa nốc chai rượu đế. Nhiều xác đã được bỏ vào hòm và niêm kín rồi. Đến mức này thì tôi chịu thua, đành phó mặc cho trời và phước đức của tổ tiên.

Sau khi Nha Trang mất, tôi tìm xe đi trở ngược về̀ phía Bắc. Đến Qui Nhơn thì xe dừng lại, người ta cho biết tất cả những cây cầu trên đoạn đường từ đây ra đến Đà Nẵng đều bị du kích phá sập, phải chờ khi nào đường thông trở lại mới có xe chạy. Tôi nhớ mẹ tôi từng kể rằng ở bến xe Qui Nhơn tôi có một người bà con xa bên ngoại, mẹ tôi kêu bằng o, với vai vế này thì tôi phải kêu bằng mụ. Hỏi quanh mới tìm ra được quán bán đồ tạp hóa của mụ. Mặc dù mới mặt đối mặt thằng cháu lần đầu nhưng mụ Sam tỏ ra là người rất chí tình, biết quí bà con họ hàng. Sau khi nghe kể hết sự tình, mụ Sam bảo tôi về ở tạm nhà mụ, chờ hôm nào có xe đò rồi hẳn đi. Đêm ấy mụ Sam bày hương đèn hoa quả ra trước sân cúng “sao” và bảo cầm nhang đứng vái, không quên dặn dò tôi phải thành tâm khi cầu xin. Mụ cho biết sáng hôm sau mụ sẽ dẫn đến Chùa Ông để xin xăm, mụ nói ở đó “ngài” linh lắm.

Chùa nằm lõm trong một sân rộng, bước vào chỉ thấy toàn người với người lẫn giữa những làn khói hương nghi ngút. Ở trong chánh điện, mụ Sam bảo tôi xếp hàng chờ đến lượt để xin xăm. Khi tới phiên và theo sự hướng dẫn của mụ Sam, tôi vụng về cầm cái lon đựng đầy mấy cái thẻ bằng tre, trên mỗi chiếc có khắc chìm một con số, tôi để nghiêng lon gần song song với mặt đất và xóc lon thế nào để chỉ một thẻ trồi dần lên rồi rơi xuống mặt đất.

Bước kế tiếp là cầm hai miếng gỗ lớn bằng bàn tay, gọt thành hình như quả thận, một mặt phẳng còn mặt kia thì cong vồng lên, tôi thẩy chúng lên không rồi chờ xem sau khi rơi xuống đất chúng nằm theo vị thế ra sao. Chỉ khi nào cả hai miếng đều nằm ngửa mặt lên thì coi như chúng “được ngài chứng.” (Xin lỗi bạn đọc, về chi tiết này có thể tôi sai vì đây là lần duy nhất tôi xin xăm nên tôi không thể nhớ chính xác hết từng chi tiết.)

Theo sự chỉ dẫn của mụ Sam, tôi cầm thẻ xăm ra ngoài tìm người giải. Thầy giải xăm là một ông mặc bộ bà ba xám, tóc bạc, tuổi có lẽ ngoài sáu mươi, đang bị đám đông người cầm xăm trên tay vây quanh. Ông thầy bận tíu tít với việc lật cuốn sách viết chữ Hán tìm lời giải dựa theo con số của từng thẻ xăm. Đến lượt tôi ông đọc mà không hề ngước mặt lên, rằng “tất cả đều bình yên.”

Chỉ có vậy thôi sao? Tôi nghĩ vào lúc ấy hầu hết ai đến xin xăm cũng đều mang tâm trạng giống như tôi, đều muốn biết tin tức của người thân nên ông thầy giải xăm có cùng câu trả lời giống nhau cho hầu hết mọi người.

Mụ Sam trách tôi vì dám không tin lời ngài, tuy thế mụ nói đến tối tôi sẽ ta ngoài trời vái một lần nữa với tất cả sự chân thành rồi hôm sau mụ dẫn trở lại chùa để xin xăm khác.

Hôm sau chùa cũng vẫn đông như hôm trước, ông thầy giải cũng vẫn bận chúi đầu vào cuốn sách tiếng Tàu như độ nào. Xin xăm xong tôi cầm ra chờ ông thầy giải cho câu trả lời. Câu giải xăm chỉ vỏn vẹn có mỗi câu: “Đã trả lời rồi sao còn hỏi nữa!”

Khi ra về, mụ Sam nói: “Con bị ngài quở rồi đó.”

Hơn một năm sau ba mẹ tôi bới đồ đi thăm tôi đang “học tập cải tạo” ở Cồn Tiên, tỉnh Quảng Trị, và cho tôi hay rằng tất cả đều bình yên. Ba tôi nói giá như hồi đó có tôi ở Sài Gòn thì cả nhà đi Mỹ hết rồi, vì thiếu tôi nên ba tôi đã từ chối biết bao cơ hội.

 

 

 

Thảo luận

2 thoughts on “‘Đã trả lời rồi sao còn hỏi nữa’ – tùy bút của Cao Nguyên Lộc

  1. Một bút ký về thời bình đao loạn lạc . Viết về những lo âu , hoang mang và sự sợ hãi đè nặng lên tâm tư mọi người những ngày cuối cùng của các thành phố miền Nam Việt Nam .
    Những chi tiết được Lộc mô tả thật rõ ràng mạch lạc và lồng vào đó những chuyện vui nho nhỏ bên lề làm người đọc cũng đã có lúc nở nụ cười hóm hỉnh vì lối viết dí dỏm của Lộc làm nhẹ đi phần nào sự nặng nề của những ngày tàn cuộc chiến .
    Cám ơn Lộc về bài bút ký rất thật và rất hay này .

    Số lượt thích

    Posted by NguyenMinhNguyet | Tháng Chín 17, 2017, 4:40 sáng

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: