//
you're reading...
Chính Trị, Dịch Thuật, NHÓM HUẾ

Chính sách rời rạc của chúng ta đối với Trung Quốc – Clyde Prestowitz – Đỗ Tùng dịch

 

CHÍNH SÁCH RỜI RẠC CỦA CHÚNG TA ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

(Our Incoherent China Policy)

Tác giả: Clyde Prestowitz
Người dịch: Đỗ Tùng

 

Clyde Prestowitz là tác gi ca cun sách “Quc Gia Bt Ho: Ch nghĩa đơn phương ca Mỹ và s tht bi ca nhng ho ý”. Ông cũng là ch tch ca Vin Chiến lưc Kinh tế, mt t chc nghiên cu phi li nhun Washington, DC

Bài viết này xut hin trong s báo Mùa Thu 2015 ca tp chí The American Prospect.

prospect.org/article/our-incoherent-china-policy-fall-preview

 

Trong mùa hè năm 2009, tôi được mời cùng với một vài nhà phân tích chính sách khác đến Nhà Trắng tham dự một cuộc họp báo về Hiệp Ước Xuyên Thái bình Dương (Trans Pacific Partnership – TPP) mới được đề xuất. Vào thời điểm đó, những nước có thể tham gia gồm Canada, Mễ Tây Cơ, Peru, Chi Lê, Tân Tây Lan, Úc, Singapore, Brunei, Mã Lai, Việt Nam, và dĩ nhiên, Hoa Kỳ. Lúc đó vẫn chưa có quyết định sẽ mời Nhật Bản tham gia.

Cần chú ý rằng Hoa Kỳ đã có các hiệp định tự do thương mại với Canada, Mễ Tây Cơ, Peru, Chi Lê, Úc, và Singapore. Tôi hỏi lý do tại sao chúng ta cần một thỏa ước mới để chỉ thêm vào những nền kinh tế nhỏ như của Tân Tây Lan, Brunei, Mã Lai và Việt Nam. Một thành viên của Hội đồng An ninh Quốc gia đã trả lời rằng thỏa ước mới này sẽ trấn an các đồng minh châu Á của chúng ta là nước Mỹ đã trở lại; thỏa ước này sẽ là sự bổ sung về mặt kinh tế cho việc triển khai quân sự đang gia tăng của chính sách đối ngoại “Xoay trục đến châu Á” vừa mới công bố, dĩ nhiên là nhằm làm đối trọng quyền lực và ảnh hưởng của Trung Quốc đang lan rộng. Cùng với chính sách về y tế ở trong nước và một hiệp ước về vũ khí hạt nhân với Iran có thể đạt được, TPP sẽ là một phần quan trọng cho kỳ vọng tạo một di sản của tổng thống.

Phản ứng đầu tiên của tôi là ngạc nhiên. Làm thế nào Mỹ có thể quay tr li châu Á? Theo như tôi biết, Mỹ chưa bao giờ rời bỏ châu Á. Hạm đội thứ Bảy của Mỹ vẫn đang tiếp tục tuần tra phía tây Thái Bình Dương trong 66 năm nay và đã giữ các vùng biển ở đây an toàn để thương mại phát triển nhanh chóng và đã làm cho khu vực trở nên giàu có. Hoa Kỳ vẫn duy trì gần 100.000 quân tại Nhật Bản, Nam Hàn, Úc, và trên biển để duy trì sự ổn định. Thương mại đã tăng nhanh. Mỹ vẫn tiếp tục những thâm hụt khổng lồ về thương mại đối với châu Á vì dân Mỹ mua tất cả mọi thứ của châu Á, và các tập đoàn Mỹ đã di chuyển nhiều nhà máy sản xuất và công ăn việc làm cùng với hầu hết kỹ thuật công nghệ của họ đến châu Á. Vì vậy, một chính sách với mục đích sửa lại sự vắng mặt của Mỹ ở châu Á dường như dựa trên một giả định sai.

Dĩ nhiên đây không phải lần đầu tiên những giả định sai đã hướng dẫn chính sách của Mỹ (ví dụ: Chiến tranh Việt Nam, Chiến tranh Iraq, Chiến tranh chống Ma túy, v.v..). Nhưng điều này dường như là một thói quen của nước Mỹ khi phải đề xuất và đàm phán hiệp định thương mại quốc tế. Phần lớn vấn đề này có lý do bắt nguồn từ sau Thế chiến II, khi giới tinh hoa về chính sách đối ngoại của Mỹ đã hoan hỉ đón nhận giáo lý thương mại tự do cổ điển. Như nhà cổ vũ tự do thương mại của Anh Richard Cobden ở thế kỷ 19 đã nói, “Tự do thương mại là ngoại giao của Thượng Đế.”

Thương mại được thực hiện để đôi bên cùng có lợi cho các nước liên quan, dẫn đến sự thịnh vượng, dân chủ hóa, và cuối cùng là hòa bình giữa các quốc gia. Nó được giả định rằng thương mại tự do thậm chí đơn phương, trong đó nước A mở cửa thị trường của mình trong khi nước B thì không, vẫn là một đề xuất hai bên cùng có lợi, bởi vì quốc gia mở cửa sẽ nhận được hàng nhập khẩu rẻ hơn và quốc gia đóng cửa chỉ làm tổn hại đến chính bản thân. Khả năng các quốc gia sử dụng thương mại như một chiến lược, mà Paul Krugman đã giành giải Nobel với những ý tưởng sâu sắc, không nằm trong phạm vi bài viết này.

Vì vậy thật là tự nhiên khi kết luận rằng những nhượng bộ về thương mại, chẳng hạn như đơn phương mở cửa thị trường, có thể mang lại các mục tiêu địa chính trị mà không tạo ra các hậu quả tiêu cực về kinh tế. Ví dụ, Mỹ có thể muốn Nhật Bản ngừng thao túng tiền tệ, nhưng Mỹ cũng có thể muốn Nhật Bản bỏ phiếu đồng thuận với Mỹ về một vấn đề gì đó ở Liên Hiệp Quốc. Washington thường xuyên nhượng bộ về vấn đề kinh tế để đạt mục tiêu về địa chính trị. Địa chính trị đã áp đảo kinh tế. Kết quả là một chuỗi dài các hiệp định thương mại quốc tế có xu hướng bất lợi cho Hoa Kỳ.

Hai ví dụ gần đây là việc Hoa Kỳ đồng ý đưa Trung Quốc (TQ) vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001, và Hiệp định Thương mại Tự do Mỹ-Nam Hàn năm 2012. Trong trường hợp của TQ, tư duy chiến lược của Mỹ đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi quan điểm cho rằng nếu áp dụng chủ nghĩa tư bản (hoặc những gì mà TQ gọi là chủ nghĩa xã hội với sắc thái TQ), thì TQ sẽ càng lúc càng trở nên giống nước Mỹ. Như cựu Thứ trưởng Ngoại giao Robert Zoellick đã nói, chúng tôi muốn khuyến khích TQ trở thành một “cổ đông có trách nhiệm trong hệ thống toàn cầu.”

Một giả thiết được chấp nhận rộng rãi là toàn cầu hóa sẽ làm cho TQ và các nước đang phát triển khác giàu lên; và khi giàu lên họ sẽ trở thành dân chủ; và như thế sẽ có hòa bình vì các nước dân chủ có xu hướng không đánh nhau (hoặc chúng ta tự nhủ như vậy). Do đó, chấp nhận TQ gia nhập WTO căn bản được xem như là một cách khuyến khích việc dân chủ hóa ở quốc gia này, nhưng cũng được cho là có thêm ích lợi về mặt kinh tế. Bởi vì mức thuế quan của TQ cao hơn nhiều so với Mỹ, hầu hết các nhà kinh tế đều nghĩ rằng xuất khẩu của Mỹ sang TQ sẽ tăng nhiều hơn (tỉ lệ với sai biệt giữa hai mức thuế quan) so với xuất khẩu của TQ sang Mỹ vì đó là kết quả của tự do hóa thương mại khi chấp thuận cho TQ gia nhập WTO (họ quên đi một thực tế là thị trường Nhật Bản vẫn đóng cửa mặc dù có mức thuế quan thấp). Hầu hết các mô hình kinh tế đã dự đoán rằng thâm hụt thương mại của Mỹ đối với TQ là 83 tỉ đô-la vào năm 2001 sẽ giảm đáng kể trong tương lai vì việc cắt giảm thuế quan của TQ sẽ cho phép hàng hóa và dịch vụ của Mỹ tiếp cận tốt hơn vào thị trường TQ.

Tuy nhiên trên thực tế thâm hụt thương mãi của Mỹ tăng gấp đôi trong ba năm và đến nay lại tăng thêm gấp đôi. Cũng trong thời gian đó, TQ thay vì trở nên dân chủ hơn, dường như đã trở nên ít dân chủ hơn trước đây. Một ví dụ tương tự có thể tìm thấy trong trường hợp của Hiệp định Thương mại Tự do Mỹ-Nam Hàn năm 2012. Thỏa ước đó có mục đích chính là nhằm củng cố liên minh Mỹ-Hàn và đã được sử dụng như một bản mẫu cho các cuộc đàm phán TPP. Trong cả hai trường hợp, một thỏa thuận thương mại đã được thực hiện chủ yếu vì lý do địa chính trị nhưng đã không tạo ra được những kết quả mong muốn cả về chính trị lẫn kinh tế – phần lớn vì cả hai giả định về địa chính trị và kinh tế gần như hoàn toàn sai.

TPP hiển nhiên rơi vào truyền thống này. Ở tạp chí này và ở các sách báo khác đã nhiều lần vạch rõ rằng thỏa ước đề xuất TPP chỉ là một thỏa ước kinh tế mơ hồ, một giao dịch của giới tinh hoa các tập đoàn chế tác ra cho chính họ. Tuy nhiên, chính quyền đã né tránh những chỉ trích về mặt kinh tế bằng cách khẳng định rằng TPP chủ yếu là một vấn đề địa chính trị – một đối trọng cần thiết với sự trổi dậy của TQ. Nhưng nếu là gì khác thì còn được, xem TPP như một chiến lược ngăn chặn TQ lại càng kém hợp lý hơn.

***

Không có một phân tích kinh tế nào được thực hiện trước khi các đàm phán về thành lập TPP bắt đầu. Không có một đánh giá và kết luận nào được rút ra để xác định những quốc gia thích hợp nhất trong việc tham gia vào thỏa ước mới, một thỏa ước dường như nhằm vào một mục đích gì đó gần gũi với một liên minh kinh tế hơn là một thỏa ước tự do thương mại đơn thuần. Chính phủ Mỹ đã không thực hiện những ước tính về lợi và hại mà thỏa ước này có thể mang lại.

Mặc dù không có ước tính chính thức của chính phủ về tác động kinh tế của TPP, một số nhà phân tích tư nhân, chẳng hạn như Viện Kinh tế Quốc tế Peter G. Peterson hơi khuynh hữu (center-right) và Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách hơi khuynh tả (center-left), đã làm những ước tính đó. Họ đều có xu hướng kết luận rằng một lần tăng của kinh tế Mỹ đến năm 2025 sẽ ở trong khoảng từ 0,1% đến 3% GDP. Dĩ nhiên con số này ở trong khoảng sai số khi tính tròn. Ngay cả nếu dự báo tăng trưởng đạt được, chỉ những người thu nhập thật cao mới được lợi, còn những người làm việc trung bình thì sẽ bị giảm thu nhập.

Lý do chính của việc được thua này là TPP có nhiều điều khoản có thể tốt cho các công ty toàn cầu nhưng không nhất thiết tốt cho người dân. Quy định chặc chẽ về bảo vệ sở hữu trí tuệ có thể làm chậm trễ việc giới thiệu các loại thuốc không độc quyền (generic drugs) và làm giá thuốc trên toàn thế giới cao hơn. Kéo dài thời hạn độc quyền của bằng sáng chế bằng việc sử dụng các nâng cấp kỹ thuật nhỏ có thể bảo đảm lợi nhuận cho các doanh nghiệp lớn trong nhiều năm nhưng đồng thời sẽ ngăn chặn phát kiến ở các công ty nhỏ hay các công ty mới thành lập.

TPP có đề cập các tiêu chuẩn cao về môi trường và lao động, nhưng những tiêu chuẩn này từ lâu đã được chứng minh là rất khó khăn để thực thi. Mặt khác, nếu TPP có các điều khoản nới lỏng các quy định về đầu tư nước ngoài và lưu lượng truy cập Internet, quy định về bảo vệ các tập đoàn khỏi bị thua lỗ do những thay đổi trong chính sách của chính phủ, và tiếp tục chấp thuận trợ cấp khuyến khích cho đầu tư, thì rất có thể sẽ dẫn đến việc di chuyển nhiều hơn vốn đầu tư, công ăn việc làm, và công nghệ của nước Mỹ ra nước ngoài.

Có lẽ lý do chính tại sao TPP sẽ không tạo ra ngay cả những lợi ích nhỏ cho Hoa Kỳ như các mô hình tiên đoán là tác động của tỷ giá hối đoái. Các mô hình đều dựa trên giả định về tỷ giá hối đoái cố định. Nhưng trong thực tế tỷ giá hối đoái không cố định. Thật vậy, trong khi tôi đang viết bài này, TQ vừa phá giá đồng tiền khoảng 3% vì tăng trưởng chậm và thị trường chứng khoán tuột dốc. Khi đồng tiền có thể thay đổi 3% chỉ trong một ngày, hoặc từ 2% đến 30% trong vài tháng, thì đàm phán về thuế quan, về quy định trợ cấp, về các biện pháp mở cửa thị trường sẽ không còn mang nhiều ý nghĩa nữa.

Bởi vì TPP sẽ không thay đổi tình trạng này, gần như hiển nhiên TPP không thể là điều tốt cho nền kinh tế Mỹ hay người dân Mỹ trung bình. Thật vậy, điều quan trọng cần phải nhấn mạnh là không có ai trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương hay châu Mỹ La tinh tin rằng TPP sẽ thay đổi đáng kể cấu trúc của thương mại khu vực mà từ lâu dẫn đến thâm hụt thương mại rất lớn về phía Mỹ và công ăn việc làm của dân Mỹ biến mất, khi nước Mỹ đóng vai trò của người tiêu dùng toàn cầu cuối cùng.

Trong quan điểm này, thật là vô cùng thất vọng khi nghe Tổng thống Obama chứng tỏ một sự hiểu lầm hoàn toàn về những thực tế của thương mại toàn cầu và của TPP. Ví dụ, ông đã hỏi một cách hoa mỹ trong bài phát biểu của mình là làm sao người Mỹ nào lại có thể phản đối việc mở cửa thị trường xe hơi ở Nhật Bản để xe của hãng Ford và Chevy được lăn bánh trên đường phố Nhật. Chính câu hỏi đó cho thấy sự thiếu hiểu biết của ông ta về thực tế rằng không có gì trong chương trình nghị sự của TPP có thể thay đổi quyền kiểm soát đại lý xe hơi ở Nhật của nhà sản xuất Nhật Bản, vì đó là cơ chế chính làm cho thị trường xe hơi Nhật Bản đóng cửa. Chẳng hạn, mặc dù xe hơi Nam Hàn có giá thành thấp và đã dành được thị phần từ xe hơi Nhật Bản tại các thị trường ở châu Âu, TQ và Mỹ, các hãng sản xuất xe hơi Nam Hàn đã hoàn toàn từ bỏ nổ lực tìm cách bán xe hơi tại Nhật Bản. Vì vấn đề này không được thảo luận nên TPP không thể khiến xe hơi của Mỹ, Nam Hàn hay của châu Âu được lăn bánh trên đường phố Nhật.

Về kinh tế TPP sẽ không có ích lợi cho nước Mỹ bởi vì nhiều giả thiết căn bản của nó đơn giản là đi ngược với thực tế.

***

Tổng Thống Barack Obama đang tìm cách thuyết phục người Mỹ chấp thuận TPP, và đã tuyên bố rằng Quốc hội phải thông qua TPP, vì nếu không thì TQ sẽ viết các quy luật thương mại cho tương lai. Tuy nhiên, TQ đã ký kết hiệp định thương mại tự do với Singapore, Úc, Chi Lê, Tân Tây Lan, Pakistan, Peru, Costa Rica, Iceland, Thụy Sĩ, và Nam Hàn. TQ hiện đang đàm phán hiệp định thương mại tự do với Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh, Na Uy, và Sri Lanka, và đang thảo luận về một giao dịch ba bên với Nam Hàn và Nhật Bản. Bắc Kinh cũng đang dẫn đầu đàm phán của “Đối tác Kinh tế Toàn diện trong Khu Vực” (RCEP), trong đó bao gồm mười nước thành viên của ASEAN (Singapore, Phi Luật Tân, Lào, Campuchia, Indonesia, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Brunei và Việt Nam), cộng với Úc, Tân Tây Lan, TQ, Ấn Độ, Nhật Bản, và Nam Hàn.

Hầu hết các nước này cũng tham gia TTP. Cũng dễ hiểu là các quốc gia này đang vận dụng TQ và Mỹ chống lại lẫn nhau và đánh cược ở cả hai phía. Hãy xem trường hợp Singapore. Ngay cả khi nước này nổ lực để hoàn tất thỏa ước TPP và cảnh báo Mỹ không nên rút khỏi châu Á, thì Singapore tiếp tục đàm phán miệt mài để hoàn thành RCEP do TQ dẫn đầu.

Vì vậy, không hợp lý khi cho rằng trong một phương diện nào đó TPP sẽ hạn chế hoặc làm chậm sự mở rộng ảnh hưởng và quyền lực của TQ. Ngược lại, quan điểm cho rằng nước Mỹ sẽ bị gạt khỏi châu Á nếu Mỹ không chấp nhận TPP là vô lý.

Ví dụ Ngoại trưởng K. Shanmugam của Singapore gần đây cảnh báo rằng nếu Hoa Kỳ thất bại trong việc chấp thuận TPP thì sẽ dẫn đến việc Hoa Kỳ bị “gạt ra” khỏi khu vực. Chắc chắn rằng Shanmugam không ngụ ý rằng Singapore sẽ hủy bỏ những thỏa thuận về quân sự với Hải quân Mỹ, hay Nhật Bản sẽ trục xuất Hạm đội Bảy của Mỹ, hoặc công ty Apple sẽ buộc phải thu hồi hàng tỷ đô-la đã đầu tư tại Singapore nếu Washington không phê chuẩn TPP. Hoặc việc chấp nhận TPP sẽ ngăn chặn sự tiến hành những giao dịch nào đó của TQ với các nước trong khu vực.

Như vậy, trong một chừng mực nào đó TQ chắc chắn sẽ viết một số các quy tắc tương lai của thương mại thế giới. Tuy sẽ không khống chế tất cả các quy tắc, nhưng TQ chắc chắn sẽ có một vai trò quan trọng trong việc hình thành các quy tắc đó. Nhưng đó chỉ là khởi đầu của việc TQ tăng cường ảnh hưởng toàn cầu, và TTP sẽ chẳng làm gì được để ngăn chận ở các lãnh vực khác. TQ đang tiến hành một chiến dịch rộng lớn nhằm trao đổi việc đầu tư của TQ vào các dự án hạ tầng cơ sở ở các nước thế giới thứ ba để được quyền tiếp cận các nguyên liệu mà nền kinh tế TQ đang cần. Cuộc tấn công này tự nhiên sẽ mang lại ảnh hưởng về ngoại giao.

Vào cuối tháng Bảy, Tờ báo New York Times đưa tin về hàng loạt các dự án cơ sở hạ tầng và thăm dò dầu mỏ ở Ecuador dựa vào vốn vay từ các tổ chức chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước của TQ. Vốn vay này sẽ được hoàn trả từ việc khai thác dầu và tài nguyên thiên nhiên của Ecuador. Theo tờ Thời Báo này, TQ có khoảng 90% sản lượng dầu của Ecuador và đòi hỏi rằng các hợp đồng xây dựng và ngay cả hợp đồng lao động sẽ trao cho các công ty TQ – điều mà Hoa Kỳ không thể làm vì theo các quy tắc quốc tế thì Mỹ được xem như là một nước phát triển, trong khi TQ vẫn giữ nhãn hiệu một nước đang phát triển. Các giao dịch tương tự đang diễn ra trên khắp châu Phi.

TQ sử dụng tiền từ số ngoại tệ dự trữ gần 4 nghìn tỷ đô-la cho cuộc tấn công địa-kinh tế nói ở trên – số tiền dự trữ này chủ yếu đến từ thặng dư thương mại khổng lồ mà TQ đã có được từ Hoa Kỳ trong 25 năm qua. Thâm hụt này đã không được tính trước. Hãy xem xét một ví dụ biểu tượng – chuyển giao kinh doanh điện tử hàng không của hãng General Electric (GE) cho TQ.

Ngày 18 Tháng 1 năm 2011, cùng ngày Chủ tịch TQ Hồ Cẩm Đào tới Washington trong chuyến thăm cấp nhà nước, Chủ tịch của GE và CEO Jeff Immelt công bố một liên doanh mới giữa ngành kinh doanh điện tử hàng không của GE và Avic, một công ty quốc doanh của TQ chuyên sản xuất các sản phẩm hàng không, mà trước đó đã không thể sản xuất một món điện tử hàng không quan trọng nào. Theo thỏa thuận được công bố, Immelt, đồng thời cũng là Chủ tịch Hội đồng của Obama về Việc làm và Năng lực Cạnh tranh, cho biết GE sẽ chuyển giao công nghệ hệ thống điện tử hàng đầu của GE cho Avic và di chuyển dây chuyền sản xuất các sản phẩm của GE từ Hoa Kỳ đến TQ. Ông nhấn mạnh rằng sự sắp xếp này đã được Bộ Quốc phòng và Bộ Thương mại cho phép, có lẽ để phù hợp với một tuyên bố trong một cuộc họp báo chung với ông Hồ Cẩm Đào rằng Mỹ sẽ giúp TQ phát triển máy bay phản lực thương mại.

Những điểm quan trọng cần lưu ý ở đây là ngành điện tử hàng không dựa vào những kỹ thuật công nghệ cao cấp mà TQ chưa nắm được. Sản xuất thiết bị điện tử hàng không không cần nhiều lao động, và do đó TQ không phải là một vị trí có chi phí thấp cho sản xuất. Thật ra nước có chi phí sản xuất thấp là Hoa Kỳ. Vì vậy GE đã thực sự di chuyển dây chuyền sản xuất điện tử hàng không đến một địa điểm có chi phí cao hơn. Tất cả các quy luật của kinh tế và thương mại tự do đều xác định rằng TQ nên nhập khẩu điện tử hàng không từ Mỹ. Tuy nhiên, GE đã thực sự sắp đặt để chuyển sản xuất và việc làm cho TQ và cuối cùng xuất khẩu thiết bị điện tử hàng không từ TQ sang Mỹ. Và điều này đã được thực hiện bởi một người chủ trì một Hội đồng của tổng thống lo về Việc làm và Năng lực Cạnh tranh cho nước Mỹ.

Điều gì đã xảy ra ở đây? Vâng, TQ có một thị trường lớn và phát triển nhanh chóng cho kinh doanh máy bay và quốc gia đó đã khẳng định về việc theo đuổi một chính sách phát triển và tự chế tạo máy bay và các hệ thống điện tử của riêng mình. Đây là một chiến lược thương mại xuất sắc. TQ đang làm gì ở lãnh vực này những gì nó đã làm trong hầu hết các ngành công nghiệp khác – việc bán hàng sang TQ phụ thuộc vào chuyển giao công nghệ và dây chuyền sản xuất sang TQ. Immelt có thể là một CEO chuyên nghiệp thượng hạng ở Washington, nhưng ở đây ông ta đã quỵ lụy ông chủ Bắc Kinh, giống như tất cả các lao động rẻ tiền khác.

Đáng kinh ngạc nhất của toàn thể sự vụ này là sự kiện ông ta được chính phủ Mỹ hỗ trợ trong việc quỵ lụy Bắc Kinh. Tổng thống tiếp tục giữ ông ta ở chức vụ chủ tịch Hội đồng về Việc làm và Năng lực Cạnh tranh, ngay cả sau khi ông ta di chuyển công ăn việc làm của người dân Mỹ sang TQ. Một chuyện kỳ quặc như vậy nhưng lại không gây ra một gợn sóng nào trong giới chính trị và truyền thông Mỹ. Không có ai đòi hỏi phải có một cuộc điều tra của quốc hội và không có một bài xã luận nào từ các tờ báo như New York Times hay Wall Street Journal chỉ ra những mâu thuẫn và đòi hỏi phải tiến hành thương mại tự do thực sự cân đối với TQ.

Những điều đáng làm này đã không xảy ra bởi vì tất cả sự việc dường như quá bình thường. Đó không chỉ là chính sách của Obama. Tất cả những vị tổng thống bắt đầu từ Ronald Reagan đã chấp nhận và thậm chí thúc đẩy mối quan hệ thương mại không cân đối và cực kỳ mất cân bằng với TQ, đôn đốc và thậm chí gián tiếp trợ cấp cho các công ty Mỹ đầu tư vào TQ và di chuyển dây chuyền sản xuất cũng như công ăn việc làm đến TQ.

Trong khi các nhà lãnh đạo của nước Mỹ dường như không có mối quan tâm đối với cấu trúc của nền kinh tế Mỹ và những gì nền kinh tế Mỹ sản xuất, Bắc Kinh kiên quyết theo đuổi một chính sách công nghiệp phát triển toàn diện nhằm mục đích biến TQ trở thành tự túc trong hầu hết các ngành chính về công nghệ và kỹ thuật. Các tay chuyên viên Internet của TQ tấn công một cách có hệ thống những cơ sở dữ liệu của chính phủ Mỹ và của các công ty lớn về công nghiệp và kỹ thuật của Mỹ. Không phải chuyện ngẫu nhiên mà các máy bay chiến đấu tàng hình của TQ công bố trong chuyến viếng thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates vào tháng giêng năm 2011 trông rất giống chiếc máy bay F-22 Raptor của Mỹ. Cùng với lực đẩy trở thành lãnh đạo công nghiệp và kỹ thuật, TQ cũng tìm cách kiểm soát của khoáng sản chủ yếu và các điểm dự trữ tài nguyên thiên nhiên trên toàn cầu. Nỗ lực đơn thuần này bây giờ đã đưa TQ vào vị trí của nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới – một nền kinh tế đương nhiên đóng vai trò một đối tác lớn về thương mại và đầu tư với hầu hết các nước còn lại của thế giới.

***

Sự can thiệp tiền tệ của TQ, một vi phạm về chuẩn mực của thế giới là nên để thị trường xác định giá trị tiền tệ, là một phần của chiến lược này. Washington chỉ trích hành vi này của TQ, nhưng từ chối sử dụng những ưu thế đáng kể để chống lại.

Tôi đã có mặt tại buổi họp Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) gồm các nguyên thủ quốc gia họp tại Honolulu vào tháng Mười năm 2011, khi Obama trong bài phát biểu của mình với một nhóm những CEO trong các nước khối APEC đã cảnh báo TQ phải dừng chính sách can thiệp vào thị trường tiền tệ quốc tế để giữ đồng Yuan định giá thấp so với đồng đô-la Mỹ. Tất nhiên, TQ đã theo đuổi chính sách này nhiều năm qua từ 20 năm trước đó. TQ cũng không phải là quốc gia duy nhất có chính sách này. Nhật Bản và những con hổ châu Á (Nam Hàn, Đài Loan, Singapore) đã phát minh ra nó và vẫn còn theo đuổi chính sách đó. Bằng cách giữ hàng xuất khẩu rẻ tiền nhưng lại khiến hàng nhập khẩu cao giá, phương pháp này đã tạo ra cơ cấu mang lại cho những nước này thặng dư thương mại lớn đối với Hoa Kỳ và từ đó tạo được một khối dự trữ lớn đồng đô- la.

Cùng với các chính sách chiến lược về thương mại và cách hoạt động đã nói ở trên, thặng dư cán cân thương mại là nguồn chính của dự trữ 3.500 tỉ đô-la dùng trong các khoản cho vay và đầu tư của TQ nhằm đạt tầm ảnh hưởng toàn cầu rộng lớn cũng như để kiểm soát được các nguồn tài nguyên quan yếu. Điểm quan trọng chính trong vấn đề này là số tiền 3.500 tỉ đô-la không chỉ là số tiền ròng của dự trữ ngoại tệ của TQ. Tiền đó là các quỹ đầu tư chiến lược của chính phủ TQ và của Đảng Cộng sản TQ. Ngược lại, ở các nước như Nhật Bản, Đức, Nam Hàn cũng có số dự trữ đô-la lớn, việc sử dụng quỹ này vào đầu tư là để đạt lợi nhuận tối đa. Nhưng ở TQ, ngân quỹ được chính phủ chỉ đạo sử dụng vào các khoản cho vay và đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của chính quyền trung ương. TQ là nhà đầu tư lớn ở một số thị trường có mức rủi ro lớn nhất của thế giới. Theo tờ báo The New York Times thì TQ chiếm 57% tất cả các đầu tư nước ngoài tại Ecuador, 70% ở Sierra Leone, 82% tại Zimbabwe, 79% ở Afghanistan, và 38% ở Iraq. Thật không ngạc nhiên chút nào, đây là những nơi có rất nhiều dầu và các khoáng chất quan trọng.

Tóm lại, TQ có một chiến lược toàn diện cả nước với mục tiêu rõ ràng, một đội ngũ nhân sự có phối hợp nhằm đạt được các mục tiêu đã vạch ra, và có sẵn tiền để trả cho bất cứ chi phí gì để đạt được thành công.

***

Lời biện hộ của Obama rằng phải có TPP để kiềm chế TQ là một sự thiển cận đáng xấu hổ cũng như không trung thực. Nếu Obama thực sự nghiêm túc, ông ta nên thách thức chính sách của TQ về việc buộc phải chuyển giao công nghệ và sản xuất mới được tiếp cận thị trường ở TQ. Obama nên ngăn chận sự quỵ lụy Bắc Kinh của Jeff Immelt bằng cách chỉ đạo Bộ Thương mại và Bộ Quốc phòng từ chối chấp thuận việc chuyển giao kỹ thuật quân sự hữu ích cho TQ. Obama nên loại bỏ Immelt khỏi chức vụ chủ tịch Hội đồng về Việc làm và Năng lực Cạnh tranh. Thiết lập quy định kiểu TQ “phải sản xuất ở đây mới được bán ở đây” áp dụng cho thương mại của TQ trong thị trường Hoa Kỳ sẽ hữu ích rất nhiều trong việc kiềm chế TQ và thay đổi cơ cấu kinh doanh trong toàn bộ khu vực châu Á-Thái Bình Dương hơn bất kỳ một thỏa ước TPP nào.

Hoặc một cách khác là mời TQ tham gia vào TPP và do đó phải chịu ràng buộc bởi những quy định “tiêu chuẩn cao” mà chính phủ Obama thường ca tụng, và như thế thì ít nhất cũng đặt TQ trên cùng một sân chơi như Hoa Kỳ. Nhưng tạo ra một thỏa ước chỉ để thêm Nhật Bản và bốn nền kinh tế nhỏ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương thì sẽ không ảnh hưởng chút nào đến TQ hay các mối quan hệ kinh doanh của TQ.

Hãy đối diện với sự thật: Các đối tác của TPP không đáng kể hoặc không nằm ở các vị trí địa lý quan trọng để có được một hy vọng nào đó là thỏa ước này sẽ tác động đến TQ. Thỏa ước TPP được mệnh danh là Xuyên Thái bình dương nhưng sẽ chính xác hơn nếu gọi đó là thỏa ước Xuyên Mỹ châu. Trong số 750 triệu người ở những nước tham gia TPP, khoảng 500 triệu người ở Canada, Hoa Kỳ, Mexico, Peru, và Chile. Trong số 250 triệu người còn lại, khoảng 125 triệu người ở Nhật Bản, là quốc gia không có mặt lúc ban đầu và chỉ tham dự vào TPP về sau vì lý do chính trị nội bộ, và vì mục đích địa chính trị để làm vừa lòng Hoa Kỳ trong bối cảnh Mỹ cam kết đơn phương bảo vệ Nhật Bản. Vì vậy số lượng người trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương thực sự cam kết với các mục đích của TPP chỉ khoảng 125 triệu, trong đó khoảng 100 triệu người ở Việt Nam. Tập hợp các nước tham gia TPP này sẽ không tạo ra tác động đáng kể gì đến TQ.

Có một điều lẽ ra nên được thảo luận trong các cuộc đàm phán TPP, mặc dù không ảnh hưởng trực tiếp đến TQ quá nhiều, nhưng sẽ có khả năng thay đổi toàn bộ cơ cấu thương mại và sản xuất trong khu vực. Đó là cấm các thành viên của thỏa ước thao túng tiền tệ và kêu gọi Quỹ Tiền tệ Quốc tế thực thi các quy tắc của nó để chống lại sự can thiệp vào tiền tệ trên toàn cầu. Dựa trên những tuyên bố của Obama tại cuộc họp APEC ở Honolulu, người ta có thể nghĩ rằng chính quyền của ông sẽ ủng hộ mạnh mẽ một cách tiếp cận như vậy. Nhưng thực tế họ đã không làm điều đó.

Mỗi năm Quốc hội yêu cầu Bộ trưởng Tài chính Mỹ cho biết những quốc gia nào đang tham gia việc thao túng tiền tệ. Mặc dù mọi người đều biết TQ thường xuyên can thiệp vào tiền tệ, Bộ Tài chính trong chính phủ Obama liên tục từ chối không báo cáo với Quốc hội. Hơn nữa, khi thiết lập chương trình nghị sự cho TPP, chính quyền Obama một lần nữa tránh né không đưa vấn đề thao túng tiền tệ vào chương trình nghị sự.

Điều đó thực sự là một chuyện đáng xấu hổ. Obama đã thực hiện một số điều rất quan trọng – như Đạo luật Chăm sóc Y tế, phục hồi kinh tế, rút ​​khỏi Afghanistan và Iraq, tiến bộ về quyền dân sự và môi trường. Nhưng đối với thương mại, toàn cầu hóa, năng lực cạnh tranh, và đối phó với TQ, Obama đã tiếp tục các chính sách sai lầm của những người tiền nhiệm. Đề xuất TPP như một phương thuốc, trong khi TPP sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Mỹ và sẽ không ảnh hưởng gì đến TQ, là một chuyện còn tệ hơn sự xấu hổ. Đó chỉ là ảo tưởng.

***

Một chính sách nghiêm túc đối với TQ là gì? Chuyện đó phụ thuộc vào nhận thức của chúng ta về lợi ích quốc gia của nước Mỹ. Một cách tiếp cận nghiêm túc là lùi lại một bước. Mới nghe thì thật ngạc nhiên, nhưng hãy suy nghĩ về điều đó một chút. Liệu TQ có là mối đe dọa trực tiếp nào đó đến Hoa Kỳ? Có phải TQ thực sự sẽ tấn công nước Mỹ? Hãy biết rằng Hải quân Hoa Kỳ đang tích cực tuần tra bờ biển của TQ và gửi máy bay giám sát dọc biên giới của TQ mỗi ngày. Người Mỹ chúng ta sẽ phản ứng thế nào nếu lực lượng tàu ​​sân bay TQ hoạt động tuần tra bờ biển Thái Bình Dương của chúng ta xung quanh Los Angeles và San Francisco?

Lấy ví dụ quần đảo Senkaku, là nơi mà Nhật Bản và TQ đều tuyên bố chủ quyền nhưng Hoa Kỳ đã hứa sẽ bảo vệ hòn đảo đó cho nước Nhật. Người Mỹ chúng ta có thực sự muốn chiến tranh với TQ vì các hòn đảo hoàn toàn không có ý nghĩa gì đối với chúng ta? Trong thế kỷ 19 và 20 khi Hoa Kỳ là một cường quốc đang lên, Anh Quốc phải đối mặt với một sự lựa chọn. Đó là Anh Quốc nên cố gắng duy trì uy thế ở vùng biển Caribbean và phía tây Đại Tây Dương, hay Anh Quốc nên rút lui và để cho người Mỹ duy trì sự ổn định trong khu vực? Người Anh đã quyết định nhượng bộ và đã tránh được một sự đối đầu nguy hiểm. Có lẽ chúng ta nên quên đi chính sách Xoay trục về châu Á và toàn bộ khái niệm kềm chế TQ. Nền kinh tế TQ hiện nay thực sự không vững mạnh lắm, và các vấn đề của TQ sẽ trở thành khó khăn hơn khi dân số già đi nhanh chóng và suy thoái môi trường trở nên tồi tệ hơn. Có lẽ chẳng có gì đáng ngăn chận. Có lẽ chúng ta nên xoay trục về nước Mỹ và hướng các nguồn lực hiện nay đang dành cho việc ngăn chặn TQ vào việc xây dựng lại nước Mỹ.

Có lẽ so sánh với trường hợp Anh Quốc và một nước Mỹ đang lên trước đây là sai. Vì cả hai nước đều dân chủ pháp trị và chia sẻ một truyền thống về tự do tư tưởng và ngôn luận, điều này không giống chút nào với trường hợp giữa Mỹ và TQ hiện nay. Vì vậy có lẽ có lý do thực sự cho việc kềm chế TQ. Nhưng như vậy thì nước Mỹ cần một chiến lược thực tế và toàn diện, không phải là một thỏa ước vô ích như TPP.

Một cách tiếp cận nghiêm túc của Hoa Kỳ nên bắt đầu với đòi hỏi Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) thực thi các nguyên tắc trừng phạt việc thao túng tiền tệ. Tiếp theo là hạn chế hoặc đặt ra những điều kiện cho việc đầu tư của Mỹ ở TQ và đầu tư trực tiếp của TQ tại Hoa Kỳ, đồng thời đánh thuế đầu tư của TQ vào các công cụ tài chính của Mỹ. Và sẽ sử dụng ảnh hưởng của Mỹ trong IMF để ngăn chặn bất kỳ khả năng đồng Yuan của TQ được dùng như một đồng tiền dự trữ. Có nhiều điều hơn nữa có thể bàn thêm ở đây, nhưng đại cương là như vậy.

Quan điểm chính của tôi là nếu bạn theo phía bồ câu thì TPP không giúp gì cho bạn bởi vì nó chỉ đơn giản làm tăng thâm hụt thương mại đồng thời sẽ làm cho đời sống của đa số người dân Mỹ tệ hơn. Nếu bạn theo phe diều hâu thì TPP cũng không giúp gì cho bạn, vì nó không phải một công cụ nghiêm túc để kềm chế TQ. Do đó, trường hợp nào đi nữa thì Quốc hội Mỹ cũng nên bỏ phiếu chống TPP.

 

 

Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: