//
you're reading...
Biên Khảo, Colnav Nguyen, Giới thiệu sách, LocDP, về Phật pháp

Alan Watts luận về sự chết

 

 

9780394719993

Hình bìa sách trên khổ paperback.

 

Hôm đi sang Bỉ Tháng Mười và Mười Một năm nay, tôi có mang theo cuốn Cloud-Hidden, Whereabouts Unknown – A Mountain Journal của Alan Watts, để phòng khi di chuyển đường dài bằng tàu hỏa có gì đó để giết thì giờ. Vì đây là loại sách vừa triết vừa tôn giáo nên tôi biết rõ không dễ dàng gì nuốt hết trong một sớm một chiều. Nhưng suy luận rằng, đi xa cần phải có hành trang gọn nhẹ, chỉ một hai cuốn sách thôi, nên tốt nhất là mang theo thứ gì khó nuốt mới lâu hết, còn thứ dễ tiêu hóa như tiểu thuyết thì trong ít ngày là bị ngồi “chèo queo” liền.

Hôm lấy xe lửa đi từ Liège lên Brussels để thăm viện bảo tàng quân sự của hầu hết các cuộc chiến từ VN trở về trước (hên nhân kỷ niệm 100 năm Thế Chiến Thứ Nhất nên được vào cửa miễn phí), tôi cầm theo cuốn sách triết này làm bùa hộ mệnh trong một tiếng đồng hồ khi đi và một tiếng nữa cho chặng về.

Tác giả cuốn sách có một bằng master về theology và một bằng tiến sĩ về divinity, nói chung là về thần học cả. Ông nổi tiếng chuyên diễn giải về thiền học Phật giáo cùng các triết học Trung Hoa và Ấn Độ qua ngôn ngữ Tây Phương cho độc giả Âu Mỹ dễ hiểu. Ông là tác giả của hơn 20 cuốn sách nhưng có lẽ quen thuộc với chúng ta nhất là cuốn The Way of Zen. Ông mất năm 1973.

Cuốn sách sắp đề cập ra đây mở đầu ở trang trong với bài thơ tứ tuyệt của nhà thơ đời nhà Đường, Chia Tao (Wikipedia phiên âm Jia Dao) (777-841). Bài thơ viết bằng tiếng Hán, do Lâm Ngữ Đường chuyển ngữ sang tiếng Anh. Tôi chép lại dưới đây để chúng ta cùng đọc (Alan Watts chọn bài thơ để mở đầu cuốn sách của ông, và câu cuối để làm tựa cuốn sách):

 

Searching for the hermit in vain

(Hoài công tìm đạo sĩ)

I asked the boy beneath the pines.
He said, “The master’s gone alone
Herb-picking somewhere on the mount,
Cloud-hidden, whereabouts unknown.”

 

(Tạm giải nghĩa cho các bạn ít vốn tiếng Anh: Tôi hỏi chú tiểu đồng ở dưới rừng thông, sư phụ đi đâu. Nó đáp sư phụ lên núi hái thuốc một mình, mây dày quá sư phụ ở đâu không thể biết.)

 

 

Seeking the Master but not Meeting Beneath a pine I asked a little child. / He said the Master went to gather herbs. / Alone was he upon this mountainside, / The clouds so deep he knew not where he was. (Bản dịch từ Wikipedia)

Như đã nói ở trên, đây là cuốn sách khó tiêu và mỗi chương là một đề tài nên tôi lật may rủi, trúng đâu đọc đó. Tôi lật trúng chương The Reality of Reincarnation nằm ở trang 61, phần này Alan Watts viết năm 1972 tức một năm trước khi ông chết. Mới đọc một đoạn đầu tôi đã bị lôi cuốn ngay, có lẽ phần nào nội dung của nó hợp với thắc mắc của tôi. Ba tôi năm nay 92 tuổi, trước ngưỡng cửa sắp bước vào một thế giới khác, ắt hẳn ông có những suy tư riêng. Tôi nhận thấy trí nhớ của ông xuống rất nhanh, phải chăng do lão hóa hoàn toàn hay phần nào do những suy tư về sự ra đi đó. Tôi thích lối diễn giải của Alan Watts về sự chết và tôi ước mong sao có đủ tài để truyền lại với ba tôi một cách dễ hiểu để tâm hồn ông được thanh thản hơn cho đến ngày cuối. Vì việc chuyển ngữ một tư tưởng triết học không giản dị như dịch một bản tin hay một tiểu thuyết nên tôi tạm giữ nguyên tác như dưới đây, sau này rãnh sẽ dịch sang tiếng Việt, hay xem như một công án để chúng ta cùng làm việc đó.

 

***********

 

LN_179

Cimetière du Père Lachaise, Paris, Nov 2014 (Hình: Colnav Nguyen)

 

“As far back as I can remember, I have always been fascinated by the idea of death. I think most children are. “If I should die before I wake….” The prospect of going to sleep and never waking up is unthinkable but compellingly fascinating. One must agree, then, with Albert Camus that the only really serious philosophical question is whether or not to commit suicide. Because this is not just a matter of going forever into a state of darkness, like being buried alive or going blind. It is not only to have no future, to pass into a state of total blankness; it is also to be as if one had never been at all, to have neither present nor past. It would be as if, not only myself, but also the whole universe had never existed. And there would be no one to miss, regret, or object to the loss. No problem at all.

“At least, this would be the common sense of the matter, abandoning all ideas of personal survival as wishful thinking without basis in any reliable evidence. Most intelligent and skeptical people take this to be the way things are, realize that nothingness is inconceivable, shrug their shoulders, and think no more of it. But I have never been able to be content with letting it go at all. I continue, as one spellbound, to contemplate, to try to imagine the state (or is it the nonstate?) of nothingness.

When I ask myself the seemingly meaningless question what it is like to be nothing and never to have been, I think first of the way my own head looks to my eyes. For, going by the sense of sight alone, there is not, right behind my eyes, a dark place, or a hazy place. There is a positive sensation of nothing — which is quite different from saying that there isn’t anything, because, after all, I see out of this nothingness.

The second idea that comes to mind is that when I am dead I will be (or “it” will be) just as I was before I was born. In both states, after death and before birth, it is as if I — and all else — had never been at all. Most people, again, shrug their shoulders and say, “We come from nothing and we return to nothing — and that’s the end of it.” But I demur. For it strikes me as utterly amazing that I did in fact come from this nothing. If I came from it once, I see no reason why I could not come from it again; for it, as is indeed the case, I did not come from it once, this nothingness is, to say the least, unexplainably frisky.

Now let me put together these two ideas of what nothingness is like. I try to go back and back in memory to how it was before I was born, and find a blank. I try to turn about and see what is immediately behind my eyes and also find a blank. But in both case I have other evidence for knowing that something is there. Before I was born, there were my father and my mother, the earth, the sun, moon, and stars, the galaxy, and the whole energy of the universe — and then space, another seeming blank. All this is blank because I have no memory or sensation of it as it was before I was born.

In the same way I know that behind my eyes is my invisible brain. I do not understand it or remember how I grew it, or how my father and mother grew it, and I have no direct sensation of it. Therefore it is blank. But my seeing comes out of it in just the same sort of way that my being comes out of my father and mother, and the whole universe behind them, and the space “behind” it. As my unseen brain sees with my eyes, my unremembered past (which is the still continuing world) feels with my body.

So, if I go back to the “nothing” before I was born and out of which I came, I find this very real and active universe. I have also the best evidence for believing that this same universe will be just as real and active after I am dead, for I have seen others die and then others born, and it still goes on.

Now where in all this am I to locate my self? Most of us would agree without much argument that the unseen brain is more essentially me than the eyes, since a blind person still feels that he exists. But where am I to locate my self when I consider that, just as my brain sees with my eyes, the universe feels with my body? In other words, my body and all bodies come forth from this whirl of energy as leaves come from trees and fish from the ocean and, most remarkably, stars from space.

If, then, I identify my self exclusively with my body, I separate it from the whirl of energy which “grew” me and, for that matter, is still growing me with its light, heat, air, and water. Yet if I identify my self with the whole whirl (which would be perfectly reasonable) people would say, “Who the hell do you think you are? You don’t run this universe.” To which I reply, “Who the hell do you think you are? You don’t know how your brain works. You haven’t the faintest idea how you shaped your skeleton.” It is, then, just as reasonable to say that it is just this particular body, for I don’t consciously manage either. I don’t warm up the galaxy. I don’t design my nervous system. It happens, and I happen. My self does not manage itself as if it were something outside itself like an automobile or a typewriter. So if I don’t manage my self – if only defined as this body – there is no reason why I shouldn’t define my self as the whole universe. Considering all, the latter definition is far more reasonable.

 

LN_180

Cimetière du Père Lachaise, Paris, Nov 2014. (Hình : Colnav Nguyen)

 

Furthermore, it seems obvious that the universe is a system which, by means of living bodies, becomes aware of itself — up to a point. Just as there is a blank behind the eyes, and just as you can’t kiss your own lips, the universe cannot know itself completely. If it could, there would be no surprises, and that would spoil the fun. Existence would be like making love to a plastic woman.

With all this in mind, we can take a reasonable approach to the problem of death. By that I mean that we can clarify the problems without recourse to spookery — to devine revelations, to other people’s alleged psychic experiences, to spiritual teachers of questionable authority, or to any kind of unverifiable hocuspocus. Without resorting to anything beyond what we all know; without supposing the existence of anything like an immortal soul, it can, for example, be shown that the ancient and popular idea of reincarnation is completely rational. I will not go so far as to say that I can prove it; but I can come close to that, and with better evidence than is available for many things that are taken as a matter of course.

To explain myself I will have to invent the verb “to I,” which, with a convenient pun, has the same kind of sense as “to eyes” — and I will spell it that way to avoid chimsy typography. So the universe “eyes” in the same way that a tree “apples” and space “stars.” (You can always turn a noun into a verb because every thing is also an event, a happening. Houses are “housing.”)

My body, your body, everbody is the universe eyeing. Presumably to go beyond partiality and prejudice, it eyes with myriads of different bodies and keeps changing them. Variety is the spice of life. And because each body is the universe eyeing, everyone feels that he or she is “I.” Obviously, after the death of any one body, other bodies come into being, and in every case they have just the same experience of coming out of nothing as you and I had when we were born. So when the universe stops eyeing with my body, this body, it goes on with others, and all these others feel themselves as much “myself” as I do now.

I know, then, that after I die other bodies, other eyeings, will be born. But this is really the same thing as saying that after I die I will again awake as a baby — any baby, but only one — just as I did before but without remembering the previous trip. For anyone who argues that after death there will be nothingness forever is really saying that when he dies the universe will cease to be. But we know that it goes on after people die, and that because it does the eyeing it is really more my self than this particular body. If any apple could become fully aware it would say, “I am what the tree is doing.” Thus if the universe has eyed me once it can eye me again. For effect I have put the word “me” in that sentence; if you doubt its truth, cross it out, and the sentence will be unquestionably true. And it will mean almost the same thing — because eye = me.

But to believe in reincarnation we must show that there can be some particular connection between two distinct eyeings that do not overlap in time, as do father and son. If I talk about the universe “eyeing” me again, I am supposing that it will again produce another body, another life, so close to mine in style and character that it could be recognized as a return of Alan Watts. “Cold comfort,” you may object, “because that will still be someone else, even if your very double.” Nevertheless, I can show that there could be just as much connection between that other Alan Watts and myself as there is between myself today and myself tomorrow.

It all depends on what we mean by connection. Look at any magazine photograph with a magnifying glass. Firm and continuous lines will dissolve into disconnected dots. Or go in the other direction. From close by, our galaxy apprears to be a dispersal of disconnected stars, but from far off we would see the form of a spiral nebula. There are no “strings” connecting these stars. What connects them is that they form a pattern, in the same way as the dots in the magazine photograph. Patterns are not only configurations in space but also rhythms in time and, as such, are things, forms, and events just as real and solid as anything else that we can experiece. Solid steel is a pulsating gyration of electrons and positrons separated by relatively colossal spaces, and physicists cannot quite make up their minds whether they are particles or waves.

Continuous time-patterns are also revealed by fast-motion pictures of growing plants, or by speeding up the projector in a planetarium to such a pace that the planets seem to trace continuous lines across the dome. In the motion picture the plant is seen to be making a definite, formal gesture — like opening one’s hand – which is not ordinarily seen. In the planetarium the actual course or orbit of the planets becomes visible. Indeed, whatever we experience as existing, as continuing in time, is not so much persistent stuff as repetitive rhythm or vibration.

Although it would be technically impossible to show a fast-motion picture of the courses of myriads of human lives between, say, 10,000 B.C. and the present, it would not be unreasonable to think that, if it could be done, we would recognize connections of patterns between separate courses. We could see a series of lives running from 10,000 to 9,930, from 8,500 to 8,430, and from 8,300 to 8,240, in which three different individuals were tracing out a coherent pattern of behavior. At that speed they would seem just as much three appearances of one individual as someone you met successively at perhaps seven-year intervals. For the coherent continuity of any one individual is much like a whirlpool in a river; it is “there” day after day, although the water itself never stays put. You could even say that there is no such thing as a whirlpool, but that the river is whirlpooling in the same way that the universe eyes and the plant flowers.

You could argue that no such connections or continuities would exist without someone or something, like an observer or a camera, to record them. But then, to be consistent, you would have to say that the spiral pattern of a galaxy doesn’t really until it is observed. It would be the same argument to say that there could be no real continuity between one life and another unless it had been “photographed” on one’s memory. But this will force you into arguing that a tree in a lonely valley isn’t there until someone sees it, and if you insist on following that line of reasoning you will at last be forced to claim that you are God imagining the universe. That might be true, but it isn’t the sort of position that the scientific and skeptical people want to adopt.

You might also argue that, given an observer, no such connections would be seen. This is utterly unlikely, because even among things so randomly distributed as the heavenly bodies we see galaxies, constellations, and the solar system; we find beauty in clouds and spray, and music in the sound of water. That we do so may have much to do with the structure of our senses and nerves, but they are, in turn, part of the system. It makes sense of itself in the act of eyeing, of sensing.

 

LN_178

Cimetière du Père Lachaise, Paris, Nov 2014. (Hình: Colnav Nguyen)

 

If you have followed me this far you will have stopped worrying about death. You will have realized that to be or not to be is not the question, because you are a repeatable act of eyeing on the part of a system, a universe, that has perfectly well been able to take care of itself for at least 10,000 million years. And considering that, by means of death, it provides itself with a periodic forgettory as well as a memory, and also that it beholds itself in such improbable forms as giraffes and toucans, you may well be assured that it (i.e., you) will never be bored.

I have been trying, then, to show the extreme likelihood of a reincarnation process without resorting to any evidence from the field of parapsychology and psychic research, in which such responsible investigators as Ian Stevenson have studeid large numbers of people who claim vivid memories of fomer lives. (Dr. Stevenson is chairman of the Department of Neurology and Psychiatry at the University of Virginia School of Medicine and author of Twenty Cases Suggestive of Reincarnation, published in 1966 by the American Society for Psychical Research.) To most scientists this evidence is still suspect because, for one thing, the human mind is a fertile field for hallucinations and, for another, there has been no scientifically acceptable and respectable theory to suport it. But if Dr. Stevenson can establish, in one case alone, that a person remembers details of a former life which he cannot have discovered by ordinary means (and I think he has established it in more than one case), all we need is an intellectually respectable theory to account for it.

But it should be noted as an amusing aside that what is intellectually respectable is often a matter of academic fashion. When the great Austrian entomologist Von Fritsch proved beyond all doubt that bees use language, an entomologist at the University of California expressed “passionate reluctance” to accept the evidence. Why the emotional reaction? Because in much of the academic and scientific community it is a point of honor, a rubric of ritual, and a requirement of intellectual etiquette that one abstain from saying anything that might remind one’s colleagues of religion, mysticism, magic, or the supernatural — or anything to suggest that forms of life other than human are truly intelligent. Up to a point this is a healthy attitude with which I am not arguing, except to remind such academicians of their overly heavy emotional investment in maintaining it. In the meantime I prefer to play the game by their rules.

I have been explaining a theory of connection between bodies or forms that are separate in space, such as electrons and positrons or stars, or distinct in time, such as the individual pulses of a musical tone or of cosmic rays. I have also suggested that still more widely separated events, such as individual life-courses and the appearance and disappearance of stellar systems, can also be considered as pulses in a continuing rhythm or time-pattern. This is akin to the proposal of the British biophysicist Launcelot L. Whyte that the unitary principle of all systems be considered as their form (or pattern). This simple and elegant idea is extremely hard to explain to people who have had it rubbed into their minds that the world operates like a game of billiards wherein solid balls of stuff shove each other around, and must therefore be explained on the basis of Who Pushed Whom? There is nothing in the least unscientific about Whyte’s idea because forms can be measured, counted, and described, whereas pure and undifferentiated stuff is utterly inconceivable.

Right here is the main reason why any memory of former lives cannot be explained “scientifically.” For scientists — especially engineers, and even some physicists — still have it in the back of their minds (though many of them know better) that all physical processes must be inscribed and transmitted on basic stuff. It seems, then, that to explain remembrance of past lives there would have to be some sort of imperishable stuff or substance to carry the memories, like a photographic film. But that would be just exactly what was meant by the crude sense of the old-fashioned soul or spirit, which neither I nor the scientific community wants to drag in.

If, however, we won’t allow ourselves to drag it in to explain memories of former lives, we can’t use it to explain memories of last Tuesday. There seems to be no problem about remembering last Tuesday because we have all been tacitly assuming that its events have been imprinted on the stuff of our brains and bodies. Yet there is no such stuff, just as there are no strings connecting the stars of the galaxy or electrons of the atom. Just as the physicists have never been able to detect any spiritual stuff. They have found measurable shapes, structures, patterns, and pulses — all with lots of space between them — but no undifferentiated goo out of which these forms are “made,” like pots from clay. If you ever did find this basic stuff, how would you talk about it? It would entirely elude formal and structural description. All along the whole notion of material stuff has been a superstition as gross as werewolves and banshees. What we really experience as stuff is nothing more than form seen out of focus, for you can’t see the detailed structure of kapok or clay until you look at it with a microscope. Then it is no longer fuzzy or gooey stuff; it is crystal clear.

Thus when a scientist like Ian Stevenson finds someone who remembers a former life, what can he do except check out the story in just the same way as he would verify someone’s account of what happened last Tuesday? A small boy in Thailand, or Japan, takes us to a village where he has never been, shows us the way around, and introduces us to all his old friends. So he remembers. We don’t like to admit it (we say because we can’t explain it) but the truth is that while there is some evidence for reincarnation, we have a theory against it. We don’t rule out the stars as hallucinations on the theory that light cannot pulse across empty space where there is no ether, no stuff to carry its waves. We don’t make the initial supposition that all tales are lies or fantasies until it is proved otherwise, or until we know more about the nervous system, or about the relation of mind to brain. But in a cultural situation where reincarnation has been both theologically and scientifically heretical, we are not likely to encourage or listen to little children when they speak of it.

In sum, then, I have tried to show that reincarnation has very strong theoretical probability, without resorting to the paranormal evidence and even without being able to explain the transmission of memories. I have carefully avoided bringing in the moral and retributive arguments, since they have little force, and I do not find a person’s fortunes or misfortunes explained by a former life. I find the explanation postponed, as in all attempts to explain the present by the past. But it is basically an intellectual block to find it incredible that you have more than one life. It is just as incredible that we have this one. It is still more incredible to supose that what has happpened once can not happen again.

 

**********

 

LN_177

Cimetière du Père Lachaise, Paris, Nov 2014. (Hình: Colnav Nguyen)

 

Chương này kể ra cũng khá dài đối với bài viết này. Trong khi chờ bạn bè giúp dịch ra để chia sẻ với mọi người (đều ở ngưỡng cửa 60), tôi tóm tắt vài ý chính của Alan Watts.

Sự chết là đề tài muôn thuở với muôn vàn lời giải thích của nhân loại. Từ hồi ấu thơ người ta đã từng thắc mắc, sẽ thấy gì sau khi ngủ luôn không thức dậy. Chắc là đi vào một vùng u tối như khi bị chôn sống hay bị mù, nhưng vậy chưa hẳn là đúng vì người mù tuy thấy tối đen nhưng họ ý thức được cái thấy đó. Đây là sự đi vào một trạng thái trống rỗng như chưa từng hiện hữu, không có hiện tại hay quá khứ, không còn ai để nhớ, để thương tiếc. Sự trở lại với trạng thái giống như trước khi chào đời, như chưa từng hiện hữu. Nhưng nếu đã một lần đến từ nơi trống không này thì không lý do gì lại không từ đó mà trở lại. Trước khi ta sinh ra đã có cha mẹ ta ở đó rồi, cả mặt trời mặt trăng, cả năng lượng của vũ trụ bao la, có điều là trống không trong trí nhớ ta vì không có ký ức trước khi ta ra đời. Sau khi ta chết cũng tương tự như vậy, vũ trụ này vẫn không đổi, như ta đã từng chứng kiến, vẫn có người qua đời và đồng thời có những người khác mới sinh ra. Như vậy cho rằng sau khi ta chết tất cả đều trống không là không đúng.

Dùng kính lúp nhìn vào một đường liên tục nơi một bức ảnh đăng trên một tạp chí chúng ta thấy nó gồm những chấm nằm cách khoảng nhau. Tương tự, đứng ở trái đất nhìn lên bầu trời ban đêm chúng ta thấy vô số những ngôi sao nằm rải rác nhau, nhưng nếu quan sát từ xa thật xa ngoài giải ngân hà thì sẽ thấy nó là một vòng xoáy liên tục. Tất cả không nối kết bằng sợi dây nào nhưng là đồ thị liên tục với thời gian (continuous time-pattern). Nhìn một khối thép, ta tưởng là đặc nhưng thực ra nó gồm các điện tử và dương tử chuyển động xoay, cách xa nhau với khoảng không mênh mông. Mô hình đồ thị liên tục với thời gian có thể được thấy nơi cây cỏ vươn lên qua sự chiếu phim tốc độ nhanh, cùng với kỹ thuật này khiến ta thấy sao vạch những đường liên tục trên bầu trời đêm. Kinh nghiệm về hiện hữu là sự liên tục theo thời gian. Kỹ thuật hiện nay chưa cho phép chúng ta quây phim tốc độ nhanh để quan sát vô số kiếp người từ 10,000 năm trước tây lịch đến nay. Nhưng nếu ngắt từng chặng bằng từng kiếp người để quan sát, mà mỗi kiếp trung bình là 60 hay 70 năm (chương này viết năm 1968) thì ta thấy chúng có một pattern tựa nhau. Như vậy sự sống chết luân lưu liên tục, không có một “bàn tay” nào bên ngoài tác động vào. Có người lý luận rằng sự liên tục như trên không thể hiện hữu nếu không có một quan sát viên hay một camera để ghi nhận. Nói vậy tức cho rằng mô hình xoáy ốc của giải ngân hà là không hiện hữu cho đến khi nó được quan sát, hay một thân cây đứng trơ trọi nơi hoang vắng là không có thật đến khi được nhìn thấy sao. Lý luận tương tự khi nói rằng không có sự liên tục thực sự giữa hai kiếp người, trừ khi sự kiện này được “ghi nhận và lưu trữ” trong một bộ nhớ không bao giờ bị hủy diệt. Nói đến đây, với câu nói bất hủ của văn hào William Shakespeare “To be or not to be that is a question” sẽ là hiện hữu hay không hiện hữu sẽ không còn là vấn đề nữa, vì chúng ta là một hành động lập lại của một hệ thống, một vũ trụ, vốn tự nó vận hành tối thiểu từ 10,000 triệu năm qua.

Bài lược thuật vắn tắt này vì hết sức cô đọng, nên không tránh được vô số thiếu sót ngoại trừ được dịch ra từng chữ từng ý. Chỉ mong được chia sẻ với mọi người để cùng luận bàn.

Đọc báo coi phần cáo phó mới biết một người qua đời ở tuổi 59 trở về trước thì được gọi là hưởng dương, trong khi từ 60 trở lên là hưởng thọ. Như vậy từ đây tập thể “sáu bó” của mình ai cũng đang được ăn “bonus” cả, thêm năm nào lời năm nấy. Mà tới lúc phải đi thì đi thôi e ngại chi. Đi là không còn nhớ chi hết, vì bộ nhớ xài từ khi mới đẻ đến lúc ra đi bị hủy diệt theo với thân thể. Nhưng theo Alan Watts, cái pattern của đời sống con người là lập lại, sau khi lìa thân thể này thì lập tức đi vào thân thể khác, hoàn toàn mới, không còn nhớ gì của cái cũ. Sự ra đi xem vậy mà vô tình vì nó để lại sự nuối tiếc nơi người chưa đi trong khi nó hoàn toàn dửng dưng vì không còn nhớ gì hết khi đã qua nhà mới. Đức Phật thấy cái pattern này nên đã dạy chúng ta cách vượt ra khỏi nó, nếu không thì cứ vô vòng lập đi lập lại đó đến vô tận. Vì sao phải sợ, phải tiếc nuối khi phải lìa vòng đời này để qua vòng đời khác. Sự ra đi khiến tôi hình dung giống như người ta nhảy khiêu vũ đổi cặp thấy trong những phim lịch sử bên Âu Châu. Tôi nghiệm sự ra đi cũng giống như khi một bóng đèn bị vỡ, các điện tử lập tức chạy sang một bóng đèn hay một dụng cụ chạy điện nào khác. Chờ sự góp ý của quí bạn sáu bó.

Chúng ta có thể theo dõi thêm vài trích dẫn của cuốn sách được trích ra qua phần audio do một sinh viên trường Utah State University đọc dưới đây :

 

 

 

 

 

 

 

Thảo luận

5 thoughts on “Alan Watts luận về sự chết

  1. From: Tong Mai
    Dec 5, 2014

    “Be calm and be patient! Lộc đang bào chế một thứ thuốc để không còn thấy tất cả là vô nghĩa. Sẽ gửi nội ngày mai hoặc đêm nay.” LN

    Ôi thì ra Alan Watts và Reality of Reincarnation là thứ thuốc mà Lộc gởi để an ủi một tâm trạng “tất cả đều vô nghĩa ” đó của bạn mình. Mai ngạc nhiên với sự ý nhị này và hiểu ngay Lộc muốn nói gì.

    Cám ơn Lộc đã đưa Alan Watts vào để chứng minh reincarnation, một continuative, một linear time của vòng đời nối nhau từ vòng này qua vòng khác mà không có sự tiêu diệt. Và nếu hiểu vậy thì không có sự sợ hãi hay nuối tiếc khi phải lìa vòng đời này để qua vòng đời khác.

    Mặc dù không băng khoăn về cái hữu hạn của đời người và không nghĩ về đời sau, nhưng Mai cũng rất thích đọc vấn đề này với một tâm niệm bàng quang không bị ảnh hưởng. Vì không thắc mắc đến cái gì sẽ xảy ra sau cái chết nên Mai chi sẽ nói cảm nhận riêng của mình, làm sao có khả năng để bàn một cái gì mà mình chỉ chạm được nó bằng đầu ngón tay nhỏ hay bằng một ý niệm đầu lâu.

    Có reincarnation hay rebirth, không ai có thể chứng minh được vì không có bằng chứng. Thế nhưng, đó không có nghĩa rằng reincarnation không hiện hữu. Làm sao ta biết ta chỉ được sinh ra có một lần, nếu đã được sinh ra môt lần thì cũng có thể sinh ra hai lần, ba lần……Đó là lời nói của Voltaire: “After all, it is no more surprising to be born twice than it is to be born once.” mà Alan Watts dùng để chống đở lập luận reincarnation của mình. Không tin có life after death không có nghĩa rắng khái niệm đó là hư tưởng. Alan Watts tin có sự tiếp nối của consciousness sau khi thân thể tan biến nhưng trong một bài khác viết về Rebirth nói về Carl Jung thì ông lại nói đến total annihilation. Nên Mai cũng ngơ ra không hiểu ông muốn nói gì. Hay là ông muốn nói đến dualism? nhị nguyên? đến reincarnation có thật nhưng ta nên liberate from it?

    Thời còn nằm bệnh mấy năm trước, Mai được tặng liền cuốn The Tibetan Book of Living and Dying do Soyual Rinpoche của Tay Tang viết, người sáng lập ra Rigpa, network của những trung tâm Thiền trên thế gioi (Trọng chắc biết rõ điều này). Có nhiều ý niệm Alan Watts đã lấy ra từ cuốn sách đó, nhưng ông chuyển đạt lưu lóat bóng bẩy khó nuốt hơn cuốn kinh điển của Rinpoche.

    Đối với Mai chỉ có cuộc đời này, ngay bây giờ trên mặt đắt Mai đang dẩm chân lên là có thật. Điều gì xảy ra sau khi tim ngừng đập Mai không quan tâm đến. Khi giây phút đó đến thì sẽ nhìn nó với lòng yên tỉnh. Làm sao có thì giờ để chiêm nghiệm đến đời sau. Cuộc đời chỉ hiện hữu trong giây phút hiện tại, không nơi nào khác và nếu ta không nắm được ý niệm đó thì có lẽ ta đang sống trong ảo tưởng.

    To see the World in a Grain of Sand
    And a Heaven in a Wild Flower
    Hold Infinity in the palm of your hand
    And Eternity in an hour
    (W. Blake)

    “Tất cả đều vô nghĩa. Tất cả đều hư ảo trừ bầu trời vô tận kia. Và không còn hiện hữu nào khác ngoài sự hiện hữu của bầu trời. Nhưng có lẽ, ngay cả bầu trời cũng không có thật. Có lẽ không còn gì hiện hữu, không còn gì cả ngoài sự tỉnh lặng và bình yên.”

    Mai
    ps. “Nỗi sợ hãi khi qua đời là nỗi sợ lớn nhất, vì chúng ta nghĩ sẽ không còn là gì cả. Nhiều người cứ tưởng một cuộc đời bắt đầu khi lọt lòng và kết thúc khi hắt hơi cuối, nhưng Đức Phật có quan niệm rất khác là cái chết hay sự sinh chỉ là những khái niệm”. Thầy TNH giảng: “Theo Đức Phật, sống và chết không có thật, chính vì do vô minh xem chúng là thật nên chúng ta mới đau khổ. Đức Phật dạy không có gì đến khi sinh, không có gì đi khi tử, không có khác biệt, không có cái ngã, vì thế cũng không có điều gọi là không còn gì cả (annihilation)”. Thầy giảng: “Chính chúng ta phóng tưởng và cho mọi chuyện sinh tử là có thật. Chỉ khi nào chúng ta bừng hiểu là chúng ta không thể bị tiêu diệt, chúng ta mới thoát khỏi nỗi sợ hãi. Đó là cảm giác an tâm vĩ đại. Lúc đó ta mới thương yêu cuộc sống này theo một cách thức hoàn toàn mới mẻ”
    Thich Nhat Hanh

    Số lượt thích

    Posted by TongMai | Tháng Mười Hai 6, 2014, 7:17 chiều
  2. From: Do Tung
    Dec 5, 2014

    Ghì chặc trong tay cả cuộc đời
    Ôm choàng giấc mộng tiếng thơ ơi
    Trăm năm vẫn biết vô thường nhỉ
    Sao chẳng vui chơi tạm cõi này ?
    ĐT – 5/2014

    Hội tụ của Vật lý với Triết học Phật giáo
    Một trong những khía cạnh thú vị của vật lý lượng tử từ quan điểm của Phật giáo là hạt (mà trong vật lý cổ điển đã từng được coi là những mảnh nhỏ của vật chất) hiện được xem là tiến trình bao gồm các hàm số sóng liên tục phát triển và thay đổi. Những tiến trình này chỉ cho thấy các hạt riêng rẽ và địa phương ở thời điểm được quan sát .
    Vì vậy, các hạt sẽ thay đổi liên tục, và không hề có sự tồn tại cố hữu độc lập với hành động quan sát . Do đó, tất cả mọi thứ bao gồm các hạt cũng là VÔ THƯỜNG và liên tục thay đổi, và không thể tìm thấy cơ sở tĩnh, ổn định cho sự hiện hữu của nó.
    Vì vậy, ở một mức độ rất tổng quát , quan điểm khoa học của thế giới đã hội tụ với quan điểm Phật giáo. Phật giáo là một “tiến trình triết học”, cho rằng cơ sở căn bản của thực tế là sự thay đổi, tiến trình và VÔ THƯỜNG. Sự trở thành là căn bản hơn sự hiện hữu, và SỰ HIỆN HỮU THỰC SỰ CHỈ LÀ SỰ VÔ THƯỜNG TRONG CHUYỂN ĐỘNG CHẬM.
    Quan điểm ngược lại là thuyết thực thể, cho rằng thực tế hay vật chất cố định làm nền tảng cho hiện tượng. Trong quá trình chuyển đổi từ vật lý cổ điển đến vật lý hiện đại, lý thuyết nguyên tử đã thay đổi từ thuyết thực thể đến một lý thuyết có sự tương đồng với quan điểm của Phật giáo về thực tại.

    Đọc tiếng Anh có khi dễ hiểu hơn tiếng Việt:
    Convergence of Physics with Buddhist Philosophy
    One of the interesting aspects of quantum physics from the Buddhist point of view is that particles, which in classical physics were once regarded as little pieces of matter, are now regarded as processes consisting of continuously evolving and changing wave functions. These processes only give the appearance of discrete and localized particles at the moment they are observed.
    So particles are forever changing, and lack any inherent existence independent of the act of observation. Consequently, everything composed of particles is also impermanent and continually changing, and no static, stable basis for its existence can be found.
    Therefore, at a very generalized level, the scientific view of the world has converged with the Buddhist view. Buddhism is a ‘process philosophy’, holding that the underlying basis of reality is change, process and impermanence. Becoming is more basic than being, and existence is really just impermanence in slow-motion.
    The converse view is substantialism, which holds that constant realities or substances underlie phenomena. In the transition from classical to modern physics, atomic theory has changed from substantialism to being in agreement with the Buddhist process view of reality.
    Tung

    Số lượt thích

    Posted by TongMai | Tháng Mười Hai 6, 2014, 7:19 chiều
  3. From: LCHoang
    Dec 5, 2014

    Cám ơn bác Lộc ĐP. Mình rất tâm đắc với bài viết cụ Lộc ĐP giới thiệu. Một đề tài hấp dẫn, thú vị và khó nuốt.

    Xưa nay mình cũng rất thích thú theo dõi và tìm đọc nhiều về tiến hóa của vũ trụ và vạn vật, từ ‚big bang‘. Theo mình nhân lọai trên trái đất này chưa là một phần triệu triệu của một hạt cát trong Đại dương đối với vũ trụ xung quanh Nhưng con người vẫn hoài vọng đi tìm bằng được cho mình một cuộc sống vĩnh cữu. reincarnation là một giả thuyết tinh thần cho hoài bão, một ham muốn về một cuộc sống trường sinh.

    Thật sự con người chỉ là một sản phẩm tuyệt hảo của vạn vật nhỏ nhoi trong Thái dương hệ này, và vũ trụ nay có bao nhiêu Thái dương hệ, cho đến giờ con người vẫn chưa biết. Nhân loại với tính hiếu kì, óc khám phá đã bắt đầu đi tìm, thám hiểm cho bằng đươc môi trường xung quanh, nhưng càng tìm ra càng hiểu được vũ trụ càng thấy mình càng nhỏ bé. Và càng nhỏ bé càng đâm lo âu sợ sệt.

    Một đứa bé chào đời có thể là một sản phẩm nhục thể của bố mẹ, nhưng trí não và tâm linh của nó là sản phẩm của bao triêu năm tiến hóa của sự sống trên trái đất này (bởi có thể có nhiều sự sống khác trên những trái đất nào đó có tiến hóa khác). Nó thừa hưởng một kinh nghiệm chuyển tải từ tiến trình atavism. Não bộ của nó khi sinh ra đã có một trí thông minh chưa được khai phá, thừa hưởng của tiến trình evolution của vạn vật.

    Con người với tham muốn vô hạn, đi khai phá Đại dương, đi khai phá Lục địa, khai phá mặt trăng, Hỏa tinh … thật ra tất cả vạn vật đó đã hiện hữu trước khi con người thành hình mà chưa biết đến.

    Con người ‚eyeing‘ vũ trụ và vạn vật qua tham muốn tự tìm hiểu mình. Vũ trụ không hề ‚eyeing‘ và chẳng bao giờ thèm và để í đến con người.

    Theo mình nghĩ Đức Phật đã đã chứng ngộ điều này, nên trong giáo lí thường nhắc đến ‚vô thường‘, mình hiểu chữ vô thường như là một gì rất nhỏ bé của bản thân, ta không là gì cả (không biết hiểu nothingness như vậy có đúng không).

    Và mình nghĩ chết là hết. Đừng vướng bận và đừng suy nghĩ.
    LCHoằng

    Số lượt thích

    Posted by TongMai | Tháng Mười Hai 6, 2014, 11:38 chiều
  4. From: Tong Mai
    Dec 6, 2014

    Bây giờ Mai mới có thì giờ để xem kỷ những bức hình Cimetière du Père Lachaise này.Rất thơ mộng, màu sắc trầm buồn đúng với khí sắc của một nghĩa trang.
    Mai

    Số lượt thích

    Posted by TongMai | Tháng Mười Hai 7, 2014, 2:59 sáng

Trackbacks/Pingbacks

  1. Pingback: 100 bài đọc nhiều nhất năm 2019 | thân tri - Tháng Một 1, 2020

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Thư viện

%d bloggers like this: