//
you're reading...
NHÓM HUẾ, Về Huế

Kiến Thức Căn Bản Về Huế

Thắc mắc về những địa danh ở Huế của Nguyễn Đăng Hoàng:
Các bạn,
Nghĩ lại thì kiến thức về Huế của tôi thật kém cỏi. Ngay những địa danh căn bản mà cũng không biết ở đâu. Chẳng hạng như bài hát ru em thường nghe từ nhỏ:
 
Ru con con thét cho mùi,
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu.
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai,
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim
 
Các bạn có ai biết 6 chợ nổi tiếng ở trên ở vùng nào? Tôi thì mù tịt.
 
Còn câu:
Kim Liên ơi hởi Kim Liên,
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê.
 
Đố các bạn Hà Khê là vùng nào? Tại sao lại gọi Hà Khê?
 
Còn Thần Kinh Thập Nhị Cảnh dưới đây, có bạn nào biết hơn 10 cảnh không? Tôi thì không.
Thần Kinh Thập Nhị Cảnh
1-Trùng Minh Viễn Chiếu (cảnh lầu Minh Viễn trong Tử Cấm Thành)
2-Vĩnh Thiệu Phương Văn (cảnh vườn Thiệu Phương- trong Tử Cấm     Thành)
3-Tịnh Hồ Hạ Hứng (cảnh hồ Tịnh Tâm-Trong Kinh Thành)
4-Thư Uyển Xuân Quang (cảnh vườn Thư Quang- Trong Kinh Thành)
5-Ngự Viên Đắc Nguyệt (cảnh vườn Ngự -trong Tử Cấm Thành)
6-Cao Các Sinh Lương (cảnh hồ Nội Kim thủy -trong Hoàng thành)
7-Trường Ninh Thùy Điếu (cảnh cung Trường Ninh-trong Hoàng thành)
8-Thường Mậu Quan Canh (cảnh vườn Thường Mậu-trong Kinh thành)
9-Vân Sơn Thắng Tích (cảnh chùa Thánh Duyên trên núi Thúy Vân)
10. Thuận Hải Qui Phàm (cảnh biển Thuận An)
11. Hương Giang Hiểu Phiếm (cảnh sông Hương)
12. Bình Lãnh Đăng Cao (cảnh núi Ngự Bình)
13. Linh Quán Khánh Vận (cảnh quán Linh Hựu-trong Kinh thành)
14. Thiên Mụ Chung Thanh (cảnh chùa Thiên Mụ)
15. Trạch Nguyên Tao Lộc (cảnh đầu nguồn sông Hương)
16. Hải Nhi Quan Ngư (cảnh phá Hà Trung)
17. Giác Hoàng Phạm Ngữ (cảnh chùa Gíac Hoàng-trong Kinh thành)
18. Huỳnh Tự Thư Thanh (cảnh trường Quốc Tử Gíam)
19. Đông Lâm Dực Điểu (cảnh rừng Đông Lâm-huyện Hương Thủy)
20. Tây Lãnh Thang Hoằng (cảnh suối nước nóng-huyện Hương Trà.
                                                         *  *  *  *  *
 Lê Cảnh Hoằng:

Bác ĐHoàng thân,

Mình cũng vậy, phải nói là mù tịt về những địa danh ở VN nói chung và ở Huế nói riêng.

Hình như đây là thiếu sót chung của khá nhiều lứa tuổi học sinh lớn lên vào thời buổi chiến tranh khốc liệt, những bạn bè thờ đó bị hoặc đầu quân vào lính vậy mà lại có được cơ hội đi đây đi đó biết nhiều vùng đất nước, nhiều địa danh hơn những người khác. Những địa danh nêu lên đó, mình chỉ biết được chợ Nam Phổ ở đâu phía Vĩ dạ đi xuống, sau này không nhớ đã ghé qua lần mô chưa. Mấy vùng khác thì chịu.

Mấy lần về nước trước đây có được ông giáo SửĐịa (trước 75) đọc cho nghe mấy điều cấm kị (nghe đâu là từ vua Tự Đức)

Cau thứ nhì thì mình vừa mới được giải thích, đó là một câu trong Lục Vân Tiên được các bà mẹ ngày xưa hay ru em. Bởi vậy không biết cái miền Hà Khê ni nằm ở mô: Nam hay Trung?

Còn cái Thân Kinh Thập Nhị Cảnh, thì mới được nghe tới lần đầu, vả lại từ nhỏ tới lớn ở nhà cứ nghe nói là nhà trong Thành nội, và chữ Hoàng thành cũng chỉ có đôi khi được đọc trên sách vở, chứ Tử Cấm thành thì chưa nghe bao giờ (xưa chỉ đọc được trong kiếm hiệp KimDung, và nghe là liên tưởng ngay đến Bắckinh), chỉ nghe nói Đại Nội thôi. Hay đây là trò mấy vị TS, PTS, GS, PGS trong nước bắt chước Trung quốc thổi lên nghe cho nó oai.

Mấy lần về nước trước đây có được ông giáo SửĐịa (trước 75) đọc cho nghe mấy điều cấm kị (nghe đâu là từ vua Tự Đức)

Bất giao Nguyệt Biều hữu (Chớ làm bạn với trai Nguyệt Biều) Bất thú Dạ Lê thê (Chớ lấy con gái Dạ Lê làm vợ) Bất ẩm Thạch Hàn thuỷ (Chớ uống nước sông Thạch Hàn) Bất thực Lương Quán kê (Chớ ăn gà Lương Quán)

Không biết chi tiết do đâu, vì răng?

* * * * *

Đỗ Tùng:

Lượm trên web mà copy cái text không được nên phải copy luôn cả trang rồi crop (xem hình).
Tùng
ru em cho thec cho muoi
* * * * *

Nguyễn Đăng Hoàng:

Cám ơn bác Tùng đã giúp trả lơi 5 chợ ở Huế.

Riêng bác cai Hoăng là ngươi biêt nhiêu về Huế mà cũng mù tịt như tôi thì buôn quá.

Riêng trong 20 thăng cảnh xưa ở Huế do vua Minh Mạng viêt lại thì hơn phân nữa đã bị phá hũy: 1, 2, 4, 5, 7, 8, 13, 17, 18, 19. Sô còn lại đã thay đổi nhiêu. Chẳng hạng như Thuận Hải Qui Phàm-Thuyền buồm quay về bãi Thuận An, nay biển Thuận An nghe Bá Luận nói đã sạt lở trầm trọng. Bình Lảnh Đăng Cao – Núi Ngự đâu còn đẹp như xưa. Quôc Tử Giám cạnh Vân Thánh nay chỉ còn lại mây bức tương. Còn Tây Lãnh Thang Hoăng – Tôi không biêt là ở Huế có suôi nươc nóng.

Advertisements

Thảo luận

2 thoughts on “Kiến Thức Căn Bản Về Huế

  1. From: Vien Cam

    Mình thì biết “lỏm bỏm” vài nơi thôi :

    CHỢ DINH : ở sát cầu mới xây, Vĩ-Dạ đi xuống hướng biển Thuận-An độ 2 km nữa, cầu mới xây này nằm ở tay trái, gần đó có chợ Dinh do Ông Hoàng con thứ 6 của Vua Gia-Long lập nên, chợ này chỉ nhóm duy nhất 3 ngày tết thôi ( mồng 1, mồng 2 & mồng 3 tết tháng giêng ta) , lúc đầu chỉ để quan lại và dân hoàng tộc đi chợ & vui chơi 3 ngày tết , thời-gian sau đó dân thường cũng được tham dự, đạc biệt chợ này 3 ngày tết bán thịt bò tái rất là ngon. Bây giờ nghe nói người ta đang khôi phục lại chợ Dinh này . Ông hoàng thứ 6 này lập nên giòng Định-Viễn Quận-Vương của VC đó.

    MẬU-TÀI: Là tên của làng Mậu-Tài, làng này nếu đi từ cầu Trường-Tiền về hướng biển Thuận-An độ 5 km, gặp làng Dương-Nỗ (Làng bên nội của VC) bên tay trái ở chân cầu Lợi-Nông, từ làng Dương-Nổ đi sâu vào 2 km nữa là làng Mậu-Tài (Làng bên ngoại của VC đó). Nên nói không sai đâu

    VÙNG NAM-PHỔ: Đúng như Hoằng nói, từ Vỉ-Dạ đi về hướng biển độ 3 km, nằm phía bên tay trái, vùng này trồng rất nhiều cau & trầu, toàn là nhà vườn rất lớn không à. Nên dân gian có câu : “Con gái Nam-Phổ, ở .. trèo cau” là vậy

    Đại-Nội tên chính thức là Hoàng-Thành, trong đại-Nội có khu Tử Cấm Thành, khu này biệt lập nội bất xuất, ngoại bất nhập, khu ở và sinh-hoạt của vợ con của vua, các thứ phi & cung tằng mỹ nữ… Chỉ có các tên hoạn-quan mới được phép vào ra thôi…

    HỒ TỊNH-TÂM : Đi vào Thành-Nội qua của Thượng-Tứ là đừơng Đinh Bộ Lĩnh, đi thẳng theo đường này độ 2 km nữa trước khi đến đồn Mang Cá là hồ Tịnh-Tâm ở phia bên tay trái, đối-diện hồ Tịnh-Tâm bên tay phải là Tàng Thư Các, từ hồ Tịnh-Tâm đi thẳng 500 mét nữa là đồn Mang Cá cũ ở cuối đường Đinh Bộ Lĩnh.

    HUỲNH TỰ THƯ THANH ( Cảnh trường Quốc Tử-Giám) sau này là trường trung-học Hàm-Nghi trước 1975 đó . Trong nhóm Huế có rất nhiều bạn đã học trường này thời trung-học. VC có học ở đây 2 năm đệ-thất & đệ-lục

    Liked by 1 person

    Posted by TongMai | Tháng Mười 14, 2014, 10:48 chiều
  2. From: Hoang Trong

    Mậu-Tài
    Miên man một chút….
    Gởi các anh chị em thôn Mậu ở phương xa .
    Tôi không là nông dân nhưng có nhiều năm chân lấm tay bùn, bán lưng cho trời bán mặt cho đất vì may mắn có năm ba chữ được duyên làm thầy giáo trường làng trường xã! Ở trong tôi có chất nông dân vừa anh giáo làng.
    Cánh đồng thôn Mậu tôi chưa biết nhiều mà cũng đếm và kể được mươi lăm các xứ đạt ruộng làng ta: nào Cồn Cạn, Cồn Dạn, Cồn Khê, Cồn Cây, Vĩnh Khánh, Trương Mười, Cồn Thuế, Cành Lý đến Đạt Hạ, Đạt Thượng, Biền Bỷ… tận vùng ruộng sâu như Ô Vụng Trâu, Ô Cây Bường, Ô Cây Tra…để mỗi lần đi lại trên cánh đồng này nhiều cảm xúc cứ chảy mãi trong tôi.
    Ngày tôi còn bé tí tẹo theo anh đi “giữ đồng” cái thời mà sau này học lịch sử biết thêm tục lệ thời nông nghiệp tiểu nông trồng gì ăn đấy: để bảo vệ thành quả cây trồng vật nuôi ở thôn Mậu ta có lệ làng đấu “ngoạt”; vào vụ thu hoạch như vùng Triều Bắc với khoai, sắn, đậu mè… chủ hộ thường hay đếm từng bước chân đất hay vài đòn gánh, đòn sóc để lại cho chủ “dự đồng”! Nơi nào trồng lúa chủ ruộng gặt xong lật đựng một vài bó gọi là của công giữ đồng. Cứ như thế là có công ta công người. Nhớ những cái chòi tranh trên những mô đất cao của mấy chủ giữ đồng, gom từng bó lúa của một ngoạt đồng chất đầy trong trại; cái mùi lúa, mùi rơm cứ lởn vởn trong hồn con trẻ! Giờ nhìn đàn vịt lội cái mùi tanh tanh cùng sự vẫy vùng của hàng trăm con đà, con đen giữa dòng hói Cân mà nhớ chuyện xưa: con hói nhỏ với cỏ lùng, cỏ lát nước trong lẫn nước đục có biết bao nhiêu là cá để trẻ thơ làng ta đi câu: vai mang oai- sôn, tay cầm cần câu chân lấm bùn, đầu đội chiếc nón le te, từ hói này sang hói khác quăng mồi chờ phao chìm là giật kéo cá bỏ vào oai.
    Kìa những cột đá nằm trên bờ đập là mốc giới của ruộng Tự Điền: đất của Phủ Phòng vua chúa. Rải rác đây đó nhiều ngôi mộ ở Phá, Đạt Thượng, Cồn Nít, Cồn Khê… là của những người có công “mở cõi”. Thì ra ở đâu vẫn vậy, có dịp đi trên đường thiên lý đặc biệt là đồng bằng sông Hồng ở giữa cánh đồng thênh thang kia cũng có những ngôi mộ như chơ vơ với cái rì rào của lúa, của mây trời.
    Ở giữa hói Cân bây giờ trạm bơm khá hiện đại nhưng ngày xưa là cống Cồn Cây vừa ngăn úng chống hạn, lại nhớ các anh chị sau ngày giải phóng “lở eng”, “lở thằng” bỏ bút nghiêng ở công sở về làm nông dân vất vả muôn chiều, tình cờ gặp các anh chị nông dân bất đắc dĩ lòng xao xuyến làm sao! Ngồi bên bờ hói ánh mắt xa xăm với gánh mạ, luống cày, ruộng bùn lấm trái chân thon; nhìn xa xa lũy tre làng yên ả nhưng khó khăn chồng chất.
    Nhìn phía đông hơi xa là bức Ba Mậu ruộng thề khó quên… nhớ một kỳ tích lịch sử tranh chấp ruộng ta, ruộng người. Trước làng ta nhìn bên kia hói có mấy bức ruộng người dân làng Thanh nói ruộng “bánh bèo” mà nghe đâu ruộng ở làng Vĩnh Lại, Vĩnh Lộc với bức ruộng Cỏ Vịt, Cỏ Voi cũng có chuyện lao đòn gánh đo ruộng để đổi mấy nia bánh bèo xa xăm hư thực thực hư!
    Có dịp đi bên bờ hói Đạt Hạ nhìn qua phía đập Đuồi những luống cỏ xanh mơn mởn tai tôi bỗng “nhớ nghe” âm vang tiếng mõ của “xâu làng”:
    – Cấm trâu ăn kẹ, cấm nghé ăn dường, cấm bờ mương bợt hói.
    Ờ, cái thời xa xưa phong kiến nặng nề ấy có những tục lệ quy cũ làm sao. Các cụ nhà ta thời xưa đã từng cho thịt trâu bò khi những công cụ cày bừa kia phạm hương ước làng xã dù con vật đó của bất cứ ai.
    Trong Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An nhuận sắc năm 1555 có đoạn nói sông Hoài Tài khi viết về chùa Sùng Hóa… Quê mình cứ quen gọi hói trước để phân biệt với hói sau. Hói vì dòng nước nhỏ đôi bờ vẻn vẹn e không quá mười mét! Và hói trước đây là sông Hoài Tài. Còn hoái sau rộng hơn nhiều lần, nơi cách ngăn ruộng đồng với nghĩa địa và địa bàn cư trú của dân làng. Nhớ lại cách đây hơn bốn mươi năm một lũy tre làng xanh mướt kéo dài trên km như chắn gió cho cộng đồng sinh sống. Con dân làng quen gọi hàng tre xâu…những hàng tre dày đặc cành nọ đan xen cành kia có những ngọn tre uốn cong là là trên mặt nước trông như một bức tranh quê đúng nghĩa: chim chóc quần tụ đủ loài nào bìm bịp, nào sáo, nào cà cưởng, rột rột với những tổ chim đan lát công phu tinh tế… ngày ấy bọn trẻ con lấy tổ chim rột rột làm giày để đi cho vui chân. Trên trời là thế còn dưới bờ nước sát mép hói người ta khoanh vùng rào dậu kỹ để trồng rau muống, có cả những chiếc đìa để mươi ngày nửa tháng tát nước bắt cá: những con cá lóc (tràu), cá rô, cá thia tho, phát lát… to đùng là nguồn thực phẩm phong phú đa dạng!
    Đoạn này phải nói đến chuyện đi rớ tôm, rớ tép của người làng ta vì hói hà, ruộng sâu, ruộng cạn, ô bàu bao la thế thì tôm tép cũng hằng hà : đấy là nguồn sống của đa phần cư dân thôn Mậu: đêm hôm khuya khoắc với chiếc ghe đan nhỏ nhắn cùng ngọn đèn dầu leo lét với vài ba chục chiếc rớ bao tải, gói thêm miếng trầu, gói thuốc làm bạn đồng hành lặng lẻ thâu đêm kiếm sống qua ngày. Nghe mẹ tôi kể cũng trong những lần đi rớ vì màn đêm giá lạnh, tê buốt tâm can cùng cái tối đêm bơ vơ nên ghe phải va đụng những nò sáo, lùng lát làm mất thăng bằng, tròng trành chiếc ghe lật chìm trong làn nước lạnh lẻo: những cô chú tôm tép trở lại hói hà; hoàng hôn hôm sau phải tốn bảy vắt cơm cùng quả trứng vịt cộng thêm mấy cây nhang để gọi ba hồn bảy vía về ! Xin chia sẻ với bạn bè người đã khuất cùng những người thân đã có duyên bay xa xa đâu đó!
    Bên này là hang tre bên kia là nghĩa địa nơi lòng người lòng đất hiểu thông nhau, một dãi đất mấp mô mồ mả đan xen như người sống quần cư với nhau! Bởi vậy bây giờ đất chật người đông thì việc tống tang người quá cố có sự bất hợp lý rất rõ. Ngày xưa giữa nghĩa địa những ngôi mộ tổ của các họ tộc uy nghi cách biệt còn bây giờ thì mạnh ai nấy được!
    Đồng Mậu Tài có bay thẳng cánh
    Sông làng ta nước chảy vòng quanh…
    Trên chợ Nọ dưới tê chợ Sình…
    Câu hò đã gợi hình về sự bao bọc giới hạn của một làng quê có những nét đặc trưng: Hói, làng, nghĩa địa, lũy tre, đồng ruộng thứ tự đan xen. Quý cụ tổ ngày xưa đã có một con mắt địa lý: Những ngôi tự đường của họ tộc quay hướng chếch Đông Nam nhìn về núi Kim Phụng của dãy Trường Sơn xa xa. Có dịp xem nhà Bá Kiến trên mạng nói về tư liệu của nhà văn Nguyễn Công Hoan, quê tôi có nhiều ngôi nhà rường trạm trổ quý phái lắm cơ! Chắc mỗi miền đất nước có dáng vẻ, kiểu cách khác nhau nên không áp đặt lên nhau được nhỉ.
    Mấy ngôi cổ miếu cái còn, cái mất theo thời gian hưng phế nhưng vẫn còn đây nền gạch, chân móng của Miệu Vua.
    Các ngôi Tam Miếu, Am Bà, Am Đôi… đến Đình Làng được bê tông hóa trong hệ thống đền miếu đã khắc ghi một nét văn hóa làng. Tam Miếu thờ quý Ngài Khai canh, Ngài Thau Thiết tuyến nghệ, Ngài Khai khoa xứ Thuận Hóa. Am Bà của hội đua trãi, Am Đôi của những tiểu thương. Miếu Thần Nông của những nông dân, Chùa Làng nơi vừa thờ Phật vừa thờ Quan Công mặt đỏ râu dài và cả ngựa gỗ xích thố nửa đấy.
    …..
    Giờ thong thả với những bước đi từ cầu Lợi Nông về chợ làng ở Am Đôi đến Miệu Vua ở ven bờ hạ lưu sông Hương rồi ngước mắt nhìn làng xóm, tới cảnh ruộng đồng bao la: trong ký ức liên tưởng đến ngày xưa hằng mấy trăm năm là dấu chân quen thuộc của Tổ Tiên, Ông Bà bao đời trước đã in dấu đâu đây!

    Liked by 1 person

    Posted by TongMai | Tháng Mười 14, 2014, 10:50 chiều

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: