//
you're reading...
góp nhặt cát đá, Về Huế

Phật giáo trong vai trò xác lập hệ tư tưởng chính thống ở Đàng Trong

 

 

Nguồn: Trần Đình Hằng/NetCoDo

 

Phật giáo trong vai trò xác lập hệ tư tưởng chính thống ở Đàng Trong

1.Bối cảnh lịch sử

Đặt trong bối cảnh lịch sử chính trị xã hội Việt Nam từ giữa thế kỷ XVI đầy biến động, sự tồn tại của thế lực Nguyễn Hoàng thật quá cam go. Để thoát hiểm, hầu như ông chỉ còn lại phương cách duy nhất là thoát khỏi lòng chảo Bắc bộ để đi về phương Nam. Nhìn nhận vấn đề một cách sâu rộng hơn thì có lẽ trào lưu này lại trở thành đại biểu cho việc khơi nguồn giải quyết nạn nhân mãn ở châu thổ sông Hồng, qua việc thực hiện lời sấm truyền “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” của trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chính trị gia trí sỹ lỗi lạc đương thời này như muốn vận dụng bài học lịch sử từ thời Tam Quốc để “tam phân thiên hạ” nhằm giảm thiểu cảnh nhồi da xáo thịt và đặc biệt là giải pháp chiến lược giải quyết vấn đề “nhân mãn”. Vượt qua dãy Hoành Sơn, trong bối cảnh đó, là sinh lộ “độc đạo” cho việc ươm mầm một thế lực chính trị mới trên chính trường đương thời, khả dĩ không bị tiêu diệt(1). Tuy nhiên, sinh lộ đó lại được xác định trên một vùng “tử địa” bởi sơn lam chương khí cũng như dân tình biên viễn khó thu phục, nhất là dư đảng nhà Mạc. Không phải họ Trịnh không nhận ra ý đồ “đào thoát” nhưng có thể do quá tin tưởng vào chốn ác địa sẽ sớm đè bẹp thế lực cậu em vợ(2). Hơn nữa, Nguyễn Hoàng lại còn bị kềm toả bởi Quảng Nam của Bùi Tá Hán, rồi Nguyễn Bá Quýnh(3).


Chùa Từ đàm
Ảnh Internet

Nhìn nhận bối cảnh rộng lớn như vậy mới thấy được tầm vóc của chúa Tiên trong việc kiến thiết nền tảng dựng nghiệp buổi đầu. Mưu đồ cát cứ, với những bước đi chắc chắn, thậm chí là “khổ nhục kế”(4) nhưng không có con đường nào khác, chúa Tiên trong bước khởi nghiệp vẫn giương cao ngọn cờ “phù Lê diệt Trịnh” bởi không muốn mang tiếng “soán nghịch”, “vô đạo”. Mặc dầu xã hội Lê mạt đầy rối ren nhưng ngọn cờ trung quân truyền thống và tư tưởng Nho giáo vẫn chính danh. Vấn đề có tính chiến lược của họ Nguyễn, ngay từ buổi đầu, phải xác lập nền tảng tư tưởng thống nhất để cố kết xã hội, làm chất keo kết dính cộng đồng và định hướng tinh thần cho quốc gia lãnh thổ mà vẫn không vượt ra ngoài và cũng không rập khuôn máy móc những “khuôn vàng thước ngọc” trong định chuẩn xã hội Nho giáo đương thời từ miền Bắc. Phật giáo đã đãm đương được sứ mạng cao cả đó.

2.Phật giáo trong chiến lược nhân tâm của chúa Nguyễn

Ý thức độc lập khỏi Bắc hà đòi hỏi họ Nguyễn phải có những quyết sách cải tổ nhằm đảm bảo tính hợp pháp của chính thể mới một cách danh chính ngôn thuận, “chúa vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục…Nghiệp đế dựng lên, thực là xây nền từ đấy” (QSQ triều Nguyễn, 2002: 28). Từ chúa Tiên cho đến Võ Vương, đều thực hiện nhất quán chính sách đối với Phật giáo trong chiến lược nhân tâm ở Nam hà.

Nhà nước bảo trợ và xem Phật giáo như một hệ tư tưởng quy tụ sự ủng hộ về mặt tinh thần và đạo đức bởi đạo Phật là tôn giáo đậm chất men yên ủi, phủ dụ, là nơi bám víu, che chở cho tâm hồn Việt tha hương xa xứ, di cư trên vùng đất đầy lạ lẫm không chỉ bởi sự thách thức của môi trường sinh tồn mà còn là bản lĩnh để tiếp cận với những sắc thái văn hoá của các cộng đồng người bản địa. Có thể thấy rõ điều đó trong sử sách, sau các đợt “kinh dinh” về phía Nam của các chúa, đặc biệt là sự kiện chùa Thiên Mụ dưới thời chúa Tiên. Thực tế không thể phủ nhận là trong đó, nhiều ngôi chùa đã được xây dựng ở ngay chính trên nền chùa hoặc tháp cổ, như chùa Hoà Vinh trên núi Quy Sơn (4/1667), chùa Hoàng Giác ở Hiền Sỹ (2/1721) và điển hình là chùa Thiên Mụ (1601), chùa Sùng Hoá (1602) v.v…Gạt đi nhữn huyền tích thì hình ảnh BÀ TRỜI ÁO ĐỎ và việc giải trừ huyệt địa của Cao Biền để lấy lại long mạch trên đồi Hà Khê là sản phẩm độc đáo, mang tính chính trị siêu việt mà chúa Tiên đã kế thừa và góp phần sáng tạo, bồi bổ thêm để hội đủ yếu tố THIÊN THỜI-ĐỊA LỢI-NHÂN HOÀ trong việc khai sinh đại danh lam Thiên Mụ từ một cổ tự hoang phế, khơi nguồn cho ý thức hệ Nam triều.Điều đó lại càng có ý nghĩa khi sử sách cho biết chúa Tiên vốn là người rất không ưa gì đạo Phật Khi còn ở Thanh Hoá, trong một lần giả ốm mệt dạo chơi, Nguyễn Hoàng bị một thầy chùa làm nhục và sự việc này đã ảnh hưởng sâu đậm trong tính cách của ông, đến nổi về sau “ôm giận nhà chùa, hễ khi có việc chay đàn sám nguyện cầu phúc, thường chỉ chuộng dùng đạo sĩ (đạo Tiên), không dùng tăng Thích” (Nguyễn Khoa Chiêm, 1994: 38).

Chùa Linh mụ
Ảnh Internet

Xuất phát từ nhu cầu tư tưởng mang tính chiến lược mà có sự thay đổi bước ngoặt trong nhận thức của chàng trai-Đoan Quận công Nguyễn Hoàng và trong cả một triều đại họ Nguyễn về sau. Trãi các đời, nhà chúa và quần thần quy y, mở nhiều đại giới trai đàn…là hiện tượng phổ biến. Đương thời, nhà sư Trung Hoa Thích Đại Sán thấy trong cung “nhiều nơi có bài trí tượng Phật, phướn tán chuông mõ, chẳng khác cảnh chùa” (Thích Đại Sán, 1963: 33)(5). Trong bức thư gửi sang Thiên triều nhà Thanh hồi tháng 5/Nhâm Ngọ (1702), Minh Vương cũng bày tỏ: “…cha ông thần tin Phật, đời đời tu hành” (Lê Quý Đôn, 1977: 281). Tinh thần ấy được chúa Nguyễn Phúc Chu đúc kết, rằng xứ Đàng Trong “tôn sùng đạo Nho mà kính trọng đạo Phật, lẽ đương nhiên con đường chính trị ắt phải lấy lòng nhân nghĩa mà cưu mang sự nghiệp. Tín mộ đạo pháp, thờ trọng chân sư nên phải gieo trồng phước đức và dạy cho dân gieo trồng phước đức bằng đạo lý nhân quả. Nhờ vậy đất nước thái bình, thân tâm an lạc” (Ngự chế Thiên Mụ tự, Giới Hương, 1994: 12-13).

Trên vùng đất đứng chân, trên cơ sở tiếp nhận, kế thừa di sản, họ Nguyễn đã tiếp cận và cải biến thực tại khách quan để thu hút, phục vụ chiên lược phát triển của chính thể mới. Từ thế kỷ XVI, vùng Thuận Hoá có nhiều chùa cổ và những trung tâm tôn giáo tín ngưỡng này đã có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội, như Thiên Mụ, Kính Thiên, Đại Phúc, chùa Hoá, Linh Sơn, Kim Quang v.v…; đặc biệt, chùa Sùng Hoá (Lại Ân, Phú Vang) còn được cả chính quyền quan tâm: “Hằng năm, đến tuần tiết tạp nghi thì Tam y với quan chức các nha môn, vệ sở, đều đến hội họp đông đủ…, vả lại mỗi lần cầu đảo đều có ứng nghiệm, là ngôi chùa có tiếng ở Hoá Châu” (Vô danh thị, 1961: 69).

Buổi đầu, đây chính là cơ sở tiên phát giúp chính quyền Đàng Trong quan tâm đầu tư sửa chữa hoặc xây dựng mới ở ngay trên nền của các ngôi cổ tự này; về sau mới có điều kiện để phát triển chùa chiền một cách rộng khắp.

Bằng nhiều chính sách khuyến mộ Phật pháp, trọng đãi sư tăng, họ Nguyễn đã tích cực chú trọng phát triển Phật giáo, trước hết là ở ngay tại địa bàn vùng Huế, để “…mong xây dựng một xã hội mà mọi người ai ai cũng được sống thì an lạc và tràn trề hạnh phúc” nhờ “thiên hạ sớm biết mà bỏ dần tư tưởng cục bộ sai lầm, thiếu tinh thần xây dựng đời sống chung”. Bản văn bia tổ sư Nguyên Thiều tại chùa Quốc Ân (sao dựng năm 1730) cũng đã đúc kết, khẳng định: “Nhìn lại quá trình của nước ta từ khi khai quốc dựng nước đến nay, trên từ vua chúa, quan quân cho đến thứ dân, đâu đâu cũng có dựng chùa lập am, cung đón và đào tạo tăng tài, cúng dường Phật tổ” (Giới Hương, 1994: 42, 44). Trong xã hội Đàng Trong, hầu hết dân chúng là những Phật tử sùng đạo, kính trọng và quan tâm sâu sắc đến tầng lớp tư tăng, làm cho họ “chẳng lo ngheo nàn, vì được khách hành hương giàu tín ngưỡng chăm lo một cách hào phóng” (Jean Koffler: 30).

Việc trùng tu xây dựng chùa chiền được nhà nước chú trọng. Xét trên biểu đồ các sự kiện có liên quan đến Phật giáo thì có lẽ Nguyễn Khoa Chiêm có lý khi nhận định về thái độ của chúa Tiên trước đây đối với tôn giáo này bởi trước niên biểu Tân Sửu (1601), chúng ta khó có thể tìm được một sử liệu có nội dung tương tự. Sau bước ngoặt lớn trong nhận thức chính trị của chúa Tiên, mở đầu cho một tư tưởng mới thì hàng loạt chùa chiền được sửa sang, xây dựng và có những công trình được nhà nước đầu tư lớn, tiến hành quy mô trong một thời gian dài: năm Nhâm Dần (1602), sửa chùa Sùng Hoá, năm 1666, sửa chùa Hoà Vinh; năm 1688, sửa chùa Thuận An (Lê Quý Đôn, 1977: 60, 64; QSQ triều Nguyễn, 1962: 43 v.v…); đặc biệt chùa Thiên Mụ đã có nhiều đợt trùng tu lớn như đơt I vào năm 1665, riêng đợt trùng tu năm 1714 đã phải làm trong một năm(6).
Hệ thống chùa chiền, nhờ đó, ngày càng thêm dày đặc, phong phú. Năm 1750, Pierre Poivre ghi nhận rằng chỉ riêng tại Huế và vùng phụ cận đã có gần 400 ngôi chùa miếu thờ Phật (dẫn theo Li Tina,1998: 115). Do vậy mà đội ngũ tăng ni trở nên đông đảo, đến nổi “nên án tăng đồ bán đạo lộ” (sư sãi chiếm hơn một nữa người đi đường) và đó là một thực tế mà sau này nhà Tây Sơn phải chấn chỉnh bằng các sắc lệnh cấp lập chùa chiền, mỗi phủ chỉ được có một ngôi chùa, thực hiện sát hạch tăng đồ gắt gao v.v…

Không chỉ ưu đãi Phật giáo trong nước mà nhà chúa còn nhiều lần thỉnh mời cao tăng, pháp khí từ Trung Hoa. Ngãi Vương hai lần thỉn mời nhưng chưa đạt được nước nguyện, trong đó từng có một chuyến đi của sư Nguyên Thiều. Thời Minh Vương có đoàn của Thạch Liêm Hoà thượng cùng hơn 50 tăng sĩ sang Thuận Hoá. Năm Giáp Ngọ (1714), Minh Vương còn sai người sang phủ Chiết Giang mua kinh Địa tạng cùng Luật và Luận hơn nghìn bộ, thỉnh về chùa Thiên Mụ (Lê Quý Đôn, 1977: 65; Ngô Cao Lãng, 1975: 215)…Đương thời, hiện tượng này không hẳn là biểu hiện của Phật Giáo Đàng Trong còn nhiều khoảng trống mà có thể nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế về tư tưởng. Hơn nữa, vị thế “thiên triều” của Trung Hoa vẫn rất đậm nét, không chỉ ở Nho giáo mà còn ở cả Phật giáo. Một ảnh hưởng ngoại lực, trong chừng mực nào đó, ở một hoàn cảnh cụ thể, có thể đủ sức bình ổn hoặc định hướng được một tình trạng thiếu đỉnh cao của Phật giáo trong nước. Chính nhà sư rất cực đoan như Thích Đại Sán mà cũng rất đỗi tự hào về Phật giáo Đàng Trong, thể hiện rõ ở đôi câu đối trước cửa:

An nam quốc thổ bất nhị môn, mạc thác quá khứ

Thuận Hoá thiền lâm đệ nhất bộ, hướng giá quý lai

(An nam đất nước chẳng hạ lòng, chớ lầm bỏ sót.

Thuận Hoá rừng thiền có một bước, xin cứ tiến vào).

(Thích Đại Sán, 1963)

Đặc biệt là đương thời, nhà sư cũng như hoàng thân quốc thích nhiều người tu hành, thọ giới trai đàn. Nguyễn Hoàng được gọi là chúa Tiên, kế đó là Sãi Vương (1648-1687) gắn liền với sư Nguyên Thiều, xây dựng chùa Vĩnh Hoà trên núi Quy Cảnh (1667) va mỡ đại giới trai đàn 7 ngày đêm. Ngãi vương từng mời sư Nguyên Thiều về cố quốc thỉnh cao tăng, pháp khí. Còn Minh vương (1691-1725) đã thọ Bồ Tát giới, đạo hiệu là Hưng Long hay Thiên Túng đạo nhân, là đệ từ truyền thừa thế hệ 30 phái Tào Động, từng mở nhiều đại giới đàn, như năm 1695 ở chùa Thiên Mụ. Tương tự, Ninh vương (1725-1738) có đại hiệu là Vân Tuỳên đạo nhân, chính là người ban tên thuỵ là Hạnh đoan Thiền sư và ban bài minh trên tháp tổ Nguyên Thiều (1729). Võ vương Nguyễn Phúc Khoát cũng có đạo hiệu là Từ Tế đạo nhân.

Phật giáo Đàng Trong còn có sự tích hợp, tiếp nối và bổ sung nhau giữa các thiền phái Trúc Lâm, Lam Tế, Tào Động và Liễu Quán, bao gồm cả các nhà sư từ Trung Hoa sang như Nguyên Thiều, Minh Hoằng, Giác Phong…(Tào Động) và một số tiền sư khác như Từ Lâm, Tế Viên..Ở đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy vai trò điều tiết của nhà nước phong kiến, thể hiện chính sách tôn giáo mềm dẻo nhưng rất cương quyết.

Trong buổi đầu, phái thiền Trúc Lâm được phục hưng với sự đóng góp của các thiền sư Viên Cảnh, Viên Khoan, đặc biệt là sư Minh Châu-Hương Hải (Tổ Cầu); tuy nhiên, sự kiện sư Tổ Cầu cùng 50 đệ tử bỏ ra Đàng Ngoài năm 1682 đã dẫn đến tình trạng khủng hoảng tăng chúng sâu sắc(7). Bối cảnh đó đưa đến sự lên ngôi của phái Thiền Lâm Tế bằng việc chúa Nguyễn thỉnh mời thiền sư Nguyên Thiều(8) từ chùa Thập Tháp (Quy Nhơn) ra Thuận Hoá, lập chùa Hà Trung (khoảng năm 1683) và sau đó khai sơn chùa Vĩnh Ân (sau thành Quốc Ân). Đây là hai cổ tự nổi tiếng, còn lưu nhiều dấu tích, đặc biệt là bức tượng Phật Quán Thế Âm bằng đá (Hà Trung) và Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh (Quốc Ân). Tượng Phật Quán Thế Âm(9), tương truyền do thiền sư Nguyễn Thiều thỉnh từ Trung Hoa sang, trên đường đến dinh phủ Phú Xuân, qua đoạn này, thuyền gặp nước cạn không đi được, cho rằng Ngài muốn toạ lạc tại đây và chùa Hà Trung ra đời từ đó(10).

Theo kết quả một công trình khảo cứu còn nhiều ý kiến tranh cãi(11) thì sau khi tổ sư Nguyên Thiều viên tịch ở chùa Kim Cang (Đồng Nai-1728), tăng ni Phật tử Thụân Hoá lập tháp thờ vọng, Ninh vương (1725-1738) ban cho bài minh. Năm Kỷ Tỵ (có thể 1749), đồ chúng xây tháp Hoá Môn thờ tổ sư Nguyên Thiều trên đất làng Dương Xuân Thượng (cạnh chùa Trúc Lâm hiện nay), trước tháp dựng bia khắc bài ký minh (nay chữ đã mờ)(12).

Tuy nhiên, chức chắn là sau đó đã xãy ra nhiều sự biến(13) nên mới dẫn đên chuyện chúa Nguyễn đã cử hai nhà sư kèm thư giới thiệu của sư Quả Hoằng (trú trì chùa Tam Thai-Quảng Nam) sang Trung Hoa thỉnh mời Thạch Liêm Hoà thượng (thuộc phái Tào Động) sang hoằng dương Phật pháp, thay thế cho phái thiền Lâm Tế. Mặc dù vậy, phái Tào Động vẫn không tạo được những ảnh hưởng lớn và phái thiền Lâm Tế vẫn giữ vị thế độc tôn. Sau này, thiền sư Liễu Quán (1667-1742) đã tu luyện, dung hợp hai phái Lâm Tế và Tào Động để khai sinh ra phái thiền Liễu Quán.

3.Kết luận

Phật giáo là chất keo kết dính cộng đồng Đàng Trong. Chúa Tiên từng trăn trối với Nguyễn Phúc Nguyên rằng: “Đạo làm tôi phải trung, làm trai phải hiếu, tình anh em bè bạn lấy tin yêu làm đầu, không được quay ngoắt tráo trở để mât nhân tâm” (Nguyễn Khoa Chiêm, 1994: 93). Chiến lược nhân tâm đã trở thành vấn đề mấu chốt cho việc dựng nghiệp ở Nam hà, là chìa khóa thành công: “Yên chổ ở cho dân, theo phong tục của người dân, mở mối lợi, trừ mối hại, đó là việc đầu tiên trong việc vỗ trị xứ Thuận Quảng vậy” (Lê Quý Đôn, 1977: 126). Trên vùng “tử địa”, chiến lược nhân tâm của họ Nguyễn đã rất thành công, xây dựng Đàng Trong thành một quốc gia hùng mạnh, giải thích cho “điều đáng kinh ngạc là họ Nguyễn đã thành công trong việc thiết lập một quốc gia thống nhất trong nhiều thế kỷ tại một lãnh thổ ít kết cấu chặt chẽ nhất thế giới” (Li Tana, 1998: 01; Pierre Gourou, 2003: 8).

Rõ ràng là trong lịch sư Việt Nam, có hai thời kỳ Phật giáo thịnh trị, được nhà nước phong kiến xiển dương, xác lập hệ tư tưởng chính thống: xã hội thời Lý-Trần và ít nhiều chúng ta cũng nhận thấy sự tái lập ở xứ Đàng Trong thời chúa Nguyễn. Tuy nhiên, nếu đi sâu tìm hiểu, có thể nhận thấy rằng dù trên đại thể biểu hiện có nhiêu nét tương đồng nhưng ở đây, lại hoàn toàn khác biệt nếu xét về tính chất/bản chất: (1).Phật giáo là quốc giáo thực sự dưới thời Lý-Trần, trong vai trò là hệ tư tưởng mang tính CHIẾN LƯỢC và (2) Thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Phật giáo được xiển dương như là một SÁCH LỰƠC: sự thay thế tạm thời để đảm đương xứ mạng xác lập hệ tư tưởng chính thống và bình ổn, thu phục nhân tâm một khi chưa/không thể dương cao ngọn cờ Nho giáo, tránh bị coi là PHẢN/NGHỊCH THẦN theo quan điểm trung quân truyền thống phong kiến, bởi mục đích sau cùng, vẫn là xây dựng một chính thể phong kiến lấy Nho giáo làm khuôn phép. Đặt vấn đề như vậy để thấy được tài năng và bản lĩnh của các chúa Nguyễn, đặc biệt là Tiên chúa và Sãi vương; cũng như sự thịnh trị và ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo trong văn hoá Đàng Trong trong vai trò xác lập một hệ tư tưởng chính thống mà đối tượng khảo sát của chúng ta chinh là một số dấu tích hiếm hoi còn sót lại đến nay.
Cho dù tình hình Bắc hà rối ren, họ Trịnh chuyên quyền lấn át nhưng danh chính ngôn thuận, ngọn cờ phong kiến phò Lê vẫn là chính thống. Do vậy, mọi biểu hiện khác nó đều là phản nghịch và đương nhiên, khó có thể thu phục nhân tâm.

Trong việc kiến thiết vùng đất mới, nhu cầu tư tưởng là vấn đề có tính chất chiến lược và họ Nguyễn đã chọn Phật giáo, bởi: (1) Khác với Bắc hà nhưng vẫn không làm “mếch lòng” Bắc hà cũng như dư luận xã hội đương thời; (2) Phù hợp với nhân tình tha hương trên vùng đất mới Đàng Trong. Từ trục tư tưởng định hướng đó, có thể thấy được các sắc thái biểu hiện: tái thiết cổ tự, xây dựng chùa chiền, tự viện (các chùa Sắc tứ), cung thỉnh danh tăng và pháp khí từ Trung Hoa, đặc biệt là nhà chúa thường xuyên mở các đại giới đàn, tu hành, có pháp danh, đạo hiệu(14)v.v…

Tất cả, nhằm mục đích sau cùng, họ Nguyễn vẫn muốn xác lập một chính thể phong kiến: nhà nước trung ương tập quyền-thì đương nhiên, Nho giáo không thể thiếu. Biểu hiện rõ nét vào thời kỳ sau, đồng thời với việc tiếp tục xiển dương Phật giáo, họ Nguyễn chuyển dần từ một thể chế đậm tính chất quân sự(15) sang dân sự. Cải cách hành chính được thực hiện theo hướng dân sự hoá: Đổi từ Dinh sang Phủ (1626); đổi Chính Dinh thành Đô Thành, hình thành Lục bộ (1744); sử dụng ấn triện từ Tổng Trấn Tướng Quân Chi Ấn (chức Tiết Chế Thuỷ Bộ&Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự) đến Minh vương Nguyễn Phúc Chu xưng Quốc Chúa, Võ vương xưng Đại Việt Quốc Vương dùng Đại Việt Quốc Vương Chi Ấn. Đặc biệt là dưới thời Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu, sai Nguyễn Quang Tiền soạn biểu tiến cống và giao cho giám sinh Hoàng Thần, tăng đồ Hưng Triệt sang nhà Thanh cầu phong. Họ Nguyễn cũng xây đàn và tổ chức tế Nam Giao. Đồng thời, xây dựng Văn miếu và khuyếch trương thi cử Nho học(16).

Sang nhà Thanh cầu phong, xây dựng và tổ chức tế đàn Nam Giao, xây dựng Văn Miếu và phát triển khoa cử Nho học v.v…, rõ ràng, chính thể họ Nguyễn đến đây thực sự là một triều đình Nho giáo, nhưng Phật giáo vẫn tiếp tục được xiển dương cho đến thời Nguyễn sau này.

Từ đó, ảnh hưởng của Phật giáo trong văn hoá Việt Nam rất đậm nét mà hiện nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách thấu đáo, có hệ thống bởi vô vàn những khoảng trống tư liệu, ngoại trừ một số dấu tích minh văn va hiện vật hiếm hoi còn lại. Tuy nhiên, sự thay thế nhau giữa các triều đại phong kiến Việt Nam, suy cho cùng, tính chất đấu tranh giai cấp và dòng tộc vẫn rất đậm nét nên cùng với thời gian, khí hậu khắc nghiệt, tình trạng “đấu tố” cả trên những di tích, di vật có liên quan đến các dòng tộc “tiền triều” là tấn thảm kịch đối với văn hoá dân tộc. Cho nên, các dấu tích văn hoá thời chúa Nguyễn, đặc biệt là di sản nghệ thuật tạo hình còn lại đến tận ngày nay, hoặc(1) ở nơi xa xôi, hoang vắng mà các cuộc “thanh trừng” không kiểm soát được hay “được” thoả hiệp, hoặc(2) là có liên quan đến Phật giáo. Từ đó, chúng ta cần phải có thái độ trân trọng di sản văn hoá hiếm hoimang dấu ấn Văn hoá Phật giáo-Văn hoá Đàng Trong, như là những “quốc bảo” bởi nguy cơ tàn lụi, hoang phế là rất lớn.

 Chú thích:

1.Thiên tai, địch hoạ, mất mùa đói kém cùng nạn cường hào nhũng nhiễu ở miền Bắc càng làm tăng cường độ di cư và “chẳng có con đường nào về phía Tây và thật quá khó khăn, không thể đi về phương Bắc. Vì vậy chúng ta nên cố hết sức mình để tiến về phía Nam” (Nguyễn Cư Trinh, Sãi Vãi).

2.Bản sớ của Trịnh Kiểm gửi vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá nhấn mạnh: “Thuận Hoá là nơi quan trọng, quân và của do đấy mà ra, buổi sơ quốc nhờ đấy mà nên nghiệp lớn. Nay lòng dân hãy còn tráo trở, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, ví không được tướng tài trấn thủ vỗ yên thì không thể xong. Đoan Quận Công là con nhà tướng, có tài trí mưu lược , có thể sai đi trấn ở đấy, để cùng với tướng trấn thủ Quảng Nam cùng nhau giúp sức thì mới đỡ lo đến miền Nam”. Vua nghe theo và trao cho chúa trấn tiết, phàm mọi việc đều uỷ thác cả, chỉ mỗi năm nạp thuế mà thôi (QSQ triều Nguyễn, 2002: 29)

3.Tháng 3/Mậu Thìn (1568), Trấn Quận công Bùi Tá Hán mất, vua Lê lấy Nguyên Quận công Nguyễn Bá Quýnh làm Tổng binh, thay giữ đất ấy. Tháng 9/Kỷ Tỵ (1569), chúa Tiên đi Thanh Hoá yết kiến vua Lê ở hành cung Khoa Trường; đến tháng 01/Canh Ngọ(1570) mới về, cho dời dinh sang Trà Bát. Sau đó, vua Lê triệu tổng binh Nguyễn Bá Quýnh về trấn thủ Nghệ An, chúa Tiên kiêm quản Thuận Quảng (QSQ triều Nguyễn, 2002: 29-29).

4.Tháng 5/Nhâm Thìn (1592), chúa Tiên mang binh quyền ra Đông đô yết kiến, vua Lê yên ủi: “Ông làm trấn thủ hai xứ, dân nhờ được yên, công ấy rất lớn”, phong Trung quân đô đốc phủ tả đô đốc chưởng phủ sự Thái uý Đoan Quốc công. Sau 8 năm đánh đông dẹp bắc (Cao Bằng, Lạng Sơn, Hải Dương…) “phò Lê”, tháng 5/Canh Tý (1600), chúa Tiên mới trở về nam nhân sự kiện các tướng nhà Lê là Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga làm phản ở cửa biển Đại An (thuộc Nam Định). Cho dời dinh phủ sang Dinh Cát. Đến tháng 10, mới gã công chúa Ngọc Tú cho Trịnh Tráng (con cả của Trịnh Tùng) và “từ đấy, chúa không ra Đông đô nữa” (QSQ triều Nguyễn, 2002: 33-35).

Thậm chí lúc còn ở Đông đô, chúa Tiên vẫn dõi theo suốt hành trình Nam tiến, nhất là trong việc khai hoang vỡ đất. Lệnh truyền của Tổng trấn Thuận Quảng năm 1597 cho Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh nói rõ rằng: “…Hãy liệu đem số dân xã Bà Thê đã trục vào hạng dân và các thôn phường khách hộ theo hầu công việc, lấy riêng số dân khách hộ đến các xứ Cù Mông, Bà Đài, Bà Diễn, Bà Niễu, trên từ nguồn mọi, dưới đến cửa biển, kết lập gia cư địa phận, khai khẩn ruộng đất hoang cho tới khi thành thục sẽ nộp thuế như lệ thường…” (Trần Viết Ngạc, 1999: 306).

5.Trong số 26 “Danh lam xứ Huế” (Nguyễn Hữu Thông, 1994a) thì có tới 15 ngôi chùa được xây dựng thời chúa Nguyễn, 08 ngôi có niên đại thế kỷ XIX và 05 ngôi đầu thế kỷ XX.

6.Tháng 4/Canh Dần (1710), đúc chuông chùa Thiên Mụ, nặng 3.285 cân, chúa thân làm bài minh khắc vầo chuông. Tháng 6/Giáp Ngọ (1714), trùng tu chùa Thiên Mụ. Chúa thân chế bài văn bia để ghi (QSQ triều Nguyễn, 2002: 125,130). Minh văn hồng chung như sau: “Quốc chúa Đại Việt Nguyễn Phước Chu nối dòng Tào Động chánh tông, đời thứ 30, pháp danh Hưng Long, đúc Đại hồng chung, cân nặng 3285 cân, tôn trí ở chùa Thiên Mụ để cung phụng tam bảo, chú nguyện mưa thuận gió hoà,quốc thái dân an, chúng danh trong pháp giới đều thành đại viên chúng trí. Năm Vĩnh Thạnh thứ 6, ngày Phật đản tháng 4 năm Canh Dần” (Giới Hương, 1994).

7.Có ý kiến cho rằng tướng Gia Quận công của họ Trịnh là tù binh của Hiền Vương nhưng được cho vào dạy học ở phủ chúa. Sự đi lại thường xuyên và tiêp xúc với thiền sư Minh Châu đã lam nảy sinh dư luận rằng, cả hai người có âm mưu trốn ra Đàng Ngoài. Hiền Vương bắt giữ để điều tra nhưng không có bằng chứng xác thực, đành phải thả ra và không cho thiền sư được ở Thiền Tịnh viện trên núi Quy Cảnh (Quy Sơn) nữa mà phải vào Quảng Nam. Sự cố này đã dẫn đến chuyện ra đi đột ngột đó (Nguyễn Hiền Đức, 1995, I: 53).

8.Tổ sư Nguyên Thiều (18/5/Mậu Tý [1728], huý Siêu Bạch, hiệu Hoán Bích hay Hoà thượng Thọ Tông, họ Tạ, người huyện Trình Hưng, phủ Triều Châu-Quảng Đông-Trung Quốc, thuộc thế hệ thứ 33 phái thiền Lâm Tế. Năm 1677, thiền sư theo thuyền đến phủ Quy Ninh (Quy Nhơn), lập chùa Thập Tháp-Di Đà (Nguyễn Hiền Đức, 1995, I: 126).

9.Tượng đá, cao 2m43, gồm hai phần: thân tượng (1m39) và bệ tượng. Bệ tượng lại được cấu thành từ bốn tầng chồng ghép lên nhau: đế tượng, đài sen và xen kẽ ở giữa là hai trụ lục giác, được chạm khắc theo mảng ô hộc.

10.Đương thời, chùa Hà Trung được mô tả:

“…Gần đứng bóng, đến chùa Hà Trung. Man mác xa trông, đây là cảnh eo của biển cả, ba đào chẳng gợn, phẳng lặng như tờ (…). Chùa cất trên một đám đất bằng, nước bao quanh ba mặt, ngoài cổng chừng trăm thước là nơi bùn lầy, đắp đất làm đê, trên bờ đê trồng dương liễu thẳng tắp, gió hiu hiu thổi cành liễu phất phơ…Chợt thấy một cây tùng xanh rợp bóng, một cổ thụ đã mấy trăm năm. Xuyên bóng tùng đi vào, chùa không có vòng tường ngoài. Một ao vuông trước chùa, nước ao lên xuống theo mực nước thuỷ triều ngoài sông. Quanh chùa có các bồn hoa bụi cúc, luống rau giàn bầu, rãi rác ở các nơi đất trống dưới gốc các cây tùng. Sau chùa có mấy cây tùng lớn mấy người ôm, ngọn keo cành cỗi, rậm rạm li kỳ, thực là những cây cổ thụ hàng ngàn năm. Trên đọt tùng sầm uất, lá xoắn thành từng nắm tròn (…). Đoái nhìn chùa son ngọc điện, lấp lánh trong bờ biển rừng tùng, nước mây man mác, chập chùng bóng dương, phưởng phất chốn bồng lai lan uyển…” (thích Đại Sán, 1963).
Nhân đó, Thạch Liêm Hoà thượng có ba bài thơ vịnh chùa:

1.Che khuất ngàn dương nẻo cửa không

Chuông vàng buông tiếng gió bên sông

Giậu tre lối nhỏ xông hơi biếc

2.Sắc nước màu non lợt vẻ thu

Xanh xanh mấy đỉnh đối Nam hồ

Gạo vàng đất Bụt lăn tăn nở

Gành đá lầu mây ngã bóng hồng

Cá đỏ chờ mồi lên mặt nước

Chim xanh huýt gió xuống giàn bông

Miếu đền vua chúa nơi u tịch

Muôn thuở linh quang chiếu biển đông.

3.Gà ai xao xác gáy bên thôn

Một góc chùa mây dựng giữa cồn

Cỏ xanh buồn lòng người lữ khách

Mây trắng êm giấc sãi thiền môn

Mây biếc non bồng lớp lớp phô

Trúc múa ngàn mây sương nặng trĩu

Tùng reo bốn mặt sóng vang ù

Tìm đâu bạn cũ chùa xưa nhỉ

Trăng sáng bên cầu tương hội nhau.

Xa dòng núi biếc, dòng nước chảy

Lặng tiếng chim kêu tiếng mõ dồn

Dưới gốc tùng xanh lòng thanh thản

Buôn thuyền ngâm vịnh buổi hoàng hôn

(Thích Đại Sán, 1963)

11.Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn thì những thông tin này thiếu sức thuyết phục bởi thiếu sử liệu mà theo ông, mộ tháp “vọng” chính là ở Đồng Nai, còn Huế mới là mộ pháp chính (Ý kiến trao đổi ngày 26/11/2004)
12.Mặt trước tháp có tấm bia đá nhỏ khắc hàng chữ Hán: SẮC TỨ QUỐC ÂN ĐƯỜNG THƯỢNG, LÂM TẾ PHỔ, HUÝ NGUYÊN THIỀU THỌ TÔNG, THUỴ HẠNH ĐOAN LÃO HOÀ THƯỢNG CHI THÁP

Nội dung bài Ký Minh như sau:

“Quốc Vương Đại Việt viết bài ký, bài minh trên tháp của thiền sư Hoán Bích ở chùa Sắc tứ Hà Trung.

Trẫm may mắn nhận được thiên mệnh trị vì trăm họ. Cứ mỗi sáng thức dậy, lòng đau đáu không quên đạo làm thiện. Xét thấy, từ khi nước Đại Việt được lập quốc đến nay, phàm mọi việc xây chùa dựng am, thỉnh Tăng, cúng Phật, rộng thực thi các phương tiện…mục đích là nhằm làm cho bàn dân thiên hạ được ấm no, hưng thịnh. Bởi thế, trẫm hằng tự dứt trừ niệm lự, ngõ hầu yên ổn được việc sanh tử, dần dần tiếp gần đến cảnh giới Hoá thành.

Nay có thiền sư Hoán Bích, chấn tích tại phủ Quy Ninh (Quy Nhơn) vao năm Ất Tỵ(12), sáng lập chùa Thập Tháp-Di Đà, rộng mở Tượng Giáo, trở lại núi Phú Xuân, thuộc xứ Thuận Hoá, xây dựng chùa Quốc Ân và tháp Phổ Đồng.

Tham khảo việc làm của các bậc tiên đế, ta được biết Tiên Thánh thười đó đã thỉnh Thiền sư trở về Quảng Đông mời lão Hoà thượng Thạch Liêm ơ chùa Trường Thọ, cùg cung nghinh tượng Phật và tháp khí mang về nước, hoàn thành nhiều công đức lớn lao. Từđó, Thiền sư vâng Thánh chỉ trú trì chùa Hà Trung, hồi quang tự chiếu, giảng giải diệu lý, bàn luận huyền vi, tham khảo những điển tích có từ trước, diệt bỏ những sự sai lầm và tiếp nối những điều chân chính, mở bày cho hàng hậu học và tứ chứng thọ lãnh đầy đủ giới pháp.

Thiền sư Hoán Bích gốc người ơ huyện Trình Hương, phủ Triều Châu, Quảng Đông (Trung Quốc), con nhà họ Tạ, sanh vào giờ Tuất ngày 18/5/Mậu Tý (1648). Năm 19 tuổi, Thiền sư cắt ái từ thân, xuất gia học đạo với thiền sư Khoáng Viên ở chùa Báo Tư, được ban pháp danh là Nguyên Thiều. Thiền sư vượt biển sang nước ta đến nay đã hơn 50 năm rồi.

Ngày 19/10/Mậu Thân (1728), Thiền sư lâm bệnh, cho triệu tập môn đò tứ chứng, giảng dạy huyền cơ, di chúc mật ngữ. Trước lúc lâm chung, Thiền sư chấp bút viết kệ rằng:

Lẳng lặng gương không ảnh

Sáng sáng ngọc không hình

Rõ ràng vật không vật

Vắng lặng không vật không

Viết xong, Thiền sư ngồi ngay thẳng mà tịch, thọ 81 tuổi.

Môn đồ và các quan chức đệ tử của Thiền sư ơ “cửa hoá” (?) xây dựng tháp và quì thỉnh (Trẫm) viết bài ký và bài minh.

Trẫm ban thuỵ hiệu là Thiền Sư Hạnh Đoan. Ước muốn của trẫm cốt cho mọi người đều ngưỡng mộ điều thiện, thành tựu quả vị Như Lai vô thượng và cùng hưởng nguồn sống thiền thanh bình không cùng tận. Chính vì vậy, Trẫm ghi bài ký và viết bài minh.

Bài Minh như sau:

Trí huệ siêu việt,

Phạm hạnh sừng sững

Trăng nước thung dung,

Giới luật nghiêm mật.

Thân riêng lặng lẽ,

Trong lặng kiên cường,

Quán thân vốn không,

Hoằng pháp lợi vật,

Mây từ che lấp,

Trời huệ phổ chiếu,

Nhìn ngài kính ngưỡng

Thái Sơn cao ngất!

Ngày mồng 8/4/Bảo Thái thứ 10 ban (Sắc Tứ)-Phụng lập.

(Bản dịch của Đại đức Nhật Từ và Hiền Đức, trong Nguyễn Hiền Đức, 1995,I: 99-100).

13.Có ý kiến cho rằng bi kịch cũng lặp lại bởi lý do chính trị nhạy cảm, sư Nguyên Thiều bỏ trốn vào Đồng Nai năm 1694 do sợ liên luỵ với các cuộc chính biến Sư Nguyên Thiều trú trì chùa Vĩnh Ân, nhưng sau vụ khởi loạn của người Hoa năm 1692, lại chuyển về chùa Hà Trung. Tiếp đến cuộc gây biến năm 1693-1694 tại Quảng Ngãi-Qui Nhơn, sợ bị liên luỵ nên sư đã trốn vào Đồng Nai (Nguyễn Hiền Đức, 1995, I: 29, 211). Tuy nhiên, ở đây, lập luận của tác giả vẫn không thuyết phục do không cung cấp những nguồn sư liệu trích dẫn đầy đủ.

14.Sử sách vẫn gọi vị chúa đầu tiên là Chúa Tiên. Sãi vương (1648-1687) mời sư Nguyễn Thiều đến (1677, 1683); xây dựng chùa Vĩnh Hoà trên núi Quy Cảnh (1667), mở đại giới đàn 7 ngày. Thời Ngãi vương (1687-1691), sư Nguyên Thiều về Trung Hoa thỉnh sư tăng, pháp khí. Minh vương (1691-1725) thọ Bồ tát giới, đạo hiệu là Cư sĩ Hưng Long, hay Thiên Túng đạo nhân (dời 30 phái Tào Động), mở Đại giới đàn Thiên Mụ 1695. Tương tự là Ninh vương (1725-1738): Vân Tuyền đạo nhân; là người ban thuỵ Hạnh Đoan thiền sư và bài binh trên tháp Nguyên Thiều (1729). Võ vương (1738-1765)-Từ Tế đạo nhân v.v…

15.Li Tina nhận xét rằng “Chế độ Đàng Trong được thiết lập như một chế độ quân sự” và người ta không tìm thấy số liệu nào về dân số hoặc thông tin về làng xã tại Thuận Hoá nhưng chúng ta có thể biết được số liệu chi tiết của từng đơn vị quân sự (Li Tina, 1999). Thông thường rộng mở, sâu xa và cụ thể, cũng xuất phát từ mục đích quân sự: trường hợp cha con Jao da Crus. cho nên có ý kiến cho rằng nguyên nhân sâu xa làm họ Nguyễn suy sụp là do các chúa bóp vắt người dân quá chặt để duy trì lực lượng quân đội (Phạm Nguyễn Du, Nam hà kỷ đắc, mục Dụng nhân luận, Bình tài luận).

16.Các chúa “thấy việc dùng binh là cấp thiết nhưng Nho học là điều không thể thiếu” (Lê Đản, Nam hà tiệp lục). Văn Miếu được xây dựng ơ Triều Sơn, thời Minh Vương; đến 1770 mới dời đến Long Hồ do ẩm thấp. Theo Lê Quý Đôn thì thi cử Đàng Trong được tổ chức theo hai bậc: Quận thí mùa xuân ( 5 năm, lấy Nhiêu học) và Hội thi mùa thu (9 năm, lấy Hương cống, Sinh đồ, Lễ sinh hoặc Nhiêu học suôt đời). Theo tiền biên, kỳ thi Đình đầu tiên được tổ chức năm Bính Tuất (1646) thời chúa Thượng. Đến năm Quý Dậu (1693), tổ chức được 7 kỳ thi, tuyển 140 người; chỉ riêng các năm 1694-1695, số văn chức được tuyển đã lên đến 285 người.
Tài liệu tham khảo:

1.Giới Hương dịch (1994), Văn bia chùa Huế, bản viết tay, Huế.

2.Jean Koffer, Mô tả lịch sử xứ Nam Kỳ (Descryption historique de la Cochinchine). Bản dịch Phòng Tư liệu, Khoa lịch sử-ĐHKHXH&NV Hà Nội.

3.Lê Nguyễn Lưu (1995), “Thiền Sư Nguyên Thiều với chùa Hà Trung, Quốc Ân và bài Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp kí minh”, trong tạp chí Huế Xưa & Nay, số 9: 48-55.

4.Lê Quý Đôn (1977), Toàn tập, Tập I. Phủ biên tạp lục, Hà Nội: Nxb.KHXH.

5.Li Tina (1998), Lịch sử kinh tế -xã hội Đàng Trong thời các chúa Nguyễn thế kỷ XVII-XVIII (The Inner Region: A Social and Economic History of Nguyen Vietnam in the seventeenth and eighteenth centuries), Luận án Tiến sĩ Đại học Quốc gia Australia, 9/1992, bản dịch của Nguyễn Văn Huệ (trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế).

6.Li Tina (1998), Lịch sử kinh tế -xã hội Đàng Trong thời các chúa Nguyễn thế kỷ XVII-XVIII (The Inner Region: A Social and Economic History of Nguyen Vietnam in the seventeenth and eighteenth centuries), Luận án Tiến sĩ Đại học Quốc gia Australia, 9/1992, bản dịch của Nguyễn Nghị, Nxb Trẻ.

7.Nguyễn Hiền Đức (1995), Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, 2 tập, Nxb.Tp.HCM.

8.Nguyễn Hữu Thông [cb] (1994a), Danh lam xứ Huế, Nxb. Hội Nhà Văn.

9.Nguyễn Hữu Thông [cb] (1994b), Huế nghề và làng nghề thủ công truyền thống, Huế: Nxb. Thuận Hoá.

10.Nguyễn Khoa Chiêm (1994), Việt Nam khai quốc chí truyện, Nxb. Hội Nhà Văn.

11.Ngô Cao Lãng (1975), Lịch triều tạp kỹ, 2 tập, Hà Nội: Nxb. Giáo dục.

12.Pierre Gourou (2003), Người nông dân châu thổ Bắc Bộ, Hà Nội: Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp.

13.QSQ triều Nguyễn (1962), Đại Nam thực lục, Tập 1-Tiền biên, Hà Nội: Sư học.

14.QSQ triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, Tập 1, Hà Nội: Nxb.Giáo dục.

15.Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại kỷ sự, Viện Đại học Huế, Uỷ ban phiên dịch sử liệu Việt Nam.

16.Trần Viết Ngạc (1999), “Về một công văn của Tổng trấn Thuận Quảng Nguyễn Hoàng năm 1597”, trong Nghiên cứu Huế, Tập I, Trung tâm nghiên cứu Huế.

17.Vô danh thị (1961), Ô châu cận lục, Dương Văn An nhuận sắc tập thành, Bùi Lương phiên dịch, Sài Gòn: Văn hoá Á châu xuất bản.

(Trích trong 700 năm Thuận Hoá-Phú Xuân-Thừa Thiên Huế)

Advertisements

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: