//
you're reading...
góp nhặt cát đá, LocDP, Về Huế

Trường Bà Tuần – cố bác sĩ Lê Văn Lân

 
 
 
 (Góp nhặt cát đá của LocDP) 
 
 
Đường này hình thành từ giữa cuối thế kỷ 19, cùng thời với việc Bộ Hộ, Bộ Công quy hoạch thiết lập khu phố ngoài Cửa Đông. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 gọi là Phố Cửa Đông. Năm 1955 trở về trước là đường Gia Long (Rue Gia Long). Trước năm 1976 là đường Phan Bội Châu. Tháng 1/1977, tên mới là đường Phan Đăng Lưu. 
Đường Phan Đăng Lưu nằm trên địa bàn phường Phú Hòa, phía ngoài cửa Chính Đông (cửa Đông Ba), khởi đầu từ đường Mai Thúc Loan (tiếp giáp cửa Đông Ba) đến đường Trần Hưng Đạo (tiếp giáp Bắc cầu Gia Hội), dài 750m. Đường lưu thông một chiều từ phía đường Mai Thúc Loan.
Dân gian thường gọi là đường Ngã Giữa, hay đường Bà Tuần, vì khoảng đoạn giữa đường có rạp hát bội Bà Tuần.
LN46

Đường Phan Bội Châu, nay là Phan Đăng Lưu, đoạn từ gần nhà HVTH nhìn về hướng chợ Đông Ba. Đi lên một chặng sẽ gặp một đường hẻm cắt ngang , trường hát Bà Tuần nằm ngay mé hẻm bên phải. Rạp bị phá làm nhà ở từ sau 75. (Hình: Colnav Nguyen)

 
 
Trường Bà Tuần
 
Một thuở mê tuồng tích hát bội ở Huế
 
 
 
I. Bà Tuần là ai ?
Đối với những “ôn mệ” người Huế năm ni thuộc lớp tuổi từ thất tuần sắp lên mà hồi trước sống ở “Côi Dinh” (tức là thành phố Huế) nhắc đến Trường hát Bà Tuần tức là nhắc đến nhiều kỷ niệm đặc biệt mà lớp con cháu sau này không thể nào chia xẻ được những cái nét thú vị của chúng…
– Chà, lâu hung rứa ? Một bà cụ năm ni tuổi ngoài bát tuần đã nói với tôi – Cháu ơi, bác làm răng nhớ “hắn” thành lập năm mô. Tra quá nên lú lẩn rồi.
 
Nghe bà cụ không giúp chi nhiều cho tôi được về phương diện ký ức của trường hát này, tôi bèn viết thơ qua Paris (Pháp) vấn kế, tham khảo với ông anh cả học giả Thái văn Kiểm của tôi. Chẳng phải chờ lâu lắc, tôi đã nhận được hồi âm mau mắn từ bộ óc thông thái này, tác giả cuốn “Cố Đô Huế”.
 
“Rạp Bà Tuần là cái rạp hát ở đường Ngã Giữa, do bà vợ ông Tuần Phủ Đặng Ngọc Oánh (cũng có tên Kim) tạo lập. Ông này gốc người Nam. Có mấy người con trai. Đặng Ngọc Vinh làm Tham Tá Tòa Khâm Huế, rồi đổi ra Phủ Thống Sứ Bắc Kỳ. Đặng Ngọc Sách làm Kho Bạc (sau cũng làm Trưởng Ty Kho Bạc Đà Lạt). Đặng Ngọc Lựu (Kho Bạc Hà Nội). Còn Đặng Ngọc Hùng, em út trông coi cái rạp Bà Tuần Oánh. Bác sĩ Đặng Ngọc Hồ là một trong những người cháu của Bà Tuần. Rạp Bà Tuần đã xuất hiện sau Đệ Nhứt Thế Chiến (14-18)”.
( Chú thích của thaithuan: Thiếu sinh Đặng Ngọc Phú Hòa là con của Cố Họa sĩ nổi tiếng Đặng Ngọc Lựu)
 
Thế là tôi chợt nhớ đến anh bạn cùng trang lứa tên là M., con của giáo sư Hán tự của trường Quốc Học, cụ Phan Xuân Hiển. Nhà của anh ở khu Cầu Đất trong Thành nhưng chịu khó đi “nghễ gái” ở đường Ngã Giữa (có tên khác là đường Gia Long nếu dò theo bản đồ chính thức của thành phố Huế). Đường Gia Long sau này lại đổi thành đường Phan Bội Châu vào khoảng từ 1954 trở về sau. Công trình của anh M. – Trời đâu có phụ – đã giúp anh làm “đông sàng” trong gia đình họ Đặng bề thế này. Chị M. nghe đâu gọi Bà Tuần bằng bà nội. Hồi trẻ chị cũng thuộc loại mũm mĩm dễ thương, chả trách đã lọt vô mắt xanh của chàng trai Cầu Đất.
 
Trong trí nhớ mù mờ của tôi, Bà Tuần đã ở trong căn nhà của dãy phố trệt, nằm cách phía dưới rạp hát về bên tả khoảng chừng hơn một trăm thước trở lại, nhưng lại phía trên cùng dãy với những quán bún bò, những tiệm thợ bạc, nhà sách cũ của ông Lê Thành Tuân, tiệm bán guốc. Và đặc biệt hơn cả, dãy phố Bà Tuần nằm đối diện với phòng tranh của họa sĩ Phi Hổ lâu đời ở Huế và cửa hàng coi tướng số của cô “Thanh Ròn”. Theo tôi nhớ, cô Thanh Ròn là một phụ nữ tuổi xồn xồn vào khoảng cuối thập niên 50, ăn mặc điểm trang kỹ lưỡng vô cùng nên son phấn nhìn thấy rõ trên khuôn mặt xương xương. Đồ nữ trang luôn luôn óng ánh chói lòa ở cổ. Tác người của cô – trời đặc biệt cho khỏi cần phải ăn kiêng cữ – nghĩa là “ròm” tự nhiên.
 
Nhà tôi nguyên ở đường Cửa Đông Ba (khu Bến Tượng), tên thuở Pháp thuộc là rue Mirador Neuf (đường Vọng Lâu số 9) và tôi đã học trường Khải Định tức Quốc Học bên Hữu ngạn sông Hương ( tính từ trên nguồn đổ xuống theo kiểu Tây, còn theo kiểu ta thì tính ngược lại vì tính từ cửa biển đi ngược lên)…. đằng đẳng bảy năm trời. Do đó, con đường Ngã Giữa (hay đường Gia Long, hay Phan Bội Châu) là con đường tôi đã đi qua khiến mòn không biết bao nhiêu là… guốc, săng đan và lốp xe đạp. Cảnh trí và các nhân vật trên con đường này vô tình đã chui tọt nằm êm ả trong góc tư của ký ức của tôi.
 
Chính mắt tôi chưa từng thấy Bà Tuần Oánh vì trong thời gian này bà đã già, chỉ ở trong nhà của dãy phố trệt, phía trước có một cái hiên dài dựng trên nhiều cây cột gỗ. Nhưng một năm nào đó, tôi còn nhớ ở nhà bà có một đám tang lớn – hình như của người con làm Tòa sứ gì đó – Sở dĩ tôi nhớ vậy vì đám tang có tổ chức lễ “Hò Đưa Linh” rất trọng thể mà tôi được coi thấy chỉ một lần duy nhất trong đời. Quang cảnh buổi đưa linh với những người âm công làm trạo phu, tay cầm chèo khoát qua khoát lại trong không khí cùng với những giọng hò nhịp nhàng nhưng ai oán khiến đầu óc thơ ngây của tôi thuở đó tưởng rằng linh hồn của mình sau khi tắt nghỉ tức nhiên phải đáp lên một con thuyền để đi từ cõi dương qua cõi âm huyền bí… Và một năm khác, đi qua nhà bà Tuần Oánh, tôi lại thấy tổ chức một lễ ăn mừng thượng thọ của bà, nhưng tuyệt nhiên chưa hề một lần biết mặt bà ra sao…
 
 
II. Rạp Đồng Xuân Lâu
 
Tuy nhiên, ngược lại, tôi lại biết khá rõ về cái rạp hát do Bà Tuần tạo lập. Dù rằng tên chính thức của rạp là rạp Đồng Xuân Lâu nhưng dân Huế vẫn gọi bằng một cái tên quen thuộc, đầy bình dân tính là Trường Bà Tuần… Trường đây là “hí trường”, gọi tắt theo kiểu nói của dân Huế… Nhưng đối với tôi, “Trường Bà Tuần” là một thứ trường học của tôi học được nhiều thứ mà sách vở nhà trường không có dạy… Tôi đã học được rất sớm về hát bội, ca Huế, coi cải lương…, học đủ thứ hỉ nộ ái ố của cuộc đời diễn ra trên cái hí trường nhỏ hẹp cổ lỗ này.. May mà thuở nhỏ, tôi không mê “trường gà” ở Huế.
 
1. Vị trí
Trường Bà Tuần tọa lạc trên đường Ngã Giữa (Gia Long), ở phía bên tay phải nếu đi từ phía dưới của Đông Ba lên phố chính của Huế tức là đường Paul Bert (Trần Hưng Đạo). Đối diện với Trường hát bên kia đường là phía sau của Đình Phú Hòa (hay Đình của Phường Đệ Nhất, một trong chín phường của kinh thành Huế thuở còn Tây) và một con đường hẽm không có tên khá rộng đi thông ra đường Hàng Bè (hay Quaie de Đông Ba), con đường này chạy dọc theo dòng sông Đông Ba, ngó qua bờ bên kia là đường Hàng Đường, đường Huỳnh Thúc Kháng (vì hồi trước có tờ báo Tiếng Dân của nhà cách mạng này ở gần Bến Tượng).
 
Vào cái thuở cuối thập niên 40, Trường Bà Tuần xây vào khoảng sau Đệ Nhất Thế Chiến ( 1914 – 1918) cũng đã liệt vào hàng kiến trúc cổ lỗ với hoảng 25 tuổi đời, so với các hí viện được tạo lập về sau để dùng chiếu bóng như rạp Tân Tân (trên đường Trần Hưng Đạo), rạp Morin (bên phố Tây), rạp Châu Tinh (khu Gia Hội) v.v… Trước đó, Trường Bà Tuần cũng có một thời oanh liệt vẻ vang khi mới thành lập vì đó là một hí viện xưa, duy nhất của thành phố Huế được diễn những vở tuồng hát bội hay những buổi tuồng ca Huế của gánh Kim Sanh được thành lập vào năm 1925. Chính ở Trường Bà Tuần này, tôi đã thấy ảnh của kép Năm Châu và các đào Kim Lan, Kim Cúc khi gánh hát cải lương Năm Châu trình diễn ở Huế… cũng như thấy những bảng quảng cáo của nhiều gánh hát khác như Kim Chung, Tiếng chuông vàng Bắc Việt, tuồng tàu Hồ Quảng, hay Đồng Ấu Ban mà đào kép là những nhi đồng hay thiếu niên thuộc lứa tuổi 15 – 20 như tôi thuở đó. Khoảng đất của trường Bà Tuần chỉ vào khoảng gấp đôi, cùng lắm là gấp ba diện tích của một nhà thường dân ở Huế. Trước mặt là đường Ngã Giữa, phía sau quay vào bờ hào của ngoại thành Huế. Mặt tiền của Trường Bà Tuần có một cái nghi môn xây bằng gạch đỏ xi măng sơn vội vàng. Tôi nhớ hình như tên rạp chính thức Đồng Xuân Lâu được đúc xi măng rồi gắn vô một bức cuốn thư trên cái nghi môn.
 
Tiền phòng của rạp ở mặt phố tuy thấp nhỏ, nhưng cũng đủ chỗ để làm một phòng bán vé và một gian trong để một vài nhạc công ngồi đó đánh trống thổi kèn ầm ĩ… Chính những tiếng trống tiếng kèn này hằng đêm đã vang dội ra mặt đường, kích thích tôi vô tả… Như một sự giao kết mặc nhiên giữa cha tôi và tôi thuở đó, mỗi tối sau khi cơm nước xong và các bài học bài làm của trường mà tôi đã học thuộc và làm xong thì tôi có quyền chạy đi chơi tự do… miễn là phải về nhà khoảng tám rưỡi chín giờ để ngủ… Sự giao kết này tôi luôn luôn thực hiện đúng có nửa phần đầu, còn phần sau, tôi thường  vi phạm qui định về giờ giấc trở về nhà ngủ vì tuồng hát thường vãn về khuya 11 giờ rưỡi… Đặc biệt là những hôm mà tôi thấy một hai chiếc xe kéo của rạp hát đi diễn qua ngoài đường cho bảng quảng cáo tuồng diễn buổi tối về Thầy Đường Tam Tạng Tây du thỉnh kinh có ba đồ đệ là khỉ Tề Thiên, heo Bát Giới, và quỉ Sa Tăng… Thuở đó, tiền túi đương nhiên là tôi không có để mua vé đàng hoàng, nhưng như một con nắc nẻ thích ánh đèn, tôi khoái chạy lên Trường Bà Tuần đứng vớ vẩn để nghe trống kèn, hoặc chực có người quen thì xin đi ké vô. Giả dụ, gặp bữa mô tuồng hát hấp dẫn ly kỳ quá thì tiền dành dụm được 5 xu, 1 giác (trong Nam gọi là cắc)… tôi bèn “chuồi” lót cho anh gác cửa để vô lậu trong rạp khỏi mua vé… Cũng có bữa, không có tiền chuồi lót thì chạy qua lối hông ở sau rạp và leo lên nhìn qua kẻ hở của bức vách ván gỗ để thấy đào kép diễn ở bên trong… Đứng coi như thế mà lòng hồi hộp vô cùng vì lâu lâu bị người gác rạp cầm roi phết đít đuổi đi… Và mũi thì ngửi nồng nặc mùi nước tiểu… tuy rằng trên vách tường có viết ba chữ bằng sơn đỏ, to bằng con gà mái mệ : CẤM PHÓNG UẾ !
 
Gặp bữa mô gánh ca Huế Kim Sanh trình diễn có màn đấu boa-nha (poignard) ác liệt hay tuồng Phong Thần đấu phép là trí óc của tôi lại vận dụng để cố kiếm cách đi xem lậu. Hoặc là vào giấc xẩm tối trước khi rạp hát bắt đầu hoạt động, tôi lẻn vô núp trong gầm hay kẹt tối của bức gỗ của rạp… Thường mười lần hết chín là bị xách tai đuổi ra ngoài… Hoặc là một cách công khai… đường đường chính chính… chờ cho đến khuya rạp “thả cửa” vào màn cuối… thường thường chỉ có 10 – 15 phút sau cùng, ai cũng vô được không cần vé thì thế nào cũng có mặt tôi trong đám khán giả “thả cửa” này. Vào lúc này thì trống ở trước cửa khôn g đánh thì thùng nữa mà chỉ đánh “cắc cắc” báo hiệu sắp vãn…Do đó dân Huế thường nói “Trường Bà Tuần khỏ cắc rồi”, liệu đi ngủ, mai đi làm chứ.
 
Bây giờ nghĩ lại chuyện ngày xưa, tôi hoàn toàn không cảm thấy nhục nhã gì cả, vì lớp tuổi thiếu niên coi đó là những chuyện mạo hiểm phiêu lưu, như những lần đi coi đá banh bên sân vận động ở khu Đất Mới (sau khu Đất Mới có một “xóm đĩ” và một quán bán “cơm Âm Phủ” cho khách chơi khuya vào thời trước). Đi mười lần hết chín là “chui rào”. Chui thành công vô trong cũng sướng như sau này đi thi thấy tên trên bảng vậy… Ai ngờ sau này là người lớn, tôi cùng gia đình lại “đi chui” khi vượt biên… và cái sướng lần này to lớn như trúng số vậy.
 
2. Kiến trúc 
Trước cửa trường hát Bà Tuần, hàng quà bánh cực kỳ hấp dẫn : có vài gánh cháo lòng hay bún bò mà nồi nấu luôn luôn bốc khói vì để trong cái thúng đựng cái “bếp trú” lửa cháy âm ỉ hoài, mùi thơm ngào ngạt… Bây giờ nhớ lại tôi vẫn có cảm giác như xưa… lại có gánh “phở Huế” dọn ra những đọi phở hoàn toàn khác phở Bắc nhưng cũng có vị ngon riêng… Ngày Tết, trước cửa rạp lại có nhiều hàng rong hấp dẫn… khiến dân ăn hàng nhân tâm tùy bọc chứa tha hồ mà thưởng thức như dấm nuốc chả mực, bánh ướt, bánh ram, bánh đúc xanh kiểu Huế, ăn với mật  bằng cái dao tre…
 
Bây giờ các bạn hãy để tôi cố gắng vận dụng trí nhớ mà đi vô kiến trúc của Trường hát vào khoảng cuối thập niên 40. Bên phải cửa tiền phòng làm chỗ bán vé của trường hát là một căn nhỏ có một hàng bán nước chè Huế, bày cái bàn thấp cùng với vài cái đòn để khách ngồi. Tôi nhớ mãi mùi nước chè nóng thơm ngai ngái lẫn mùi gừng dễ chịu lạ thường, cũng như mùi thuốc lá quấn mà mấy người khách bình dân hút thì châm điếu thuốc vô một cái mồi làm bằng sợi dây dừa dài treo lũng lẳng từ cái đòn… Còn bên trái cửa tiền phòng bán vé cũng có một căn nhỏ cho “thợ cúp tóc” thuê… trên trần treo một cái “quạt bàn”, tức là một tấm cót tre hình chữ nhật được điều khiển phe phẩy qua lại bằng cách kéo dây. Rời phòng vé đi vô rạp phải đi qua một lối lộ thiên về hướng tay trái khoảng 5 – 10 bước để rồi lại rẽ phải để tiến vô cái lòng rạp chính thức. Ở cửa lối lộ thiên là một lối ra có cửa đóng. Cửa chỉ mở khi vãn hát để khách đi ra… Nếu rẽ bên phải cửa lối lộ thiên là vô phòng làm việc của bạn quản trị, và phòng đào kép trong hậu trường.
 
 
A. Khán trường
 
Lòng rạp chia làm hai phần. Khoảng hơn 8/10 là khán trường để sắp ghế ngồi cho khán giả. Hạng nhứt và hạng nhì là những ghế mây ở chính giữa có mang số cẩn thận… Còn hạng chót là hai hàng bục gỗ ở hai bên, từ thấp lên cao, khỏi cần có số, ngồi đâu tùy ý. Tôi còn nhớ cuối rạp ngay chính giữa có một cái gác lửng, trên cũng để ghế cho khách ngồi coi, có thể đó là hạng ba trên hạng tư là hạn chót.
 
Tường của rạp xây bằng gạch, đặc biệt có nhiều lỗ thông hơi bằng cách xếp gạch xéo xéo để người bên ngoài ngó vô không thấy bên trong, mà người bên trong thấy thoáng khí…
 
Cách thức sắp xếp chỗ ngồi của lòng rạp của Trường Bà Tuần (tức Đồng Xuân Lâu) cũng được một rạp khác mô phỏng. Rạp này ít được ai biết đến vì nó dựng ở làng Mỹ Lợi, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên, quê của bà Từ Cung mà tôi sẽ nói đến ở kỳ sau. Rạp hát Mỹ Lợi đựng bên rạp là các bục từ thấp lên cao cho hạng chót hay hạng cá kèo như trong sân vận động vậy. Chính vì cái lối kiến trúc với tường vách có lỗ thông hở hang và diện tích nhỏ hẹp của rạp nên Trường hát Bà Tuần không thể nào được mượn để chiếu bóng hay tổ chức những buổi thuyết hay trình diễn văn nghệ như Hội trường của hội Quảng Tri nằm trên cùng đường Ngả Giữa, ở phía trên và xoay mặt ra đường Hàng Bè (hay đường Huỳnh Thúc kháng). Một điểm đặc biệt khác là vào khoảng của những năm 40, Trường hát vẫn còn dùng những tấm quạt mát cho những khán giả hạng nhứt và hạng nhì…Còn mấy khán giả ngồi hai bên bục gỗ bậc cấp thì chịu khó nóng bức. Nếu có gió mát mà lọt vô là từ một dẫy cửa sổ ở trên cao gần nóc… Nên gặp mùa nóng cức tháng tư ở Huế nhiệt độ cỡ 39 – 40 thì kể như được tắm hơi. Tôi luôn luồn lỏi đứng ở gần sân khấu nên thấy các đào kép mồ hôi nhễ nhãi trên những bộ mặt vẽ phấn son, nhất là họ phải mang đủ thứ trang phục cân đai mũ mãng v.v….
 
 
B. Hậu trường sân khấu
 
Thuở nhỏ, vì con nít, tôi mặc tình đi luông tuồng thám thính nhiều nơi vì tò mò kích thích… Tôi lò mò vô đến hậu trường chỗ mấy đào kép ngồi vẽ mặt và mặc trang phục trước khi ra sân khấu… Có bữa tôi cũng bị họ la rầy đuổi ra, nhưng vẫn lén vô coi. Sau nầy tôi đọc sách về ngành hát bội thấy mấy khuôn mặt vẽ khiến tôi bồi hồi cảm xúc nhớ lại buổi ấu thơ… (Xin quý bạn coi những hình chụp). Tôi lại tò mò đứng ngắm bàn thờ Tổ một cách vừa sợ sệt vừa thích thú… Đó là hình một con “búp bê” làm bằng đất nung, mặt sơn son, mình mặc áo gấm ngồi trong một cái trang thờ bằng gỗ. Đào kép thường gọi là “Ông Làng” mà họ thường cung kính vái lạy mỗi khi bắt đầu hát xong mỗi tối.
 
Thuở nhỏ nhìn thấy “Ông Làng” thì tôi chỉ biết vậy nhưng không thắc mắc tại sao “Ông Làng” lại là con búp bê. Vì theo tài liệu tôi đã tra cứu sau này thì Tổ nghề hát bội có hai người :
Một người là Lý Nguyên Cát, người Trung hoa bị Việt nam bắt khi nhà Nguyên qua xâm lấn nước ta vào đời Trần. Ngành hát bội theo lịch sử đã bắt đầu có từ đời nhà Nguyên. Chính Lý Nguyên Cát đã dạy dân ta về cách giải trí sân khấu nên được thờ làm Tổ.
Người thứ hai tên là Liên Thu Tâm, cũng người Trung hoa, được Lê Ngọa Triều dùng để giảng dạy các cung nữ cách hát tuồng từ năm 1005 (phỏng theo tài liệu từ cuốn Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ – Khai Trí 1970).
Nhưng mới đây, nhờ đọc cuốn “Cố Đô Huế”, lịch sử cổ tích thắng cảnh của Thái Văn Kiểm, trí tò mò của tôi về con “búp bê” được thờ làm Tổ của ngành hát bội được thỏa mãn qua đoạn viết sau :
Theo tục truyền, vị thần bổn mạng này xưa kia là một vị hoàng tử mê say hát bội. Một hôm có tổ chức một buổi hát cho vua ngự giám, hoàng tử muốn đi xem nhưng sợ phụ thân quở phạt đành phải thúc thủ, nhưng không thể nào thắng được dục vọng là lòng hâm mộ, ông bèn cải trang rời cung điện, trốn đi cho kỳ được, rồi lén ngồi trên dàn tre chung với dân chúng.
Hôm ấy, như người ta đã tiên đoán hát rất hay, tất cả đào kép đều vô cùng xuất sắc, vua ban khen, dân chúng hoan hô cuồng nhiệt làm sập dàn tre, đè hoàng tử chết.
Từ ngày ấy, tuy thành người thiên cổ, oan hồn của hoàng tử không tiêu dao miền cực lạc mà cứ vấn vương theo các gánh hát để phù hộ những nghệ sĩ đã làm cho ông lúc sinh thời tìm được một thứ tiêu khiển thanh nhã lý thú.
Người ta tin chắc rằng vị thần này linh thiêng lắm nên họ thờ kính rất trịnh trọng mong được ngài truyền cho ngọn lửa thiêng của nghề để có cảm hứng và thanh âm đặng hát cho hay, tức cảnh ứng cảnh và ứng khẩu cho may mắn, cho có duyên, điệu bộ cho mùi mẫn để thành công trong nghề nghiệp.
Tục còn truyền rằng vì ôn g chết thảm trong tuổi hoa niên, hồn chưa sạch nợ nần vật chất, nhất là hương thơm, nên chi ông có thể còn giữ cái phù khi lúc còn sống mà chạy theo hương thơm. Cho nên người ta yêu cầu những người có mang theo các vật có mùi thơm nên tránh xa sân khấu, cấm ngặt khán giả hát bộ không được đem theo một số hoa quả “có tên trong sổ đen” như trái thị chẳng hạn, vì nó có thể tạo sóng gió trong buổi diễn xuất và làm trở ngại cho sự thành công của gánh hát.
 
 
 
 
 
 

Thảo luận

1 bình luận về “Trường Bà Tuần – cố bác sĩ Lê Văn Lân

  1. Đọc đi, đọc lại bài viết ni mấy lần vẫn cứ thấy rưng rưng nhớ Huế, nhớ gia đình mình. Bài viết tương đối đầy đủ, tuy nhiên cho phép mình, một trong những đứa cháu nội của Bà Tuần, nói thêm cho rõ.
    Một là, “Đặng Ngọc Oánh” là tên ông nội mình, Thượng Thư, Hiệp tá Đại Học sĩ, làm ở Viện Cơ Mât triều Nguyễn; còn tên “Kim” là tên thời con gái của bà nội mình. Tất cả giấy tờ nhà cửa, cả rạp hát đều đứng tên bà nội mình. Vì có thời gian ông nội mình làm Tuần phủ nên rạp hát được gọi là Rạp/ Trường Bà Tuần.
    Hai là, người có tên Đặng Ngọc Hùng là bác thứ Năm, không phải con út như trong bài viết. Bác Năm là ba của Giáo sư Đặng Ngọc Tuấn, nguyên Giám Học trường Quốc Học- Huế, Giám Học trường Sư Phạm Quy Nhơn, Giám học trường Phan Chu Trinh, Đà nẵng trước 1975. Bác Năm khi tham gia kháng chiến đã lập đoàn ca múa nhạc Quân khu 4. Còn người con út là chú Đặng Ngọc Dương, quản lý trường hát một thời gian, sau đó cùng bác Năm mình theo đoàn ca múa nhạc Quân khu 4 tập kết ra Bắc.
    Ba là, phía mặt tiền đường Gia Long chỉ dành khoảng 6, 7 mét gì đó làm cổng vào. Phía bên trái, sát đường ra bờ hồ, có hai gian nhỏ cho thuê gồm tiệm hớt tóc và tiệm bán guốc (một trong 2 người chủ là chú Vinh, người kia là chú Hải, nhưng mình không nhớ ai là chủ tiệm hớt tóc ai là chủ tiệm guốc). Phía dưới (bên phải) cho chú Cháu thuê Dù gọi là ông Cháu bò tái, nhưng ông lại nỗi tiếng nhờ món thịt dê, mỗi tuần chỉ bán vào thứ bảy và Chủ nhật. Trước khi cắt tiết dê, ông cho người đưa dê chạy qua cầu Gia Hội, xuống Bạch Đằng, qua cầu Đông ba cho dê tiết hết mùi hôi rồi mới treo ngược lên cắt tiêt ở cổ. Vừa cắt vừa hứng bằng bát trung, có rượu đế trong đó và bán ngay cho khách uống một hơi. Đây là một trong ít quán thịt dê ngon và nỗi tiếng nhất ở Huế.
    Bốn là phía trong rạp hát, ở giữa là các dãy ghế đâu chừng mười mấy hàng, đường đi ở giữa. Chia hạng nhất gần sân khấu, hạng nhì, hạng ba. Gần sân khấu, phía bên trái có một cái trống chầu. Thường những người lớn tuổi mới được cầm chầu. Những khi đào, kép hát hay, người cầm chầu đánh lia lịa, và những người bên dưới ném tiền lên thưởng. Phía trên có một gác gổ cũng dành cho khách xem hát, nhưng thường bọn trẻ con hay lên đây vì có nhiều “anh-chị” ngồi xem hát thì ít mà “tâm tình” thì nhiều. Dưới gác này có cửa hậu, thường mấy chú bảo vệ hay cho lủ trẻ con ở bờ hồ vô xem hát theo cửa này. Bên phải là những bậc cấp bằng gạch, lót ván dày, dành cho những người mua vé không xếp hạng. Bên trái, phía bờ hồ có gác gỗ phía trên, bên dưới là nhà vệ sinh. Sân khấu ở giữa, làm bằng các thanh gổ gác dọc, chân là những câu trụ lớn, có hai thanh bắt chéo hình chữ X để giữ cho chắc chắn. Phía ngoài xây bờ gạch. Phía trong để trống, trẻ con có thể chui dưới gầm sân khấu để trốn hay chuyển từ bên ni sang bên tê. Sàn là những tấm ván gổ dài, có tấm phủ hết cả chiều ngang. Phía trên giáp tường là bàn thờ, sâu chừng 7-8 tấc gì đó. Dưới bàn thờ là đường thông để đào kép di chuyển từ bên ni sang bên tê. Phía dưới sân khấu bên phải, giáp với tường quán bò tái là một căn phòng khá rộng để đào kép trang điểm. Trước và sau buổi hát, những người hâm mộ thường kéo vào đứng ngay cửa, ngắm thần tượng của mình trang điểm.
    Mình chỉ nhớ chừng đó. Khi nào rãnh, nhớ thêm gì mình kể thêm.
    Thanh Hải

    Đã thích bởi 1 người

    Posted by Đặng Ngọc Thanh Hải | Tháng Năm 27, 2017, 5:14 sáng

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Thư viện

%d người thích bài này: