
Cuối thời tiền chiến, ông Vũ Ngọc Phan kiểm điểm một thời kỳ văn học 30 năm của Việt Nam. Trong mọi bộ môn sáng tác bằng văn xuôi ông chỉ đếm được ba người ở Nam phần và Trung Phần (Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Vỹ và Thanh Tịnh). Tất cả đều viết truyện. Về các bộ môn kịch, ký, tùy bút… : không có ai cả.
Cuối thời 1954-75, ông Cao Huy Khanh kiểm điểm riêng về một bộ môn tiểu thuyết trong 20 năm ở Miền Nam. Ông bảo số người viết truyện xấp xỉ 200; trong số ấy trên dưới 60 người có giá trị. Giả sử có ai ngờ vực Cao Huy Khanh nặng tình bè bạn, và ai đó có hạ số ước lượng xuống còn một nửa – tức 30 người – thì số lượng tiểu thuyết gia trong 20 năm này cũng gấp mười lần số lượng của 30 năm trước. Ấy là chưa kể đến những tùy bút gia, kịch tác gia của thời kỳ sau.
Về một mặt khác, hồi tiền chiến ở Trung phần – từ Phú Yên vào đến Bình Thuận – chưa có nhà văn nhà thơ nổi tiếng; và ở khắp các tỉnh Nam phần – ngoài ông bà Đông Hồ ra – cũng chưa thấy vị nào có tiếng tăm rộng rãi trên văn đàn. Nói vậy là căn cứ theo sách của các ông Vũ Ngọc Phan và Hoài Thanh. Thế rồi trong khoảng 20 năm sau 1954 lần lượt xuất hiện những văn thi sĩ tên tuổi ở Phú Yên (Võ Hồng), ở Ninh Thuận, Bình Thuận (Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Bắc Sơn), ở Cà Mau (Sơn Nam, Trần thị NgH), ở Gia Định (Tô Thùy Yên), Vĩnh Long (Nguyễn Thị Thụy Vũ), Sóc Trăng (Vương Hồng Sển) v.v…
Số văn nhân thi sĩ tăng cao chừng ấy, địa bàn hoạt động văn học nghệ thuật mở rộng đến chừng ấy, – như vậy là một đóng góp.
Đóng góp khác là cái tinh thần tự do, phóng khoáng của thời kỳ văn học này.
Thiên hạ đã nói nhiều về sự đàn áp tinh thần trong những thời ngoại thuộc : hoặc thuộc Tàu, hoặc thuộc Tây. Thực ra, không cứ những thời ấy. Ngay lúc nước nhà độc lập, các chế độ quân chủ phong kiến hay chế độ dân chủ cộng hòa ở ta cũng không dung thứ thái độ kích bác nhà cầm quyền. Ngay khi độc lập, dân chủ, vẫn thường chỉ có một cái tự do được ban phát rộng rãi, là tự do ca ngợi bề trên.
Ở Miền Nam Việt Nam thời 1954 – 75, giữa hoàn cảnh chiến tranh, đã phát triển một nền văn nghệ khác hẳn. Trên sách báo tha hồ nở rộ những tràng cười sảng khoái, công kích điều sai chuyện quấy, đùa giễu những phần tử xấu xa. Phần tử ấy không thuộc hạng Lý Toét Xã Xệ. Không hề có nhân vật nào thấp bé như thế bị bêu riếu trong thời kỳ này. Nạn nhân là từ hạng những tay cầm đầu một tỉnh cho đến các vị cầm đầu cả nước. Tiếng cười cợt ngang nhiên, hể hả râm ran khắp cùng trên mặt sách báo.
Mặt khác, mọi quan niệm nhân sinh tín ngưỡng, hay có dở có, cao thâm có, mà ngông cuồng gàn dở cũng có nữa, tha hồ được tìm hiểu, trình bày, quảng bá.
Trước và sau thời 54 – 75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên nước ta văn học được phát triển trong tinh thần tự do cởi mở như vậy.
Sau tính cởi mở tự do, chúng ta có thể chú ý đến một đóng góp nữa. Tôi muốn nói về hiện tượng suy tưởng triết lý ở Miền Nam trong thời 1954 – 75.
Đến cuối thời tiền chiến, tiểu thuyết ở ta đã có đến trên dưới mười loại, trong đó có những loại tâm lý, loại luận lý, nhưng khuynh hướng triết lý thì bấy giờ chưa có trong tiểu thuyết. Qua thời kỳ 1954 – 75 ở Miền Nam các băn khoăn triết lý xuất hiện đồng loạt trên nhiều địa hạt sáng tác : trong tiểu thuyết, trong thi ca, trong kịch bản, trong tùy bút. Có lúc triết lý tràn lan như một món thời thượng; và nó bị chế giễu.
Tuy vậy, có lẽ nó đã đến đúng lúc, hợp hoàn cảnh. Dân tộc đang chết hàng triệu người vì sự bất đồng ý thức hệ, bất đồng quan niệm sống. Vào lúc ấy sao có thể không suy nghĩ về lẽ sống, sao có thể điềm nhiên phó thác tất cả cho lãnh đạo, tin chết vào lãnh đạo ? Mặt khác, lúc bấy giờ cũng là lúc nhiều trào lưu tư tưởng mới đang gây xáo động lớn ở Tây phương, phản ứng ở Miền Nam chứng tỏ chúng ta có một tầng lớp trí thức nhạy bén, có cuộc sống tinh thần sinh động.
Nền văn học 1954 – 75 ở Miền Nam Việt Nam trong thời gian qua bị ém giấu, xuyên tạc. Nó gặp một chủ trương hủy hoại, gặp những bỉ báng hồ đồ. Nó chưa được mấy ai lưu tâm tìm hiểu, phán đoán cách đứng đắn, tử tế. Những điều tôi vừa nêu ra chắc chắn còn thiếu, còn sai, còn cạn cợt. Việc đánh giá nền văn học ấy gần như chưa được bắt đầu nghiêm chỉnh.
10 – 1998
————————-
[1] Ngày 26-10-1955 Nam Việt Nam tuyên bố thành lập chế độ cộng hòa, sau một cuộc trưng cầu dân ý. Ngày 26-10-1956, Hiến pháp nước Việt Nam Cộng Hòa được ban hành. Hơn bốn chục năm sau, ngày 28-10-1998 đài BBC ở Luân-đôn có cuộc phỏng vấn (do ông Đặng Tiến thực hiện) về sự đóng góp của Miền Nam về mặt văn học. Bài này ghi đại khái ý kiến đã phát biểu trong dịp ấy. Vì không có bản ghi âm cuộc phỏng vấn, tác giả không nhớ đích xác nên không thuật lại lời Đặng Tiến.
(Nguồn : vietmessenger.com)
Thảo luận
Không có bình luận