“Tất cả những người hay mơ mộng đều biết rằng hoàn toàn có thể nhớ nhung một nơi hoàn toàn xa lạ, và thậm chí nhớ nhung nhiều hơn cả những vùng đất quen thuộc.” – Judith Thurman
V – BODHGAYA (BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG) (Tiếp theo)
Đại học Phật giáo thời cổ đại Nalanda Mahavihara
Theo Wikipedia, Nālandā (tiếng Phạn: नालंदा; /naːlən̪d̪aː/, phiên âm Hán-Việt: Na-lan-đà) là một trung tâm học tập bậc cao thời cổ đại, một tu viện Phật giáo lớn nằm ở vương quốc cổ Magadha, ngày nay thuộc tiểu bang Bihar, Ấn Độ. Địa điểm này nằm cách Patna (Hoa Thị Thành) chừng 95 km (59 mi) về phía đông nam, gần thành phố Bihar Sharif. Nalanda vốn là một trung tâm học thuật quan trọng từ thế kỷ thứ 5 và phát triển rực rỡ từ triều vua Śakrāditya (danh hiệu chưa rõ, có thể là vua Kumara Gupta I hoặc Kumara Gupta II) cho đến cuối thế kỷ 12 (1197). Sau đó Nalanda bị phá hủy toàn phần. Ngày nay, Nalanda là một Di sản thế giới được UNESCO công nhận từ năm 2016. (*)

Như đã đề cập ở kỳ trước, núi Linh Thứu (Gridhrakuta) là nơi Phật và tăng chúng thường lui tới để học tập và an trú. Đây cũng là nơi linh thiêng thứ nhì của Phật giáo, chỉ sau Bồ Đề Đạo Tràng (Maha Bodhi Temple). Linh Thứu nằm cách thành Vương Xá (Rajgir ngày nay) 5 km về hướng đông nam, thuộc quận Nalanda, tiểu bang Bihar. Ở đây thu hút du khách nội địa lẫn Phật tử hải ngoại hành hương.

Theo nhà khảo cổ học Ấn Độ Hiranand Sastri từng giám đốc việc khai quật di tích thì Nalanda xuất phát từ nālas tức cây sen. Sen mọc nhiều trong khu vực này và tên Nalanda là muốn nhắc đến biểu tượng cây sen. (*)
Vua chúa Ấn Độ nhất là triều đại Đế quốc Gupta từng xuất tiền của bảo trợ cho trường Nalanda. Sau đến các vua chúa triều Pala như vua Harsha (thế kỷ thứ 6) vốn mộ đạo Phật lại càng ủng hộ nhiệt tình.
Quần thể khu Nalanda chiếm diện tích 14 héc-ta (488×244 mét). Các công trình xưa đều xây bằng gạch đỏ, nay đã đổ nát chỉ còn phế tích. Nhưng trước thế kỷ 13 vào thời hoàng kim thì Nalanda là nơi thu hút hằng nghìn sĩ tử xa gần tận Tây Tạng, Trung Hoa, Hy Lạp, và cả Ba Tư đến tu học.
Năm 1193 Nalanda bị quân Hồi giáo người Turk của Bakhtiyar Khilji tràn vào tàn phá thiêu hủy. Kho sách khổng lồ phải mất ba tháng mới cháy hết. Trường sở mất, các tu sĩ cũng phải ra đi, di tích Nalanda từ đó bị bỏ hoang.
Năm 2006, một số quốc gia, trong đó có Singapore, Trung Quốc, Ấn Độ, và Nhật Bản công bố dự án trùng tu di chỉ này. (*)
Nhiều nhân vật tiếng tăm trong lịch sử từng đặt chân đến Nalanda trong đó có Phật Thích-ca và Mahavira khoảng thế kỷ 6 và 5 TCN. Đây cũng là nơi sinh ra và nơi nhập niết bàn của Xá-lợi-phất (Sāriputta), một trong số các môn đồ nổi tiếng của Phật Thích Ca. (*)


Đây là viện Phật học đầu tiên của thế giới được xây dựng trong thế kỷ thứ hai. Dưới triều đại Gupta thế kỷ thứ tư, Nalanda trở thành một viện đại học thật sự. Liên tục 700 năm, nơi đây được mở rộng và tu bổ, mà mạnh nhất là trong thời nhà vua Harsa (606-664) và triều đại Pala (từ 750).
Suốt một thời kỳ khoảng 1.000 năm, đây là nơi sản sinh hàng trăm luận sư danh tiếng nhất của Phật giáo. Trong thời kỳ cực thịnh có đến 10.000 tỉ kheo tu học tại đây. Khoảng cuối thế kỷ thứ 12, Nalanda bắt đầu bị tín đồ đạo Islam tàn phá và năm 1235 hai tu viện cuối cùng bị hủy diệt; và đó cũng là thời kỳ Phật giáo suy tàn tại Ấn Độ. (**)

Nói Nalanda được xây dựng trong thế kỷ thứ hai là nói viện Phật học chứ thực ra trong thời Phật tại thế, khu vực này đã là vùng đất thiêng. Nó chỉ cách Vương Xá 11 cây số về phía bắc và mỗi lần Phật rời kinh thành này của vua Tần bà sa la đi lên miền bắc, ngài thường nghỉ trong vườn xoài Pavarika ở đây. Đây cũng là quê hương của Xá Lợi Phất – vị đệ tử có “đại trí tuệ” – và cũng là nơi ông chết. Đến thời A Dục vương, nhà vua đã cho xây một ngôi chùa tại đó và ba trăm năm sau, một vị vua nước Ma Kiệt Đà tên là Sankraditya mới thành lập nơi đây viện Phật học. (**)

Viện này không phải đợi lâu, vì cũng trong thế kỷ thứ hai đó đã có một nhân vật kiệt xuất tên là Long Thụ (Nagarjuna) ra đời, ông đến Nalanda tu học và về sau trở thành viện trưởng. Long Thụ là một trong những luận sư xuất chúng nhất của Phật giáo, ông được xem là Đức Phật thứ hai, sự xuất hiện của ông là lần chuyển pháp luân thứ hai. Ông là người chịu suy luận nhất của lịch sử Phật giáo, là người sáng lập Trung quán tông (Madhyamika), đồng thời lại là vị tổ thiền thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ truyền từ Đức Thích Ca xuống. (**)

Tiếp nối truyền thống, sau Long Thụ là những thế hệ của giảng sư và luận sư danh tiếng như Thánh Thiên tôn giả (Aryadeva), Vô Trước, Thế Thân, Hộ Pháp (Dharmapala), Trần Na Bồ Tát (Dinnaga), Giới Hiền (Shilabhadra) giảng dạy. Thời đó Nalanda đã là mẫu mực của tính khoa học cầu thị. (**)

Như Đức Đạt Lai Lạt Ma từng nói: “The source of all the [Buddhist] knowledge we have, has come from Nalanda.” (Mọi nguồn kiến thức chúng ta có về Phật pháp đều đến từ Nalanda.) Cách tiếp cận giác ngộ vào triết học và tôn giáo của Nalanda giúp hình thành nền văn hóa của châu Á lâu dài sau khi viện đại học này ngưng hiện hữu.
Nơi đây 8 trường phái Phật giáo của thời kỳ đó đều được giảng dạy, từ vệ đà, tiểu thừa, duy thức, nhân minh cho đến các ngành khác như toán học, y học. Cả giáo sư nước ngoài cũng được mời dạy mà người nổi tiếng nhất lại là Huyền Trang. Ông tới đây học Duy thức với Giới Hiền, lúc đó vị thầy viện trưởng này đã 106 tuổi. Vị hành hương Trung Quốc này mô tả kiến trúc của các tinh xá và giảng đường với một lòng yêu mến và sự chính xác mà về sau các nhà khảo cổ phải thừa nhận là hoàn hảo. (**)

Đó là năm 637, khi Huyền Trang đến Nalanda và thưa với Giới Hiền: “Con từ Trung Quốc đến và xin Ngài chỉ dạy triết lý Duy thức”. Giới Hiền khóc vì mừng rỡ và kể Huyền Trang nghe cách đây không lâu ông đã bị bệnh tưởng mình sắp chết. Đêm nọ ông nằm mơ thấy ba vị bồ tát hiện đến, mặc bà màu áo khác nhau, vị mặc áo vàng, vị áo xanh thẫm, vị kia mặc áo trắng. Đó là ba vị Văn Thù, Quán Thế Âm và Di Lặc, và họ chỉ thị cho Giới Hiền phải sống tiếp và đợi một người từ Trung Quốc tới để mà giảng dạy. Nơi đây Huyền Trang đã được truyền thừa trực tiếp triết học Duy thức, đã truyền từ Vô Trước, Thế Thân cho đến Trần Na, Hộ Pháp, và học trò của Hộ Pháp chính là Giới Hiền. (**)




“Chúng tôi tin rằng Aryabhata là người đầu tiên áp dụng số không làm chữ số, một khái niệm mang tính cách mạng, giúp đơn giản hóa các phép tính toán học và giúp phát triển các hướng phức tạp hơn như đại số và phép tính vi phân. Nếu không có số không, chúng ta sẽ không có máy tính. Ông cũng đã thực hiện các công trình tiên phong trong việc trích xuất căn bậc hai và căn bậc ba, và các ứng dụng của các hàm lượng giác vào hình học cầu. Ông cũng là người đầu tiên quy ánh sáng của mặt trăng cho ánh sáng mặt trời phản chiếu”.

Thì ra Nalanda là quê hương của hai trường phái vĩ đại của Phật giáo là Trung quán tông và Duy thức tông, một nói về tính, một về tướng. Chẳng đâu khác, đó chính là nguồn gốc của triết học Phật giáo đại thừa mà ngày nay nó đã lan tỏa khắp thế giới, trong đó Việt Nam cũng đã tiếp thu.
Đây là nơi hàng chục ngàn người đã từng cầu nguyện và học tập, hàng chục thế hệ của thánh nhân đã từng giáo hóa, ánh sáng minh triết Phật giáo đã từ đây chiếu khắp bốn phương. Biết bao phép lạ đã xảy ra nơi đây, hỡi các cành cây ngọn cỏ đang rung rinh trong gió. (**)

Tịch Thiên (Santideva), một cao tăng thuộc phái Trung Luận sống khoảng thế kỷ thứ 7, 8. Tương truyền ông là một vương tử nhưng thụ giới tỉ kheo và đến Nalanda học tập. Thế nhưng khi đồng môn chăm chỉ học hành thì ông chỉ biết ngủ. Nalanda lúc đó là một học viện rất nghiêm khắc, đúng như Huyền Trang kể:
“.. cả ngày các vị luôn luôn biện luận. Những ai không thể biện luận về kinh điển đều không được kính trọng và phải lẩn tránh vì xấu hổ…” Thế nhưng Tịch Thiên cũng chẳng chịu lẩn tránh và đồng môn dự định sẽ bêu xấu ông là “lười biếng” để ông phải bỏ viện ra đi. Tới ngày bị thử thách, ông lên giảng đường, tuyên bố sẽ giảng một bộ luận mới và sau đó tụng đọc tập Nhập bồ đề hành luận (Bodhicaryavatara). Đến chương thứ chín, người ông bắt đầu bay lên khỏi ghế, lơ lửng trên không và qua chương cuối thì đồng môn chỉ còn nghe tiếng ông nói, thân ông biến mất.
Về sau Tịch Thiên từ chối chức viện trưởng để vào rừng làm thợ săn. Bị chê trách phạm lỗi sát sanh, ông dùng thần thông cho thú vật sống lại và nói bài kệ:
Con nai trên bàn ăn,
chưa hề sống hề chết,
chẳng bao giờ vắng bóng.
Đã không gì là Ngã,
sao lại có thợ săn,
hay thịt của thú rừng?
Ôi người đời đáng thương,
mà các ngươi lại gọi,
ta là kẻ “lười biếng”.
Ngày nay Nhập bồ đề hành luận là kinh sách giáo khoa của Phật giáo Tây Tạng và cách hành xử của Tịch Thiên được dân chúng nơi đó yêu thích truyền tụng. (**)


Hơn tám thế kỷ sau khi Nalanda bị tàn lụi, một số học giả vẫn phản bác lại lý thuyết phổ biến cho rằng Nalanda bị phá hủy vì Khilji và quân lính của ông cảm thấy giáo lý của nơi này cạnh tranh với Hồi giáo. Trong khi việc nhổ tận gốc Phật giáo có thể là động lực thúc đẩy cuộc tấn công, một trong những nhà khảo cổ học tiên phong của Ấn Độ, HD Sankaliya, đã viết trong cuốn sách xuất bản năm 1934 của ông, Đại học Nalanda, rằng vẻ ngoài giống như pháo đài của khuôn viên trường và những câu chuyện về sự giàu có của nơi này đã đủ lý do để những kẻ xâm lược coi trường đại học này là một địa điểm béo bở để tấn công.

Nalanda không phải mới bị tấn công lần đầu, trường đã từng bị quân Huns dưới sự lãnh đạo của Mihirkula tấn công vào thế kỷ thứ 5, rồi một lần nữa bị gây hư hại nghiêm trọng vì cuộc tấn công khác vào thế kỷ 8 bởi cuộc xâm lăng của Gauda king xứ Bengal.

Trong khi người Huns đến để cướp bóc, thật khó để kết luận liệu cuộc tấn công thứ hai của Vua Bengal có phải là kết quả của sự đối kháng ngày càng tăng giữa giáo phái Hindu Shaivite của họ và Phật tử vào thời điểm đó hay không. Trong cả hai lần, các tòa nhà đã được khôi phục và các cơ sở đã được mở rộng sau các cuộc tấn công với sự giúp đỡ của sự bảo trợ của hoàng gia từ những người cai trị.

Vào thời điểm quân Khilji xâm chiếm ngôi đền học thuật linh thiêng này, Phật giáo đã suy tàn ở Ấn Độ rồi. Với sự suy thoái nội tại, cùng với sự suy tàn của triều đại Phật giáo Pala đã bảo trợ cho trường đại học kể từ thế kỷ thứ 8 sau Công nguyên, cuộc xâm lược thứ ba là đòn chí tử cuối cùng”.
Sau Tịch Thiên vài trăm năm, cuối thế kỷ thứ 12, Nalanda bị xóa tên trên xứ Ấn Độ. Có một đạo quân mang tên một giáo phái đã đến đây hủy diệt Nalanda và cả xứ Ma Kiệt Đà. Mọi sự vật khi lên đến đỉnh cao của nó đều trở về với sự suy tận, đó là qui luật bất di bất dịch, Nalanda cũng không tránh khỏi. Thế nhưng nơi đây ta có thể tự hỏi phải chăng một trong những nguyên nhân của sự suy tàn quá sớm của đạo Phật tại Ấn Độ là sự tập trung cao độ tại Nalanda, sự tập họp có tổ chức của tôn giáo thành những định chế có tính cách tăng lữ, nhất là lại được các vương triều ra sức hỗ trợ. Đó là những nhân tố làm Phật giáo vướng vào quyền lực và chính trị, chúng là mầm mống của mọi tranh chấp và thảm họa. (**)


Huyền Trang ở lại đây 15 tháng để học tập và về sau hoàn thành bộ Thành Duy thức luận (Vijjaptimatratasiddhi), tổng kết mười vị đại luận sư (Thập đại luận sư: Thân Thắng, Hỏa Biện, Đức Huệ, An Huệ, Nan Đà, Tịnh Nguyệt, Hộ Pháp, Thắng Tử, Thắng Hữu, Trí Nguyệt) của Duy thức tông, mà nói như Grousset là “tổng kết 700 năm tư tưởng Ấn Độ”. (**).






Vật tráng tắc lão, Thị vị bất đạo, Bất Đạo tảo dĩ
“Vật mạnh lớn ắt già, Ấy là trái Đạo, Trái Đạo mất sớm.” (Nguyễn Duy Cần dịch) (**)
(*) Wikipedia tiếng Việt
(**) Mùi Hương Trầm – Nguyễn Tường Bách










Thảo luận
Không có bình luận