
Năm nay là năm con cọp, mà không nói chuyện cọp hú, thì thấy chừng như có gì thiếu sót. Chẳng khác gì các cô sắm thức ăn Tết, mà quên món “bánh của dân tộc” là bánh tét vậy.
Năm ấy, chúng tôi ở Côn Lôn, mà bị cấm cố, nghĩa là không được món quà gì hết, đến ra sân hưởng không khí cũng không được. Nhưng đã là người Việt Nam, mà gặp dịp Tết mà không ăn Tết, thì nghe đâu như mình đã hoá ra kẻ vong bản. Thế nên trong khám riêng của tôi, vài anh em ăn Tết với nhau… bằng tưởng tượng.
Thay vì quà bánh, chúng tôi có lối riêng, là nhờ một anh kể ra một món ăn trân mỹ nào đó, từ lúc bắt con thịt, làm cách nào, xào nấu làm sao, gia vị cách nào và dọn theo kiểu nào. Nói nghe mà thêm nhểu nước miếng. Hay nhất là chỗ nầy, trong lúc nói, anh hứng quá, thành ra anh kể nhiều món tỉ mỉ, mà thật ra anh chưa từng thấy bao giờ, và có lẽ miệng anh nói, lỗ tai anh nghe cũng rất thú vị như những người khác.
Mà ăn Tết, lại không có một số báo mùa xuân đọc giải trí, thì sao dám gọi là ăn Tết? Chúng tôi ở vào cảnh tù, thiếu thốn mọi bề, thì tấm lòng không khác nào trẻ con nên bốn năm. Nó không có con ngựa cỡi chơi à? Thì có khó gì? Nó cặp một khúc sậy vào giữa hai chân, tay cầm cương, tay quất phía sau, miệng hự hẹ om sòm, thì con ngựa cũng chạy vậy. Và cũng chưa chắc gì người cỡi ngựa thiệt được sung sướng hơn nó cỡi con ngựa tưởng tượng của nó đa, các ông các bà ạ! Còn chúng tôi không có một tập báo mùa xuân với những bài của những ngọn bút có tài, thì chúng tôi xuất bản miệng tờ báo xuân tưởng tượng.
Nếu các món quà bánh có thể không ngon bằng các thứ ăn thiệt, thì độc giả nên tin rằng “tờ báo miệng” của chúng tôi hay lắm. Các bạn đồng nghiệp nếu không bằng lòng lời phê phán của tôi, rất khó mà chứng minh rằng họ có tài hơn bọn tù chúng tôi. Bởi họ viết thì cái nhảm nhí còn đó, mà tờ báo miệng của chúng tôi nghe qua rồi, bay mất chỉ để lại một kỷ niệm đẹp đẽ mà thôi. Và sau đây là bài “Cọp hú” của một anh bạn gốc ở Cà Mau. Độc giả chớ quên rằng vì là báo miệng nên thỉnh thoảng có kẻ xen vô cãi.
° ° °
Mấy anh có biết cọp hú là cái gì không? Nếu không, thì về sau, có mở miệng mà thề, thà thề cái gì còn có cơ tránh được, chớ đừng thề cọp hú nhé!
Hồi xưa có một người nọ tánh hay mèo chuột, nên khi đi ra Huế để thi, thì vợ gọi vào buồng nói thỏ thẻ rằng :
“Tôi nghe đồn các cô gái Huế vừa đẹp vừa đa tình, đến đỗi ca dao có câu:
Học trò ở Quảng ra thi,
Thấy cô gái Huế ra đi không đành.
Nay mình ra Huế, mình thề với tôi đi, thề rằng mình sẽ luôn luôn trung thành với vợ.”
Anh chàng nầy vốn biết tánh mình, nên chọn một lời thề, mà chàng cho là ít độc địa hơn hết, để thề cho vợ tin, hầu đi cho mau mà hưởng thú vị của sông Hương với bao nhiêu mỹ nữ gieo những giọng mê hồn trên mặt nước lờ đờ. Thế là anh ta thề:
“Tôi mà không trung thành với mình thì cọp hú.”
Trong trí chàng ta tưởng rằng dầu cọp có hú, mình có nghe mà không đến, thì lại có hề hống gì mà sợ? Còn bà vợ gốc người Khánh Hoà, là nơi cọp nhiều có tiếng, nghe lời thề độc địa như vậy, nên vui lòng cho anh ra đi “lập chữ công danh”. Anh ấy cũng lập chữ công danh vậy. Nhưng là chuyện phụ thuộc, còn việc chánh là anh đã để bao nhiêu thì giờ, tiền bạc và tâm trí, để thí nghiệm xem câu ca dao mà vợ vừa nhắc đó có quả như vậy chăng?
Trong mười lăm năm, hai vợ chồng anh ta sống ở các thành thị lớn, nên lời thề kia chưa có dịp ứng nghiệm được…
Nói đến đây một thính giả xen vào cãi:
“Mầy là duy vật, mà tin chuyện dị đoan nữa à?”
Mấy bạn khác chặn lại:
“Để nó nói hết cho mà nghe. Ai biểu mầy phải tin. Nghe cốt là tìm cái thú vị thôi, chớ nó có duy tâm hay duy vật gì trong câu chuyện hoang đường.”
Người nọ yên lặng ngồi, để nghe kể tiếp.
Một hôm kia, bà vợ về Khánh Hoà thăm quê nhà, rủi bị cọp bắt ăn đi, thì bữa sau, ứng mộng liền cho chồng mà nói rằng :
“Hôm kia tôi mới bị cọp bắt ăn, thành cái cô hồn thứ chín mươi tám của con cọp đó. Nếu nó ăn được thêm hai mạng người nữa, thì nó thành con hùm xám, đã dữ dằn, lại hú được. Hồi đó mình có thề láo với tôi rằng khi ra Huế, mình sẽ trung thành với tôi, không thì bị cọp hú. Bấy lâu nay, tôi tưởng là mình giữ lời hứa, nào dè nghe bọn cô hồn ấy nói chuyện, tôi mới hay rằng mình mắc lời thề.”
Chàng ta nghe nói như vậy, sợ hãi hỏi:
“Bọn cô hồn ấy nói cái gì?”
“Khi hồn tôi vừa lìa khỏi xác, thì tôi thấy chín mươi bảy cái hồn khác đương nhảy múa reo mừng rằng: ‘Được một nữa rồi, còn thêm hai, thì cọp nầy thành hùm xám, rồi nó sẽ hú thằng cha gạt vợ cho mình coi chơi!’ Tôi nghe lấy làm lạ hỏi chúng nó, thì bọn cô hồn ấy bảo: ‘Lời thề cọp hú độc địa lắm, nên không ai dám mở miệng mà thề: mà rủi có nói lỡ, thì lại rán giữ đừng cho mắc vào. Thành ra từ xưa tới giờ chưa có ai bị cọp hú lần nào cho biết. Lần nầy lại được xem thì thích lắm!’”
Dừng lại một chút, để nhìn chồng với vẻ mặt thương hại, bà vợ nói tiếp :
“Ban đầu tôi giận mình lắm!”
Anh chồng ngạc nhiên hỏi:
“Làm gì mà giận?”
“Tôi giận mình sao có lén tôi mà đi mèo chuột, đến nỗi mắc lời thề. Tôi muốn để mặc kệ cho cọp nó hú mình, tôi coi chơi cho đã hư.”
“Chuyện đã mười lăm mười bảy năm mà còn ghen nỗi gì?”
“Mình không biết tánh của đàn bà sao? Chuyện bóng chuyện gió còn ghen được, huống chi là chuyện thiệt, dầu nó cũ mười mấy năm…”
Anh chàng nghe nói buồn dàu dàu, thì vợ nói tiếp:
“Nhưng tôi nghĩ lại. Người không bị cọp hú mà chỉ bị ăn suông, thì về sau còn khỏi cái kiếp bị cọp ăn. Chớ bây giờ mình bị cọp hú một lần rồi, thì sau đời đời kiếp kiếp, mình sẽ làm người bị cọp hú và ăn thịt.”
Nghe nói vậy chàng ta hoảng hốt, trách mình sao có quá ham vui mà mắc phải lời thề độc địa như vậy. Vợ lại nói thêm:
“Mà khổ là mỗi lần bị cọp ăn như vậy, nào phải như người thường bị ăn đâu! Cọp nó hú lên, rồi mình làm cái trò gì lạ lùng cho đến đỗi, bao nhiêu cô hồn còn nán lại xem cho thoả con mắt một lần cho biết…”
Nghe thuật chuyện đến đây, một người gọi nhỏ bạn ngồi kế bên nói:
“Mầy cũng hảo ngọt: đó, thấy chưa? Nhớ đừng thề với mấy lời thề cọp hú nghe!”
“Chuyện dị đoan như Liêu trai chí dị, hơi đâu mà tin, mà sợ.”
Mấy người kia xì xịt:
“Nín mà nghe có được không?”
Người thuật nói tiếp:
Nhưng mà hồn vợ anh nọ cũng lành, nên lần lần thương hại chồng và nói rằng:
“Bây giờ tôi nghĩ có kế nầy, hoạ may cứu mình được. Việc thứ nhất là hai cha con mình dắt nhau đến Bình Định mà tìm ông Đào Duy Quân. Ông đó là cháu tám đời của ông Đào Duy Hiến, là thầy dạy nghề văn nghiệp võ cho Nguyễn Huệ thuở trước. Ông còn giữ lắm ngón bí truyền của tổ tiên. Hai cha con rán năn nỉ khóc lóc, để nhờ ông truyền chút ít nghề mà giữ mình. Mình già yếu rồi, đi đâu phải dắt con theo, rủi cọp có hú, thì vừa mình đỡ, vừa con chống cự, hoạ may cọp không làm gì được. Còn phần tôi, tôi sẽ chịu khổ, luôn luôn mách trước cho người ta hay; để cho con cọp đã ăn tôi, lại không thể ăn thịt hai mạng nữa. Thế là nó chưa ăn đủ số trăm mạng tức là chưa thành hùm xám, thì nó không thể hú mình được.”
Tỉnh giấc dậy, chàng ta nhớ lời vợ dặn, sợ quá. Và gọi con lại mà tính đi học nghề võ. Bởi con va là con gái; nên va giấu việc lời thề nọ, mà chỉ nói rằng vợ về mách rằng có huông cọp ăn nên phải đề phòng. Khi đến Bình Định, tìm phủ Tuy Viễn mà hỏi thăm thì quả có ông già tám mươi tuổi tên là Đào Duy Quân, làm nghề thầy thuốc, chớ không phải là thầy nghề võ. Tìm mãi chẳng có ai khác, mà không lẽ lời vợ ứng mộng lại không linh, anh ta mới dắt con tới ông già, khóc lóc, mà xin cứu mạng. Ông già động lòng hỏi có bịnh gì, thì hắn ta mới kể chuyện có huông cọp ăn, vợ ứng mộng bảo đến cầu học mà giữ mình.
Ông thầy thuốc mới nói thiệt rằng tổ tiên mình đã truyền lắm ngón hay, nhưng căn dặn rằng: “Chớ dạy cho kẻ khác, họ dùng đó mà làm nghề ăn cướp. Cứ giữ ngón bí truyền của nhà, dành đó cho những vị anh hùng nào như Nguyễn Huệ mà dạy tần tình cho, hầu cứu dân giúp nước. Nếu không nghe lời mà truyền cho những kẻ không lương tâm, thì sẽ bị cọp hú.” Hắn ta nghe nói khóc lóc năn nỉ rằng:
“Tôi học đây, chỉ để giữ mình thôi. Nếu hai cha con tôi không giữ bí truyền của thầy, thì sẽ bị cọp hú nữa!”
Ông già thấy thề độc địa như vậy, nên cũng dạy cho tất nhiên không hết nghề của mình, nhưng đủ sức một mình đánh nổi ba con cọp vậy.
Mọi việc tưởng đã êm rồi, không dè đêm nọ hắn ta chiêm bao, thấy vợ về nữa, mà chuyến nấy có vẽ lo sợ, buồn thảm lắm. Hắn ta hỏi, thì bà vợ đáp:
“Lâu nay, tôi lén bọn cô hồn mà đi báo trước cho người ta hay cọp đến để trốn. Không dè, sau bọn cô hồn chia nhau mà canh tôi, giữ tôi lại không cho làm như vậy nữa. Thành ra con cọp đã ăn được thêm hai mạng người. Nó đã thành hùm xám rồi. Chín mươi chín cô hồn kia giục nó bỏ rừng Khánh Hoà, mà đi tìm mình, để hú mình cho chúng nó xem chơi. Chúng nó lại biết rằng hai cha con mình học võ giỏi lắm, nên cứ bảo nhau: ‘Chuyến nầy vừa coi được một trận đấu võ tuyệt trần lại thêm được một cuộc cọp hú nữa!’ Tôi lo quá, lén đến trước cho mình hay. Không thể nào trốn được việc cọp hú đâu, dầu là mình giỏi nghề võ. Trốn đi thì hơn.”
Giựt mình dậy, chàng ta đổ mồ hôi hột. Trốn đâu bây giờ? Từ Khánh Hoà thẳng tới bên Tàu, rừng núi liên tiếp, thì ở đâu con hùm xám cũng tới được. Nếu bây giờ xin đổi qua miền Hậu Giang, thì hoạ may nhờ sông Cửu Long rộng ba bốn ngàn thước nó ngăn cách, hùm xám đến không được chăng. Nghĩ vậy chàng ta xin phép đổi, và được đi Cà Mau; không dám đi đường bộ, chàng ta đi tàu vào Sài Gòn, rồi từ Sài Gòn đi tàu thẳng tới sở.
Hắn ta làm sở dây thép, ở tại sở chật hẹp. Vậy mà đứa con năm nay mười chín tuổi rồi, hắn chỉ bằng lòng gả ở mà thôi. Cô ấy không đến đỗi đẹp lắm, mà hắn ta không giàu gì, thì có cậu nào đến đỗi bằng lòng ở rể nơi nhà cửa chật hẹp của sở đâu! Hắn thấy cũng tội nghiệp con, nhưng an ủi rằng:
“Thôi con rán giữ giùm cho cha đến già, chết cái chết tốt một chút.”
Một hôm hai cha con có việc đi Khánh An, thì trên đường vắng, nghe mùi tanh tanh ở đâu đưa lại. Cọp rồi! Bỗng nghe tiếng người ta nói ồn ào, như giữa chợ, nhưng chẳng có ai hết. Mà từ trong bụi, nhảy ra một con cọp to như con bò, lông lá xám hết. Hắn ta sợ hết hồn la lên:
“Hùm xám!”
Con cọp hự một cái, gật đầu, rồi bỏ bộ ngồi xuống, chậm rãi liếm râu, nhích mép như là cười mỉm chi, chứ không nhảy tới vồ.
Đứa con gái lật đật kéo vạt áo dài mà quấn chung quanh lưng, nhét mối cẩn thận cho gọn để giữ chừng, rồi nói:
“Cha tháo lui để cho con cản nó.”
Hắn ta nghe lời lùi lần. Cọp thấy vậy nhảy phóng tới, đưa móng để chụp. Thì cô gái lẹ chân đá ngang hông cọp. Con cọp té nhào một bên không chụp được. Cọp vừa đau, vừa tức mình, con mắt đỏ như lửa, hự hẹ om sòm. Còn đàng kia hắn ta co giò chạy như bay, có mấy phút đã xa lắc. Bỗng từ đâu không biết, tiếng người ta nổi lên ồn ào, mà chẳng thấy một tâm dạng ai. Thì con hùm xám hình như nghe, cười hắt hắt lên, ngồi lại đàng hoàng, cất tiếng hú to nghe rùng mình. Chàng kia chạy đã xa rồi nghe tiếng hú, quay đầu lại cất tiếng cười dòn dã, rồi trở lại, bộ mặt hân hoan lắm. Đứa con gái hỏi:
“Sao cha không chạy cho xa, còn lại đây làm chi nữa?”
Hắn ta không đáp lại, cười khanh khách, chạy nhào đến chỗ cọp ngồi. Đứa con hoảng hồn, nhảy tới vận quyền mà thoi vào mặt cọp, để nó hoảng chạy đi mà đừng có thì giờ bắt cha nàng, thế là cọp và nàng ấy đấu nhau. Cọp đấu không lại, nhảy ra vòng ngoài. Thì nàng ấy lại kéo cha đi. Nhưng anh ta vừa lách vừa cười, cứ nhằm con cọp mà xốc tới. Nàng ấy cản lại không được, nên cứ phải rượt theo đánh đuổi con cọp. Cọp thua chạy, thì hắn ta cũng chạy theo, bộ tịch mừng rỡ lắm. Đứa con không biết làm sao.
Có người xen vào hỏi:
“Tại sao cô ấy không bắt cọp quách đi cho rồi?”
Bộ cọp dễ bắt lắm sao chớ? Bởi vậy cứ giằng co như vậy mãi. Bỗng đâu tiếng ồn ào nổi lên nữa. Cọp liền hú nữa, thì hắn ta gật đầu, đắc chí lắm, dùng miếng lưỡng long quá hải mà thoi ngay vào mặt con gái mình hai quả đấm một lượt. Đứa con lật đật đỡ rồi chạy, không dám đánh lại cha. Bây giờ mới khổ cho cô ta. Vừa con hùm xám, vừa cha nàng xông đến mà cự với nàng. Đối với con hùm xám nàng thoi đá tưng bừng mà đối với cha, nàng chỉ có nước tránh đòn mà thôi. Lẽ tất nhiên nàng phải thua, nhảy ra ngoài mà thở. Thì cọp hú một tiếng nữa. Hắn ta ríu ríu nhảy vào lòng cọp, để cho cọp móc họng.
Cứu cha không kịp, người con gái chỉ còn lại một nước là đánh đuổi con cọp để giành cái xác đem về. Nhưng lạ thay, con cọp cứ lẽo đẽo theo chực cướp lại. Và tuy hắn ta đã chết, song mỗi lần cọp hú, thì cười sặc sặc và có ý trì lại, không để cho con kéo đi.
Rê một cái xác khó nết như vậy, mà còn phải cự với con hùm xám to tướng kia, thì cô ta xem chừng không kham. Nên cô ta cố sức đánh lui con cọp, rồi bứt dây rừng cột thúc kẻ ông già lại, treo tòn ten trên cây cao, khỏi mặt đất mấy chục thước cho cọp nhảy không tới. Rồi cô về xóm, gọi người lực lưỡng, hèo gậy đàng hoàng thật đông, để cự với cọp và đem xác cha về. Khi ra đến nơi, ai cũng lấy làm lạ mà thấy rằng dưới nầy, cọp đi qua đi lại, nhìn lên mà hú, thì ở trên lão ấy nhào qua lộn lại giữa không trung cười dòn dã, như muốn cỡi dây xuống giỡn với cọp mà không được…
Khi đuổi con hùm xám đi rồi, ai nấy giúp sức đem cái xác kia về chôn cất tử tế. Thì tối lại nghe mùi hôi tanh của cọp và tiếng hú rùng rợn, tiếng cười dòn dã, tiếng reo hò như của hàng trăm người hoan nghinh một việc gì. Nhưng đêm tối chẳng ai dám ra. Riêng cô con gái nghi là hùm xám đến quật mồ của cha mình để ăn xác, nên đánh liều gọi người ta đốt đuốc sáng giúp cho. Và cô xông ra một mình. Nhưng trễ quá, cọp đã ăn hết thịt và đương gặm bộ xương. Cô xông tới đánh cọp, cọp thua chạy đi. Cô cướp được bộ xương đem vào.
Hàng xóm sáng đến xem, thì không có dấu cọp moi. Hùm xám chỉ hú một cái, là hắn ta tung mồ lên nạp mạng. Có mấy ông già biết chuyện mới dạy:
“Cha cô hồi trước chắc có thề cọp hú, mà không giữ, nên mới bị như vậy. Và có đầu thai mấy ngàn đời thì vẫn bị cọp hú. Tội nghiệp thì thôi! Tốt hơn là đừng cho ông ấy đầu thai nữa. Chớ đi đầu thai, mà mỗi lần đều bị cọp ăn như vậy thì thảm biết chừng nào!”
Cô nọ mới hỏi:
“Làm sao đừng cho hồn cha tôi đi đầu thai được?”
Ông già đáp:
“Bây giờ cô thiêu hết bộ xương nầy đựng vào cái lọ nhỏ, đem vào chùa nào có hoà thượng giỏi, dùng phép ngũ hành của Phật mà nhốt hồn lại. Tài biến hoá như Tôn Hành Giả mà thoát ra còn không được kia!”
Cô ta nghe lời làm y theo.
Từ ấy trong rừng có tiếng cọp hú, thì trong bình có tiếng cười dòn dã rồi cái bình lúc lắc như muốn đi. Ông hoà thượng phải lật đật tụng một phi kinh Kim Cang, mới êm được.
Đó chuyện cọp hú vậy đó!
Thuật xong thì anh chàng khi nãy nói:
“Chuyện dị đoan mà, làm gì có!”
Người kể chuyện đáp:
“Nếu hiểu nghĩa đen, thì hẳn là không có. Nhưng nếu xem câu chuyện vừa kể đây là một bài văn tượng trưng thì trong đời thiếu chi kẻ bị cọp hú ríu ríu vâng lời kẻ thù nghịch mà thù nghịch lại dòng họ mình… Những kẻ nông nổi, những kẻ không biết văn chương là cái quái gì, mới dám nói tôi nói chuyện dị đoan…”
(Sài Gòn Mới, số xuân Canh Dần)
Đọc lời tựa của Hồ Hữu Tường, mở đầu cho tập “chuyện kể” do Huệ Minh xuất bản năm 1965.
Vào thế hệ của tôi, nhất là ở nơi cái xứ thuộc địa Nam kỳ, mà viết được tiếng mẹ, thật là một việc khá hiếm. Trong số khá hiếm nầy, số lớn nhờ cha anh đỡ đầu, như ông bạn già Đông Hồ; số nhỏ hơn nhờ gặp thuận cảnh mà tự học, như anh bạn quá cố Phan Văn Hùm. Sanh trong một gia đình nông dân nghèo, chẳng nhờ cha anh đỡ đầu, lớn lên, mặc dầu bạn tôi, anh Phan Văn Hùm, khuyến khích và chịu khó năn nỉ dạy không công cho tôi viết văn, tôi lại lười biếng. Thế mà tôi cũng được xem là có chân trong làng văn. Việc tuy lạ, song có nguyên nhân của nó. Bởi vì tôi học làm văn từ thuở bé tí hon, moi trong ký ức, có thể nói ngay từ lúc biết nghe, biết hiểu mà nói chưa rành.
Giáo sư dạy văn chương cho tôi là chị tôi, ngày ngày ầu ơ mấy lần để ru cho tôi ngủ; là mấy người chèo ghe bơi xuồng trong rạch, đêm đêm đối đáp nhau bằng những câu hát, bài ca; là tía tôi, một nông dân nghiêm nghị, đoan trang nhưng tài nói tiếu lâm tôi chưa gặp ai ăn đứt nổi, là mấy chú “Huế” theo ghe bầu đem cái giọng lớ lớ của đàng ngoài vào; là công gặt, công đập, khi nghỉ trưa đãi lẫn nhau một vài chầu trào phúng; là công thợ làm việc cho chủ đất tôi; và khi tôi biết đọc, là thơ, tuồng, truyện. Những giáo sư ấy tạo cho tôi có một sắc thái riêng biệt. Anh Hùm khuyên tôi học làm văn, để có thể “làm văn hào”. Tôi không cần cái danh dự văn hào, bởi tôi mến tiếc cái bản sắc nông dân của tôi. Đọc tiểu thuyết hay của các nước, tôi rất hiểu tiểu thuyết, mà chỉ bám vào lối văn “kể chuyện”. Triều Sơn thường phê bình tôi: “Óc tưởng tượng anh phong phú lắm. Anh mà rán lên, viết tiểu thuyết được, thì nước Việt Nam có thể đếm anh là một Dostoievsky hay một Tolstoi” Tôi không đáp. Tôi nhường danh dự làm Dostoievsky, làm Tolstoi lại cho người khác. Tôi chỉ muốn “kể chuyện” cho hoang đường, cho hóm hỉnh cho trào phúng và cho quê mùa, như những giáo sư văn chương của tôi mà thôi. Con nhà trăm anh thế phiệt, ông, bác, cha, anh thảy đều khoa hoạn, thì viết văn điêu luyện như Nguyễn Du, việc ấy hợp lý hợp tình. Con nhà nông như tôi, mà viết văn nông dân, việc ấy cũng hợp lý, hợp tình nữa.
Con vua, thì đặng làm vua,
Con sãi ở chùa thì quét lá đa.
Có cái văn tâm như thế, nên trong chín năm theo chủ nghĩa Mác–Lê, giáo điều của chủ nghĩa nầy dạy phải viết theo đường lối của “tả chân xã hội” (realisme socialiste), thà tôi nhịn viết văn, chớ tôi không chịu phản lại giai cấp của tôi. Trong cuộc tranh biện về “nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sanh” (1935), tôi đứng ngoài, vì trận thế lúc ấy không cho phép tôi binh vực thứ văn chương mà tôi mến. Cái văn tâm như thế đem những văn tứ “cổ điển” lại. Chuyện “ma”, chuyện thần tiên, chuyện hoang đường, chuyện tiếu lâm châm biếm… “cổ điển” là cổ điển của thứ văn chương nông dân ta vào thế hệ của tôi.
Về chuyện ma, kỷ niệm của tôi là kỷ niệm chung của tất cả, tất cả trẻ con Việt ở nhà quê. Một đêm tối om, bên cạnh ngọn đèn dầu leo lét, ba bốn người ngồi mà nghe kể chuyện, một thằng nhỏ giỏng tai nghe. Một lát nó nhảy vào giữa, run sợ. Mà càng run, thì nó càng có lý thú. Nhà văn gốc ở nhà quê, là Sơn Nam, có lẽ cũng có cái kỷ niệm ấy. Thế mà, vào nhà trường, học khoa học của Tây phương, thầy cấm đứa nhỏ ấy tin chuyện ma, cho đó là dị đoan. Năm 1924, học nội trú tại Cần Thơ, tôi ấm ức không được đi xem ma hiện về nhà của một ông giáo sư trung học dạy về khoa học. Chúng bạn đi xem rần rần, sáng vô lớp kể nhau chẳng ngớt những chi tiết của việc ma về. Ông giáo sư ấy nay còn sống và vẫn ở tại Cần Thơ. Ai có học trường trung học ở tỉnh lỵ nầy đều biết ông: Nguyễn Văn Trọng. Khi nhập vào chủ nghĩa Mác–Lê, thì giáo điều của duy vật luận biện chứng pháp lại càng nghiêm khắc với chuyện ma hơn nữa. Thế mà, sự thật lại khác hẳn. Năm 1932, nhà của một người bạn của Tạ Thu Thâu là trạng sư Blaquiere, ở đầu đường Taberd (nay là Nguyễn Du) xéo xéo Nhà thờ Lớn, lại có ma, dời bàn, khiêng ghế, dựng ván đứng lên, làm “trò khỉ” (mượn lời của cựu Thủ tướng Hương). Nhà Mácxít Tạ Thu Thâu tức quá, luôn ba đêm đến đó ngủ, để nghiên cứu bọn ma có quyền lực gì, mà làm cái công việc mười người lực lưỡng chưa chắc làm nổi… Nhưng mà quyền lợi của chủ nghĩa duy vật, mà chúng tôi đương vác cờ, không cho phép chúng tôi nói đến… Ít nữa là trước công chúng.
Năm 1930, tôi rời chủ nghĩa Mác–Lê. Ở tù bốn năm xong, tôi bị dời qua An Hải. Tết năm ấy, có hiện tượng “ma dấu”. Người bị ma dấu là một “cộng sản duy vật”. Sống việc ma dấu nầy, gần hai trăm người, mà kẻ duy vật là tối đại đa số. Phần đông, nay là “lãnh tụ” cả (Người bị ma dấu, lúc tôi bị án tử hình, còn gặp lại tại Côn Sơn, sau khi anh ra hoạt động trong mười năm, rồi bị bắt lại). Ra tù, có cơ hội viết, tôi thuật chuyện ma dấu nầy, không phải để thuật chuyện ma, mà cốt để tuyên bố rằng “nhà văn nông dân”, bấy lâu nay bị ràng buộc bởi giáo điều Mác–Lê, nay đã cởi mở hoàn toàn. Đó là một tuyên ngôn. Vì vậy mà bài “Xuân An Hải” được đăng ở địa vị của nó trong tập nầy. Từ ấy mà tha hồ “kể chuyện”, hóm hỉnh, trào phúng, châm biếm. Độc giả ắt nhận thấy nơi mỗi bài cái sắc thái “chuyện tiếu lâm” mượn một cái tứ xa xôi mà công kích một chuyện trái cựa.
Bài “Cọp hú”, là một bài chửi vào mặt bọn ăn tiền thực dân mà vọng ngoại, trở lại đánh đập kẻ đồng huyết thống của mình. “Răng đen” có mục đích tố cáo sự láo dối của thực dân, đồng thời châm biếm tục nhuộm răng của đồng bào ở Bắc… Đến như những “Chuyện râu quặp”, thì thú thật, là những chuyện do tía tôi kể, để nhạo những ai lập trang mà thờ bà còn sống. Riêng có bài “Nàng mọt sách” là một câu chuyện thần tiên mà tôi xây dựng ra để ca tụng thú vui của kẻ sống trong “vạn quyền thơ lâu”.
Khi bạn thân của tôi, là anh Đông Hồ, cho ra tờ Nhân Loại, tôi có đem cái tứ của câu chuyện thần tiên nầy mà hiến cho bạn, để cho bạn mở một loạt bài “Tóm tắt mỗi kỳ một sách hay” và ký cái tên mới là Nàng Mọt Sách. Ngay trong số I (8-VI.1953) chị Mộng Tuyết, thất tiểu muội, đã kể lại cái tứ, và đánh dấu nguồn gốc của tứ bằng nhân vật Hồ Sinh. Văn của chị Mộng Tuyết rất điêu luyện, do đó mà mất sắc thái quê mùa, nên chỉ năm 1955, Hồ Sinh thuật lại trên mặt của Truyền Tin. Vậy nhờ Mõ Làng Văn rêu rao cho làng hay rằng, mười năm đã qua, chị Mộng Tuyết không kiện Hồ Sinh về tội “đạo tứ”, thì ngày sau, có ai buộc tội cho Hồ Sinh về “đạo văn”, thì oan cho Hồ Sinh lắm lắm.
Nay gom một mớ chuyện kể, đã in từ 1948 đến 1955 – rất tiếc là tôi không tìm lại được quyển sách con Quả trứng thần 1trong ấy còn chép nhiều truyện cổ tích thần tiên – mục đích của tôi là lập một cuộc lễ tạ ơn những vị giáo sư đã dạy tôi viết văn nhà quê, hoang đường, hóm hỉnh, trào lộng và châm biếm, đặc biệt của nông dân miền Tây vào đầu thế kỷ XX nầy.
Sài Gòn, I-VI-1965.
(Nguồn : vietmessenger.com)

Thảo luận
Không có bình luận